Thứ Hai, 20 tháng 1, 2014

Đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào Việt Nam.DOC

định thì doanh nghiệp hoàn toàn thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài và cũng do
họ quản lý toàn bộ.
Thứ ba: Kết quả thu được từ hoạt động kinh doanh của dự án được phân chia
cho các bên theo tỷ lệ góp vốn vào vốn pháp định sau khi nộp thuế cho nước sở tại và
trả lợi tức cổ phần (nếu có).
Thứ tư: FDI thường được thực hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệp mới,
mua lại toàn bộ hoặc từng phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc mua cổ phiếu để
thôn tính hoặc sát nhập các doanh nghiệp với nhau.
4. Vai trò của FDI
Với đặc điểm và các hình thức thực hiện cụ thể, FDI thể hiện vai trò cũng như
tác động rất khác nhau đối với nước đi đầu tư và nước tiếp nhận.
4.1. Xét trên giác độ nước đi đầu tư
4.1.1. Tác động tích cực
Đối với nước đi đầu tư, FDI có những tác động tích cực chủ yếu sau:
Trước hết, có thể đảm bảo hiệu quả của vốn FDI cao do chủ đầu tư nước ngoài
trực tiếp quản lý và điều hành dự án nên họ thường có trách nhiệm cao, thường đưa
ra những quyết định có lợi nhất cho họ.
Thứ hai: chủ đầu tư nước ngoài mở rộng được thị trường tiêu thụ sản phẩm
nguyên liệu, cả công nghệ và thiết bị trong khu vực và trên thế giới.
Tiếp đến là có thể nâng cao hiệu quả kinh tế của vốn FDI, tăng năng suất và thu
nhập quốc dân do giảm giá thành sản phẩm nhờ khai thác được nguồn lao động giá rẻ
hoặc gần nguồn nguyên liệu hoặc gần thị trường tiêu thụ sản phẩm. Ngoài ra thông
qua FDI chủ đầu tư nước ngoài xây dựng được các doanh nghiệp của mình nằm trong
lòng các nước thi hành chính sách bảo hộ, từ đó tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch
và phi mậu dịch của nước sở tại.
4.1.2 Tác động tiêu cực
Bên cạnh những tác động tích cực, FDI còn có thể đem lại cho nước đi đầu tư
những tác động tiêu cực, cụ thể như:
Một là: các quốc gia chủ nhà có xu hướng bị suy thoái, tụt hậu do các doanh
nghiệp lao mạnh ra nước ngoài đầu tư để tìm lợi khi chính phủ các nước đi đầu tư
đưa ra các chính sách không phù hợp, không khuyến khích được các doanh nghiệp
thực hiện đầu tư ở trong nước.
3
Hai là: đầu tư ra nước ngoài có nguy cơ bị nhiều rủi ro hơn trong nước, do đó
các doanh nghiệp này thường áp dụng các biện pháp khác nhau để phòng ngừa, hạn
chế rủi ro.
4.2. Đối với nước tiếp nhận đầu tư
Cũng giống như nước đi đầu tư, FDI tác động đến nước tiếp nhận đầu tư trên cả
2 phương diện tích cực và tiêu cực.
4.2.1. Tác động tích cực
FDI đem lại cho nước tiếp nhận đầu tư những tác động tích cực thể hiện trên
các mặt chủ yếu sau:
Trước hết : Tạo điều kiện khai thác được nhiều vốn từ bên ngoài do không quy
định mức góp vốn tối đa mà chỉ qui định mức tối thiểu cho các nhà đầu tư nước
ngoài.
Thứ hai: Tạo điều kiện tiếp thu kỹ thuật và công nghệ hiện đại, kinh nghiệm
quản lý kinh doanh của bên nước ngoài.
Thứ ba: Tạo điều kiện thuận lợi để khai thác tốt nhất các lợi thế của mình về tài
nguyên thiên nhiên, về vị trí địa lý…
Thứ tư: Tạo thêm việc làm, tăng tốc độ tăng trưởng của đối tượng bỏ vốn và
nền kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, nâng cao đời sống của nhân dân.
Ngoài ra FDI góp phần cải tạo cảnh quan xã hội, tăng năng suất và thu nhập
quốc dân và khuyến khích năng lực kinh doanh trong nước, tiếp cận với thị trường
nước ngoài.
4.2.2. Tác động tiêu cực
FDI đem lại cho nước tiếp nhận đầu tư rất nhiều tác động tích cực, song cùng
với đó FDI cũng mang lại một số tác động tiêu cực như sau:
Một là: Nếu không có một quy hoạch đầu tư cụ thể và khoa học, có thể đầu tư
tràn lan kém hiệu quả, tài nguyên bị khai thác bừa bãi và sẽ gây ra ô nhiễm môi
trường nghiêm trọng.
Hai là: Có thể nhận chuyển giao từ các nước đi đầu tư các công nghệ không phù
hợp với nền kinh tế trong nước, gây ô nhiễm môi trường.
Ba là: Các lĩnh vực và địa bàn đầu tư phụ thuộc vào sự lựa chọn của các nhà
đầu tư nước ngoài, mà nhiều khi nó không theo ý muốn của nước tiếp nhận. điều đó
cũng đồng nghĩa với việc chủ động trong bố trí cơ cấu đầu tư bị hạn chế.
4
Bốn là: Giảm số lượng doanh nghiệp trong nước, ảnh hưởng tới cán cân thanh
toán của nước nhận.
Ngoài ra FDI còn có thể đem lại những tác động tiêu cực khác như bị thua thiệt
do vấn đề giá chuyển nhượng nội bộ từ các công ty quốc tế (công ty xuyên quốc, đa
quốc gia), hoặc hiệu quả của hợp tác đầu tư kém do trình độ của đối tác nước tiếp
nhận thấp…
5. Các nhân tố ảnh hưởng tới thu hút FDI
5.1. Nhóm nhân tố thuộc về nước tiếp nhận đầu tư
5.1.1. Môi trường chính trị- xã hội
Sự ổn định của môi trường chính trị -xã hội của nước tiếp nhận đầu tư có ý
nghĩa quyết định đến việc huy động và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư, đặc biệt là
đầu tư nước ngoài, nếu môi trường chính trị không ổn định đặc biệt là thể chế chính
trị sẽ khiến lòng tin của các nhà đầu tư giảm sút do họ phải gánh chịu những thiệt
hại.Ngoài ra khi tình hình chính trị -xã hội không ổn định, nhà nước không đủ khả
năng kiểm soát hoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài, hậu quả là các nhà đầu tư
hoạt động không theo định hướng phát triển kinh tế -xã hội mà nước tiếp nhận đề ra,
do đó hiệu quả sử dụng vốn FDI rất thấp.
5.1.2. Môi trường kinh tế vĩ mô
Đây là điều kiện tiên quyết của mọi ý định và hành vi đầu tư và là điều đặc biệt
quan trọng đối với việc huy động và sử dụng vốn nước ngoài. Để thu hút được FDI,
nền kinh tế của nước tiếp nhận phải là nơi an toàn cho sự vận động của vốn đầu tư, là
nơi có khả năng sinh lời cao hơn các nơi khác. Hơn nữa môi trường kinh tế vĩ mô có
ổn định thì mới có điều kiện sử dụng tốt FDI.
5.1.3. Hệ thống luật pháp
Môi trường luật pháp là một yếu tố không thể không xem xét đối với hoạt động
FDI. Một hệ thống pháp luật đồng bộ, hoàn thiện và vận hành hữu hiệu là một trong
những yếu tố tạo nên môi trường kinh doanh thuận lợi, định hướng và hỗ trợ, tạo
niềm tin cho các nhà đầu tư nước ngoài.
5.1.4. Hệ thống cơ sở hạ tầng
Kết cấu hạ tầng của nước tiếp nhận đầu tư là cơ sở để thu hút FDI và cũng là
nhân tố thúc đẩy hoạt động FDI diễn ra nhanh chóng, có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả
của hoạt động FDI, do đó là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các nhà
đầu tư nước ngoài trước khi ra quyết định.
5
5.1.5. Trình độ của nước tiếp nhận
Nguồn lao động vừa là nhân tố để thu hút vừa là nhân tố sử dụng có hiệu quả
FDI bởi trình độ của con người quyết định khả năng hợp tác kinh doanh, năng suất
lao động,nếu trình độ lao động và quản lý của nước tiếp nhận cao nhà đầu tư nước
ngoài sẽ giảm bớt chi phí đào tạo cũng như thời gian đào tạo, hiệu quả của các dự án
đầu tư sẽ cao. Do đó sẽ thu hút được FDI.
5.1.6. Chính sách của nước tiếp nhận đối với FDI
Chính sách của nước tiếp nhận đối với FDI có tác động trực tiếp đến số lượng,
quy mô, cũng như đối tác của nguồn vốn FDI, nếu chính sách cởi mở, thuận lợi cho
các nhà đầu tư nước ngoài thì sẽ thu hút được một số lượng lớn các nhà đầu tư và
ngược lại chính sách không cởi mở sẽ là yếu tố ngăn cản các nhà đầu tư nước ngoài
thực hiện hoạt động FDI.
5.2. Nhân tố quốc tế
Trong nhóm nhân tố quốc tế thì nhân tố có ảnh hưởng rõ nét nhất đến thu hút
FDI là tình hình kinh tế- chính trị trong khu vực và trên thế giới.
Tình hình kinh tế -chính trị trong khu vực và trên thế giới tác động đến không
chỉ các nhà đầu tư đang tìm kiếm đối tác mà còn tới cả các dự án đang triển khai. Khi
môi trường kinh tế chính trị trong khu vực và thế giới ổn định, không có sự biến động
khủng hoảng thì các nhà đầu tư sẽ tập trung nguồn lực để đầu tư ra bên ngoài và các
nước tiếp nhận đầu tư có thể thu hút được nhiều vốn FDI. Ngược lại, khi có biến
động thì các nguồn đầu vào và đầu ra của các dự án thường thay đổi, các nhà đầu tư
gặp khó khăn rất nhiều về kinh tế nên ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả FDI, ngoài ra
nước chủ nhà phải thay đổi chính sách để phù hợp tình hình thực tế, các nhà đầu tư
nước ngoài mất thời gian tìm hiểu và thích nghi với sự thay đổi đó, đồng thời tình
hình của chính nước đầu tư cũng có thể bị ảnh hưởng nên họ phải tìm hướng đầu tư
mới dẫn đến có sự thay đổi chiến lược đầu tư nước ngoài của họ.
6
PHẦN II. THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA TRUNG
QUỐC VÀO VIỆT NAM THỜI GIAN QUA
1. Tổng quan về tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam thời
gian qua.
Năm 1987 trước tình hình quốc tế chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô tan vỡ,
các thế lực thù địch tìm cách chống phá Việt Nam và tình hình trong nước bị tàn phá
nặng nề bởi chiến tranh, nền kinh tế lạc hậu, lâm vào tình trạng sản xuất trì trệ, khủng
hoảng trầm trọng, để khôi phục và phát triển kinh tế nước ta đã chủ trương mở cửa
nền kinh tế, thực hiện công cuộc “đổi mới” toàn diện, trong đó có việc hoàn thiện,
nâng Điều Lệ Đầu tư năm 1977 thành Bộ Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm
1987. Sự ra đời của bộ Luật này đã tạo môi trường pháp lý để thu hút vốn FDI vào
Việt Nam, nhờ đó công cuộc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở nước ta đã đạt
được một số thành tựu đáng kể.
1.1. Giai đoạn 1988-1990
Trong 3 năm 1988-1990, mới thực thi Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt
Nam nên kết quả thu hút vốn FDI còn ít (214 dự án với tổng vốn đăng ký cấp mới 1,6
tỷ USD), FDI chưa tác động đến tình hình kinh tế-xã hội đất nước.
Thời kỳ này việc tăng vốn đầu tư hầu như chưa có do số lượng doanh nghiệp
đầu tư nước ngoài còn ít, quy mô vốn đầu tư đăng ký bình quân của một dự án đạt
11,6 triệu USD, và ngay từ khi ban hành Luật đầu tư nước ngoài năm 1987, nước ta
đã chú trọng thu hút FDI vào lĩnh vực công nghiệp- xây dựng.
1.2. Giai đoạn 1991-1996
Trong thời kỳ 1991-1995, vốn FDI đã tăng lên (1.409 dự án với tổng vốn đăng
ký cấp mới 18,3 tỷ USD) và có tác động tích cực đến tình hình kinh tế-xã hội đất
nước. Thời kỳ 1991-1996 được xem là thời kỳ “bùng nổ” FDI tại Việt Nam (có thể
coi như là “làn sóng FDI” đầu tiên vào Việt Nam) với 1.781 dự án được cấp phép có
tổng vốn đăng ký (gồm cả vốn cấp mới và tăng vốn) 28,3 tỷ USD. Đây là giai đoạn
mà môi trường đầu tư-kinh doanh tại Việt Nam đã bắt đầu hấp dẫn nhà đầu tư do chi
phí đầu tư-kinh doanh thấp so với một số nước trong khu vực; sẵn lực lượng lao động
với giá nhân công rẻ, thị trường mới, vì vậy FDI tăng trưởng nhanh chóng, có tác
động lan tỏa tới các thành phần kinh tế khác và đóng góp tích cực vào thực hiện các
mục tiêu kinh tế-xã hội của đất nước. Năm 1995 thu hút được 6,6 tỷ USD vốn đăng
7
ký, tăng gấp 5,5 lần năm 1991 (1,2 tỷ USD). Năm 1996 thu hút được 8,8 tỷ USD vốn
đăng ký, tăng 45% so với năm trước.
Như vậy nếu như trong thời kỳ 1988-1990 việc tăng vốn đầu tư hầu như chưa
có thì trong 5 năm thời kì này, số vốn đầu tư tăng thêm đạt 2,13 tỷ USD, tập trung
chủ yếu vào các dự án thuộc lĩnh vực sản xuất công nghiệp và đạt khoảng 40,6%. Xét
về đối tác đầu tư thì việc tăng vốn đầu tư chủ yếu từ các nhà đầu tư châu Á chiếm tỷ
trọng cao nhất 66,8% và được thực hiện chủ yếu tại các vùng kinh tế trọng điểm :
vùng trọng điểm phía Nam chiếm 55,5%, vùng trọng điểm phía Bắc là 36,7%. Quy
mô vốn đăng ký bình quân của một dự án đạt 11,6 triệuUSD. Trong giai đoạn này
vốn thực hiện mới chỉ đạt 7,1 tỷ USD, chiếm 44% tổng vốn đăng ký mới (bao gồm
phần vốn góp của Bên Việt Nam trên 1 tỷ USD- chủ yếu là giá trị quyền sử dụng đất
và vốn nước ngoài đưa vào khoảng 6,1 tỷ USD)
1.3. Giai đoạn 1997-1999
Trong 3 năm 1997-1999 có 961 dự án được cấp phép với tổng vốn đăng ký hơn
13 tỷ USD; nhưng vốn đăng ký của năm sau ít hơn năm trước (năm 1998 chỉ bằng
81,8% năm 1997, năm 1999 chỉ bằng 46,8% năm 1998), chủ yếu là các dự án có quy
mô vốn vừa và nhỏ. Cũng trong thời gian này nhiều dự án ĐTNN được cấp phép
trong những năm trước đã phải tạm dừng triển khai hoạt động do nhà đầu tư gặp khó
khăn về tài chính (đa số từ Hàn Quốc, Hồng Kông).
Như vậy giai đoạn này vốn FDI đã tăng gần gấp đôi so với 5 năm trước (4,17 tỷ
USD), vốn tăng thêm chủ yếu tập trung vào các dự án thuộc lĩnh vực sản xuất công
nghiệp đạt khoảng 65,7%, đối tác đầu tư chủ yếu là các nhà đầu tư châu Á chiếm
khoảng 67%. Việc tăng vốn đầu tư mở rộng sản xuất thực hiện chủ yếu tại vùng trọng
điểm phía Nam (68,1%) và vùng trọng điểm phía Bắc (20,4%). Quy mô dự án tăng
lên 12,3 triệu USD. Giai đoạn này mặc dù có ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng
kinh tế khu vực vốn thực hiện đã đạt 13,5 tỷ USD, tăng 89% so với 5 năm trước,
chiếm 64,8% tổng vốn đăng ký mới, trong đó đóng góp của Bên Việt Nam là 1,4 tỷ
USD và vốn từ nước ngoài đạt 12 tỷ USD.
1.4. Giai đoạn 2000-2006
Từ năm 2000 đến 2003, dòng vốn FDI vào Việt Nam bắt đầu có dấu hiệu phục
hồi chậm. Vốn đăng ký cấp mới năm 2000 đạt 2,7 triệu USD, tăng 21% so với năm
1999; năm 2001 tăng 18,2% so với năm 2000; năm 2002 vốn đăng ký giảm, chỉ bằng
91,6% so với năm 2001, năm 2003 (đạt 3,1 tỷ USD), tăng 6% so với năm 2002. Và
có xu hướng tăng nhanh từ năm 2004 (đạt 4,5 tỷ USD) tăng 45,1% so với năm trước;
năm 2005 tăng 50,8%; năm 2006 tăng 75,4% và năm 2007 đạt mức kỷ lục trong 20
8
năm qua 20,3 tỷ USD, tăng 69% so với năm 2006, và tăng hơn gấp đôi so với năm
1996, năm cao nhất của thời kỳ trước khủng hoảng.
Trong giai đoạn 2001-2005 thu hút vốn cấp mới (kể cả tăng vốn) đạt 20,8 tỷ
USD vượt 73% so với mục tiêu tại Nghị quyết 09/2001/NQ-CP ngày 28/8/2001 của
Chính phủ,vốn thực hiện đạt 14,3 tỷ USD tăng 30% so với mục tiêu. Nhìn chung
trong 5 năm 2001-2005, vốn FDI cấp mới đều tăng đạt mức năm sau cao hơn năm
trước (tỷ trọng tăng trung bình 59,5%), nhưng đa phần là các dự án có quy mô vừa và
nhỏ. Đặc biệt trong 2 năm 2006-2007, dòng vốn FDI vào nước ta đã tăng đáng kể
(32,3 tỷ USD) với sự xuất hiện của nhiều dự án quy mô lớn đầu tư chủ yếu trong lĩnh
vực công nghiệp (sản xuất thép, điện tử, sản phẩm công nghệ cao, ) và dịch vụ (cảng
biển, bất động sản, công nghệ thông tin, du lịch-dịch vụ cao cấp .v.v.). Điều này cho
thấy dấu hiệu của “làn sóng FDI” thứ hai vào Việt Nam.
Trong 5 năm 2001-2005 vốn đầu tư tăng thêm đạt 7,08 tỷ USD (vượt 18% so
với dự kiến là 6 tỷ USD) tăng 69% so với 5 năm trước, trong đó lượng vốn tăng thêm
vượt con số 1 tỷ USD bắt đầu từ năm 2002, và từ 2004 mỗi năm đạt trên 2 tỷ USD,
mỗi năm trung bình tăng 35%. Ở giai đoạn này vốn tăng thêm chủ yếu tập trung vào
các dự án thuộc lĩnh vực sản xuất công nghiệp chiếm khoảng 77,3%, và vốn tăng
thêm chủ yếu từ các nhà đầu tư châu Á đạt 70,3%, được thực hiện tại vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam chiếm 71,5%, vùng trọng điểm phía Bắc 21,1%. Vốn thực hiện
đạt 14,3% tỷ USD, chiếm 64,8% tổng vốn đăng ký mới, tăng 6% so với 5 năm trước
và vượt 30% so với dự báo ban đầu (11 tỷ USD)
1.5.Giai đoạn 2007-2010
Năm 2007 đánh dấu bước ngoặt lớn: Việt Nam chính thức trở thành thành viên
của tổ chức thương mại thế giới (WTO). Dòng vốn đầu tư nước ngoài vào nước ta đã
tăng đáng kể (32,3 tỷ USD) với sự xuất hiện của nhiều dự án quy mô lớn. Năm 2007
được đánh giá là năm đạt kỷ lục về thu hút FDI.
Tính đến cuối năm 2007, cả nước có hơn 9.500 dự án đầu tư nước ngoài được
cấp phép đầu tư với tổng vốn đăng ký khoảng 98 tỷ USD (kể cả vốn tăng thêm). Trừ
các dự án đã hết thời hạn hoạt động và giải thể trước thời hạn, hiện có 8.590 dự án
còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 83,1 tỷ USD. Tình hình tăng vốn đầu tư trong năm
nay thể hiện: có gần 4100 lượt dự án tăng vốn đầu tư với tổng vốn tăng thêm hơn
18,9 tỷ USD, bằng 23,8% tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới,vốn đầu tư tăng thêm tập
trung ở lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, chiếm 79.1% tổng vốn tăng thêm, và chủ
yếu từ các nhà đầu tư châu Á (80%). Đặc biệt trong năm 2007 quy mô vốn đầu tư
trung bình của một dự án đều ở mức 14,4 triệu USD, cho thấy số dự án có quy mô
9
lớn đã tăng lên so với thời kỳ trước, thể hiện qua sự quan tâm của một số tập đoàn đa
quốc gia đầu tư vào một số dự án lớn (Intel, Panasonic, Honhai, Compal, Piaggio )
do Việt Nam gia nhập và thực hiện cam kết với WTO là bãi bỏ các quy định về ưu
đãi đối với dự án có tỷ lệ xuất khẩu cao, không yêu cầu bắt buộc thực hiện tỷ lệ nội
địa hóa và sử dụng nguyên liệu trong nước. Ngoài ra trong năm 2007 đã có sự chuyển
dịch cơ cấu đầu tư mạnh vào lĩnh vực dịch vụ đặc biệt là các dự án xây dựng cảng
biển, kinh doanh bất động sản, xây dựng khu vui chơi, giải trí ( chiếm 47,7% tổng
vốn đăng ký cả nước, tăng 16,5% so với năm 2006). Về hình thức đầu tư thì chủ yếu
là hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: có 6685 dự án với tổng vốn đăng
ký 51,2 tỷ USD, chiếm 77,2% về số dự án và 61,6% tổng vốn đăng ký. Có thể so
sánh tỷ trọng dự án hoạt động theo hình thức 100% vốn nước ngoài tính đến hết năm
2004 là 39,9%, theo hình thức liên doanh là 40,6% và theo hình thứuc hợp doanh là
19,5% để thấy được hình thức 100% vốn nước ngoài được các nhà đầu tư lựa chọn
hơn.
Tiếp tục đà tăng trưởng của năm 2007, năm 2008 thu hút đầu tư nước ngoài
trực tiếp vẫn cao: trong năm 2008, Việt Nam đã thu hút được 1557 dự án mới với
tổng số vốn đầu tư đăng ký 66,5 tỷ USD, gấp 3,55 lần mức thu hút 2007. Trong cùng
kỳ, 397 lượt dự án đã được điều chỉnh tăng vốn đăng ký với tổng vốn đầu tư thêm 5,2
tỷ USD, gấp 1,98 lần năm 2007. Tính cả cấp mới và tăng thêm, vốn đầu tư đăng ký
vào Việt Nam 2008 đạt mức kỷ lục 71,7 tỷ USD, gấp 3,35 lần so với năm 2007.trong
đó chủ yếu được thực hiện dưới hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
(77,72% về số dự án và 60,35% về vốn đầu tư đăng ký) và doanh nghiệp liên doanh
(18,3% về số dự án và 33,01% về vốn đầu tư đăng ký). Xét về lĩnh vực đầu tư: chủ
yếu trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm 64,82% tổng số dự án,
53,07% tổng vốn điều lệ, 53,82% tổng vốn đầu tư đăng ký), ngoài ra lĩnh vực kinh
doanh bất động sản là một lĩnh vực thu hút được một lượng FDI khá lớn, quy mô dự
án lớn, lĩnh vực nông lâm nghiệp, thủy sản với số dự án lớn, nhưng quy mô dự án
nhỏ. xét về đối tác đầu tư: đứng đầu là Đài Loan với số lượng dự án lớn (chiếm
19,6%), tổng vốn đầu tư đăng ký (chiếm 12,48%). FDI đổ vào chủ yếu ở các địa
phương: TP Hồ Chí Minh(tổng số dự án lớn, vốn đầu tư đăng ký lớn), Bà Rịa-Vũng
Tàu (quy mô dự án lớn).
Bước sang năm 2009, Việt Nam phải đối diện với những thách thức lớn trong
thu hút FDI do nền kinh tế Việt Nam vừa vượt qua những khó khăn của năm 2008
như lạm phát cao, thâm hụt thương mại lớn, lại phải đối mặt với cơn bão khủng
hoảng tài chính toàn cầu khiến cho dòng FDI toàn cầu tiếp tục suy giảm đáng kể.
10
trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế thế giới cũng như của nền kinh tế
trong nước, FDI vào Việt Nam năm 2009 cũng suy giảm đáng kể so với cùng kỳ năm
2008. các số liệu sơ bộ tính đến 15-12-2009 cho thấy Việt Nam thu hút được 839 dự
án FDI mới với tổng số vốn đăng ký mới và tăng thêm là 21,48 tỉ USD, chỉ bằng
53,9% về số dự án mới và 30% vốn đầu tư đăng kí so với cùng kỳ 2008. Vốn đầu tư
thực hiện ước đạt 10 tỉ USD, bằng 87% so với cùng kỳ 2008. Mặc dù có sự giảm sút
cả về vốn đăng ký và vốn giải ngân so với cùng kỳ năm trước nhưng có thể nói FDI
của Việt Nam trong bối cảnh khó khăn của năm nay vẫn đạt kết quả khá cao so với
các năm trước đó. Trong đó FDI tập trung vào lĩnh vực dịch vụ lưu trú và ăn uống
với 41% vốn cấp mới và tăng thêm, kinh doanh bất động sản đứng thứ 2 với 35% vốn
đăng ký.Sự gia tăng vốn đăng ký vào 2 lĩnh vực này khiến cho tỷ trọng vốn đăng ký
còn hiệu lực trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản đến cuối năm 2009 đã tăng lên
23% so với 20% của cuối năm 2008 và lĩnh vực dịch vụ lưu trú và ăn uống lên 8% so
với 6% cuối năm 2008. Công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 54% tổng vốn đăng ký
còn hiệu lực cuối 2008 đã còn 50% cuối năm 2009. Tuy vậy đến thời điểm này FDI
vào lĩnh vự sản xuất mà đứng đầu là công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn thu hút nhiều
hơn lĩnh vực dịch vụ, mặc dù FDI vào lĩnh vực dịch vụ đang gia tăng nhanh chóng.
Năm 2010 cùng với sự phục hồi và tăng trưởng của nền kinh tế toàn cầu, dòng
FDI thế giới cũng có xu hướng phục hồi và có khả năng đảo chiều.
Theo báo cáo nhận được, trong 9 tháng đầu năm 2010 cả nước có 720 dự án
mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn đăng ký 11,4 tỉ USD, tăng
37,3% so với cùng kỳ 2009. Có 153 dự án đăng ký tăng vốn đầu tư với tổng vốn
đăng ký tăng tăng thêm là 783 triệu USD, giảm 13,8% so với cùng kỳ năm 2009. Đã
xuất hiện một số dự án giảm quy mô vốn đầu tư như dự án Công ty TNHH phát triển
quốc tế thế kỷ 21 xây dựng khu tái định cư tại TP Hồ Chí Minh giảm trên 31 triệu
USD; dự án Công ty TNHH TM và DV siêu thị An Lạc tại TP Hồ Chí Minh giảm 6
triệu USD…Tính chung cả cấp mới và tăng vốn, trong 9 tháng đầu năm 2010, các
nhà đầu tư nước ngoài đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam 12,19 tỷ USD, bằng 87,3%
so với cùng kỳ 2009. Xét theo lĩnh vực đầu tư: lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo
vẫn là lĩnh vực thế mạnh, FDI đổ vào lĩnh vực này liên tục tăng cao trong những
tháng gần đây: 275 dự án đầu tư được cấp mới, tổng vốn cấp mới trên 3 tỷ USD, 106
dự án mở rộng quy mô, tổng số vốn đăng ký tăng thêm là 653,6 triệu USD đưa lĩnh
vực công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu, chiếm 30,2% tổng vốn đầu tư đăng ký.
Lĩnh vực kinh doanh bất động sản đứng thứ 3 với tổng vốn đầu tư đăng ký là 2,75 tỷ
USD, nhưng không có nhiều dự án đăng ký thêm. Xét theo đối tác đầu tư trong 9
11
tháng đầu năm 2010, có 48 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp vào Việt Nam,
trong đó các nhà đầu tư lớn nhất là Hà Lan với tổng vốn đầu tư đăng ký là 2,2 tỷ
USD chiếm 18,2% tổng vốn đầu tư, Hàn Quốc đứng thứ hai(chiếm 17%), Hoa Kỳ
đứng thứ 3 (chiếm 15,3%). Xét theo địa bàn đầu tư thì Bà Rịa – Vũng Tàu là địa
phương thu hút FDI nhiều nhất với 2,23 tỷ USD, tiếp theo là Quảng Ninh, TP Hồ Chí
Minh, Nghệ An…
Bảng 2.1. Tình hình FDI vào Việt Nam giai đoạn 1988 đến 2009
(đơn vị:triệu USD)
Năm Số dự án Tổng vốn đăng ký
1988 37 341,72
1989 67 466,88
1990 107 579,43
1991 152 1.291,5
1992 195 2.098,55
1993 274 3.227,18
1994 372 4.498,56
1995 415 7.725,83
1996 372 9.637,53
1997 349 5.965,28
1998 285 4.874,14
1999 326 2.267,83
2000 391 2.696,33
2001 554 3.234,83
2002 807 2.969,33
2003 784 3.155,51
2004 804 4.516,12
2005 771 4.120
2006 987 12.003,8
2007 1.544 21.347,8
2008 1.171 64.011,0
2009 839 21.480,0
Tổng 11.603 182.508,84
(Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài- Bộ Kế Hoạch & Đầu Tư)
2.Thực trạng đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào Việt Nam
2.1. Quy mô và tốc độ đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào Việt Nam từ 1991
đến nay
Tháng 11-1991. Việt Nam và Trung Quốc bắt đầu thực hiện bình thường hóa
quan hệ, năm 1999 định ra quan hệ hai nước trong thế kỉ mới bằng phương châm 16
12

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét