Thứ Tư, 22 tháng 1, 2014

Bài thảo luận Marketing

Phần A Lý Thuyết
1. Khái niệm và đặc điểm
a, Khái niệm: Dữ liệu thứ cấp là dữ liệu do người khác thu thập, sử dụng cho
các mục dích có thể là khác với mục đích nghiên cứu của chúng ta. Dữ liệu
thứ cấp có thể là dữ liệu chưa xử lý (còn gọi là dữ liệu thô) hoặc dữ liệu đã
xử lý. Như vậy, dữ liệu thứ cấp không phải do người nghiên cứu trực tiếp
thu thập
b, Đặc điểm:
- Ưu điểm: tiết kiệm tiền bạc, thời gian.
- Nhược điểm:
+ Số liệu thứ cấp này đã được thu thập cho các nghiên cứu với các
mục đích khác và có thể hoàn toàn không hợp với vấn đề của chúng ta; khó
phân loại dữ liệu; các biến số, đơn vị đo lường có thể khác nhau
+ Dữ liệu thứ cấp thường đã qua xử lý nên khó đánh giá được mức
độ chính xác, mức độ tin cậy của nguồn dữ liệu
Vì vậy trách nhiệm của người nghiên cứu là phải đảm bảo tính chính xác của
dữ liệu, phải kiểm tra xem các kết quả nghiên cứu của người khác là dựa vào
dữ liệu thứ cấp hay sơ cấp. Vì vậy điều quan trọng là phải kiểm tra dữ liệu
gốc.
2. Các loại dữ liệu thứ cấp
Dữ liệu thứ cấp có đặc điểm là chỉ cung cấp các thông tin mô tả tình
hình, chỉ rõ quy mô của hiện tượng chứ chưa thể hiện được bản chất hoặc
các mối liên hệ bên trong của hiện tượng nghiên cứu. Vì dữ liệu thứ cấp, dù
thu thập từ bên trong hoặc bên ngoài doanh nghiệp, nó cũng là những thông
tin đã được công bố nên thiếu tính cập nhật, đôi khi thiếu chính xác và
không đầy đủ. Tuy nhiên, dữ liệu thứ cấp cũng đóng một vai trò quan trọng
trong nghiên cứu marketing do các lý do:
- Các dữ liệu thứ cấp có thể giúp người quyết định đưa ra giải pháp để
giải quyết vấn đề trong những trường hợp thực hiện những nghiên cứu mà
các dữ liệu thứ cấp là phù hợp mà không cần thiết phải có các dữ liệu sơ cấp.
Ví dụ như các nghiên cứu thăm dò hoặc nghiên cứu mô tả.
- Ngay cả khi dữ liệu thứ cấp không giúp ích cho việc ra quyết định
thì nó vẫn rất quan trọng vì nó giúp xác định và hình thành các giả thiết về
các giải pháp cho vấn đề. Nó là cơ sở để hoạch định việc thu thập các dữ liệu
1
sơ cấp; cũng như được sử dụng để xác định tổng thể chọn mẫu và thực hiện
chọn mẫu để thu thập dữ liệu sơ cấp.
 Dữ liệu thứ cấp bên trong
Khi tìm kiếm dữ liệu thứ cấp nên bắt đầu từ các nguồn bên trong tổ
chức. Hầu hết các tổ chức đều có những nguồn thông tin rất phong phú, vì
vậy có những dữ liệu có thể sử dụng ngay lập tức. Chẳng hạn như dữ liệu về
doanh thu bán hàng và chi phí bán hàng và chi phí bán hàng hay các chi phí
khác sẽ được cung cấp đầy đủ thông qua các bảng báo cáo thu thập của
doanh nghiệp. Những thông tin khác có thể tìm kiếm lâu hơn nhưng thật sự
không khó khăn khi thu thập loại dữ liệu này.
Có hai thuận lợi chính khi sử dụng dữ liệu thứ cấp bên trong doanh
nghiệp là thu thập được một cách dễ dàng và có thể không tốn kém chi phí.
Để tạo ra cơ sở dữ liệu thứ cấp bên trong, doanh nghiệp cần tổ tức cơ
sở dữ liệu marketing (DataMarketing). Đó là việc sử dụng máy tính để nắm
bắt và theo dõi các các hồ sơ khách hàng và chi tiết mua hàng. Thông tin thứ
cấp này phục vụ như một nền tảng cho các chương trình nghiên cứu
marketing hoặc như là nguồn thông tin nội bộ liên quan đến hành vi khách
hàng trong nhiều doanh nghiệp.
 Dữ liệu thứ cấp bên ngoài
Những nguồn dữ liệu thứ cấp bên ngoài là các tài liệu đã xuất bản có
được từ các nghiệp đoàn, chính phủ, chính quyền địa phương, các tổ chức
phi chính phủ (NGO) , các hiệp hội thương mại, các tổ chức chuyên môn,
các ấn phẩm thương mại, các tổ chức nghiên cứu Marketing chuyên
nghiệp sự phát triển của mạng thông tin toàn cầu đã tạo nên một nguồn dữ
liệu vô cùng phong phú và đa dạng, đó là các dữ liệu thu thập từ internet.
Trong thực tế, có rất nhiều dữ liệu thứ cấp có thể sử dụng được và có thể tìm
kiếm từ nhiều nguồn khác nhau. Vì vậy, điều quan trọng là phải phân loại
nguồn dữ liệu để có một phương thức tìm kiếm thích hợp.
3. Các tiêu chuẩn đánh giá dữ liệu thứ cấp
 Tính cụ thể
Dữ liệu thứ cấp phải bảo đảm tính cụ thể, có nghĩa là nó phải rõ ràng,
phù hợp với mục tiêu nghiên cứu, có thể hỗ trợ cho việc phân tích nhận diện
vấn đề hay mô tả vấn đề nghiên cứu. Tính cụ thể còn đòi hỏi sự rõ ràng về
nguồn thu tập dữ liệu cũng như hiệu quả của dữ liệu (so sánh lợi ích của dữ
liệu với chi phí thu thập)
 Tính chính xác của dữ liệu
2
Người nghiên cứu phải xác định dữ liệu có đủ chính xác phục vụ cho
việc nghiên cứu hay không. Dữ liệu thứ cấp có thể có sai số (hay không
chính xác), điều này phụ thuộc vào nguồn cung cấp dữ liệu. Vì vậy, uy tín
của nhà cung cấp và độ tin cập của nguồn dữ liệu những tiêu chuẩn cần xem
xét khi thu thập dữ liệu thứ cấp.
 Tính thời sự
Nghiên cứu marketing đòi hỏi dữ liệu phải có tính thời sự (dữ liệu
mới) vì giá trị của dữ liệu sẽ bị giảm qua thời gian. đó cũng là lý do vì sao
các doanh nghiệp nghiên cứu marketing luôn cập nhập thông tin định kỳ, tạo
ra nguồn thông tin có giá trị cao.
 Mục đích của dữ liệu được thu thập:
Dữ liệu thu thập nhằm đáp ứng một số mục tiêu nghiên cứu đã xác
định và giải đáp câu hỏi “Dữ liệu cần thu thập để làm gì?”
Dữ liệu được thu thập phục vụ cho mục đích nghiên cứu cụ thể, vì các
dữ liệu có thể phù hợp với mục tiêu nghiên cứu này nhưng lại có thể không
phù hợp với trường hợp khác.
4. Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
a. Phương pháp nghiên cứu định tính
 Phỏng vấn nhóm (Focus Groups)
Là một cuộc phỏng vấn được tiến hành bởi một người điều khiển đã
được tập huấn theo hướng không chính thức những rất linh hoạt với một
nhóm người được phỏng vấn. Người điều khiển có thể hướng dẫn thảo luận
nhóm.
Mục đích của kỹ thuật này nhằm đạt được những hiểu biết sâu sắc vấn
đề nghiên cứ bằng cách lắng nghe một nhóm người được chọn ra từ một thị
trường mục tiêu phù hợp với những vấn đề mà người nghiên cứu đang quan
tâm. Giá trị của phương pháp này ở chỗ những kết luận ngoài dự kiến
thường đạt được từ nhừng ý kiến thảo luận tự do của nhóm. Thảo luận nhóm
là một phương pháp nghiên cứu định tính quan trọng nhất và đang được sử
dụng phổ biến trong nghiên cứu marketing.
*Đặc điểm
Phương pháp phỏng vấn nhóm được tiến hành bằng cách tập hợp một
nhóm 10 -12 người, nhóm ít hơn 8 người thì khó có thể tạo thành sự đa dạng
của nhóm để tạo ra sự thành công trong thảo luận. Ngược lại, nhóm hơn 12
người là quá đông và không thể có một cuộc thảo luận sâu, ý kiến sẽ rất
phân tán. Hơn nữa, các thành viên trong nhóm cần phải xem xét để lựa chọn
ra theo một tiêu chuẩn nào đó tốt nhất là họ cần có kinh nghiệm về vấn đề
3
đang được thảo luận. Thời gian thảo luận có thể kéo dài từ 1-3 giờ, thông
thường trong khoản 1,5 – 2 giờ là tốt nhất và nên sử dụng máy ghi âm và
video để ghi lại nội dung thảo luận.
Người điều khiển có vai trò rất quan trọng trong sự thành công của kỹ
thuật phỏng vấn nhóm tập trung vì đòi hỏi tối thiểu đối với người điếu khiển
là phải có kỹ năng dẫn dắt chương trình, đưa được các vấn đề nào cần được
thảo luận sau. Ngoài ra, người điều khiển còn đóng vai trò trung tâm trong
phân tích và tổng hợp dữ liệu. Một số khả năng cần có của một người điều
khiển là sự tử tế, thân thiện, thoải mái, hiểu biết hoàn hảo, linh hoạt
(flexibility) và nhạy cảm đối với vấn đề thảo luận
*Thủ tục chuẩn bị và thảo luận nhóm
- Xác định mục tiêu của vấn đề nghiên cứu.
- Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu định tính
- Đặt câu hỏi thảo luận nhóm
- Phát triển đề cương của người điều khiển
- Tiến hành phỏng vấn nhóm
- Phân tích dữ liệu
- Kết luận và đề xuất
Những dạng khác của nhóm thảo luận.
- Nhóm thảo luận hai chiều: Điều này cho phép một nhóm lăng nghe
hoặc học hỏi một nhóm khác có liên hệ
- Nhóm thảo luận song đôi: là nhóm phỏng vấn được tiến hành bởi hai
người điều khiển. Một người chịu trách nhiệm về tiến trình của buổi
thảo luận (hình thức) còn người kia thì có trách nhiệm đảm bảo chắc
chắn rằng có vấn đề cụ thể đang được thảo luận (nội dung)
- Nhóm thảo luận tay đôi: đây cũng là nhóm phỏng vấn có hai người
điều khiển vơi vị trí ngược nhau về các vấn đề thảo luận. Điều này
cho phép người nghiên cứu khai thác cả hai mặt của vấn đề cần thảo
luận.
- Nhóm kết hợp người điều khiển và người trả lời: nhóm thảo luận cho
phép người điều khiển nhờ người tham gia nhóm đóng vai trò là
người điều khiển tạm thời để nâng cao sự linh hoạt của nhóm.
- Nhóm khách hàng tham gia: Khách hàng được mời thảo luận thành
lập nhóm thảo luận, vai trò chủ yếu của họ là làm rõ các vấn đề thảo
luận để tăng hiệu quả của phương pháp.
- Nhóm thảo luận nhỏ: những nhóm nhỏ này bao gồm người điều khiển
cùng với từ 4-5 người tham gia phỏng vấn.
- Nhóm thảo luận bằng điện thoại: dùng điện thoại để thảo luận các vấn
đề quan tâm giữa người nghiên cứu và nhóm.
4
*Thuận lợi và bất lợi của nhóm thảo luận
Nhóm thảo luận có nhiều thuận lợi hơn các phương pháp thu thập dữ liệu
khác vì có thể thu thập dữ liệu đa dạng, có thể tập trung điều khiển để kích
họ trả lời, tạo tâm lý an toàn và tự nhiên cho những người tham gia thảo
luận, các dữ liệu nhờ đó thể thu thập một cách khách quan và mang tính
khoa học.
Tuy nhiên thảo luận nhóm cũng có một số bất lợi
- Ứng dụng sai: phỏng vấn nhóm có thể ứng dụng sai hay bị lạm dụng
bằng việc xem xét kết quả như là một kết luận hơn là một sự thăm dò.
- Đánh giá sai: kết quả của thảo luận nhóm rất có thể bị đánh giá sai so
với kỹ thuật phỏng vấn khác vì thành kiến của khách hàng cũng như
người nghiên cứu.
- Điều khiển: thảo luận nhóm rất khó điều khiển do việc chọn ra những
người điều khiển có tất cả kỹ năng mong muốn thì rất khó, và chất
lượng của người phỏng vấn nhóm phụ thuộc rất lớn vào người điều
khiển.
- Lộn xộn: bản chất của các câu trả lời hoàn toàn không theo một cấu
trúc chính thức, do đó việc mã hóa, phân tích và tổng hợp dữ liệu rất
khó khăn, xu hướng của dữ liệu khá lộn xộn.
- Không đại diện: Kết quả của thảo luận nhóm thì không đại diện cho
tổng thể chung mà chỉ cho một mẫu nhóm được phỏng vấn.
Các trường hợp có thể ứng dụng để thảo luận nhóm
- Định nghĩa về vấn đề một cách rõ ràng
- Thiết lập các phương án hành động
- Phát triển sự tiếp cận vấn đề.
- Đạt được các thông tin hữu ích trong thiết kế bảng câu hỏi
- Tạo ra các giả thiết và kiểm định
 Phỏng vấn chuyên sâu (Depth Interview)
Phỏng vấn chuyên sâu là kỹ thuật phỏng vấn cá nhận trực tiếp và
không chính thức. Trong đó phương pháp phỏng vấn này người trả lời được
hỏi về các khía cạnh niềm tin, thái độ và cảm nghĩ về chủ đề nghiên cứu
dưới sự điều khiển của người phỏng vấn có kỹ năng cao.
* Đặc điểm
Cũng giống như phỏng vấn nhóm tập trung, phỏng vấn cá nhân cùng
là một kỷ thuật trực tiếp và không cầu kỳ để thu thập thông tin, nhưng khác
ở chỗ phỏng vấn cá nhân chỉ có hai người đối diện: người phỏng vấn và
5
người được phỏng vấn (one to one). Thời gian phỏng vấn có thể từ 30 phút
đến 1 giờ.
 Kỹ thuật phỏng vấn cá nhân
Những kỹ thuật phỏng vấn cá nhân được sử dụng rộng rãi hiện nay là
kỹ thuật bắt thang, đặt câu hỏi cho các vấn đề và phân tích biểu tượng.
* Thuận lợi và bất lợi của phỏng vấn cá nhân
Phỏng vấn cá nhân không thể hiểu biết sâu sắc bản chất bên trong của
vấn đề nghiên cứu so với phỏng vấn nhóm nhưng biết chính xác câu trả lời
riêng của từng người được phỏng vấn. Phỏng vấn cá nhận còn thực hiện
trong bầu không khí trao đổi thông tin hoàn toàn tự do và hoàn toàn không
có bất kỳ một áp lực mang tính xã hội như phỏng vấn nhóm.
Tuy nhiên, phỏng vấn cá nhân cũng có nhiều nhược điểm, chẳng hạn
như để tìm người phỏng vấn có kỹ năng thì rất khó khăn và tốn kém. Dữ liệu
thu thập được khó phân tích và tổng hợp hơn phỏng vấn nhóm, thậm chí còn
rất phức tạp, và chi phí phỏng vấn cao nên thường có cở mẫu nhỏ, điều này
thể hiện tính đại diện thấp.
* Ứng dụng phỏng vấn cá nhân
Cũng như phỏng vấn nhóm, mục đích chính của phỏng vấn cá nhân là
nghiên cứu thăm dò để nắm được mọi hiểu biết sâu hơn bên trong vấn đề.
Hơn nữa đây cũng là phương pháp sử dụng có hiệu quả trong các tình huống
có vấn đề đặc biệt, chẳng hạn như thăm dò được các chi tiết các nhân từ
người phỏng vấn, thảo luận các chủ đề về niềm tin, cảm xúc cá nhân, hiểu rõ
các hành vi ứng xử phức tạp.
* Một số kỹ thuật có thể sử dụng
- Kỹ thuật liên tưởng
Là kỹ thuật trong đó người được phỏng vấn trình bày ý kiến với sự
kích thích và được hỏi bằng bảng liệt kê các từ để trả lời từng từ một mà từ
đó rất gợi nhớ.
- Kỹ thuật hòan chỉnh
Là kỹ thuật đòi hỏi người được phỏng vấn hoàn chỉnh các tình huống
chưa kết thức các vấn đề quan tâm. Nói chung, kỹ thuật hoàn chỉnh được sử
dụng trong nghiên cứu là hoàn thành câu dở dang hay câu chuyện.
- Kỹ thuật dựng hình
Là kỹ thuật đòi hỏi người được phỏng vấn tình bày câu trả lời theo
hình thức của một câu chuyện, một mẫu đàm thoại hay mô tả. Kỹ thuật này
bao gồm hai hình thức: diễn giải qua tranh ảnh và đặt lời chú giải cho phim
hoạt hình.
6
- Kỹ thuật diễn cảm
Người phỏng vấn trong kỹ thuật này trình bày câu trả lời dưới hình
thức kể hay quan sát và trả lời những câu hỏi có liên quan đến cảm nghĩ và
thái độ của người khác đối với vấn đề nghiên cứu. Họ không chỉ trình bày
cảm nghĩ riêng của họ mà còn nhận xét cảm nghĩ của người khác thông qua
việc đóng vai trò người thứ ba.
b) Thu thập dữ liệu bằng phương pháp thử nghiệm
Như đã trình bày trong trong các phần trước đây, để thu thập dữ liệu
ngoài việc nghiên cứu các tài liệu (để thu thập dữ liệu thứ cấp), hoặc quan
sát, phỏng vấn (để thu thập dữ liệu sơ cấp), còn có thể được thực hiện thông
qua việc thử nghiệm. Trong nghiên cứu marketing, các thuộc thử nghiệm
đóng vai trò rất lớn, ngoài việc kiểm tra hoặc khẳng định một giải pháp hiệu
chỉnh đưa ra, chúng còn cung cấp một nguồn dữ liệu khá lớn có thể sử dụng
trong nhiều đề tài nghiên cứu về lĩnh vực marketing.
Khung cảnh (môi trường thử nghiệm): thử nghiệm có thể được thực hiện
trong hai khung cảnh là trong phòng thí nghiệm hay trên hiện trường. Hai
khung cảnh này khác nhau ở mức độ có thể kiểm tra được một số biến số
nào đó của người nghiên cứu và mức độ thực tế của khung cảnh nghiên cứu.
* Thử nghiệm labo (laboratory expriments):
Trong thử nghiệm này, người nghiên cứu đưa ra các tác động cho các
đối tượng trong khung cảnh đã được xếp đặt cho mục tiêu của các cuộc thử
nghiệm. Khung cảnh xếp đặt theo ý muốn như vậy giúp cho người nghiên
cứu giảm thiểu đến mức thấp nhất ảnh hưởng không thích hợp của một số
biến ngoại lai nhờ kiểm soát và điều chỉnh được sự biến đổi của một số biến
số nào đó. Trong các labo như vậy, có đủ các trang thiết bị cần thiết như là
gương một chiều, màn ảnh, hệ thống kiểm tra độ thắp sáng và nhiệt độ cũng
như các yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến việc thử nghiệm. Thử nghiệm
labo được tiến hành không khó khăn lắm nhưng ít khi được thực hiện trong
marketing do các biến số thử nghiệm labo không phải lúc nào cũng giống
như thực tế trên hiên trường và trong quá trình này, người nghiên cứu đã
khống chế các tác động bên ngoài, do đó việc áp dụng các kết quả thử
nghiện này rất hạn chế.
* Thử nghiệm hiện trường:
Đây là loại thử nghiệm được tiến hành ở môi trường thực tế. lợi ích
lớn nhất của cuộc thử nghiệm hiện trường là tính thật của khung cảnh.
những biến số được đưa vào thí nghiệm như: sản phẩm, quảng cáo, giá cả
sẽ giống như hoàn cảnh mua bán bình thường thử nghiệm hiện trường
7
thường rất tốn kém và phức tạp hơn so với thử nghiệm labo, nhưng đây lại là
phương pháp thông dụng trong marketing vì tính thực tiễn của kết quả thử
nghiệm cao nên có tác dụng rất lơn trong việc quyết định một giải pháp (ví
dụ: thử nghiệm sản phẩm mới trước khi thương mại hóa, thử nghiệm một
thông điệp quản cáo, một loại nhãn hiệu )
* Những sai lầm thường mắc phải trong các cuộc thử nghiệm:
Các nguyên nhân chủ yếu có thể gây ra sai lệch trong các cuộc thử
nghiệm:
- Lịch sử: yếu tố lịch sử có thể là một biến cố xảy ra trong lúc đang
tiến hành thử nghiệm, nhưng không phải là yếu tố do cuộc thử nghiệm mà
có.
- Lỗi thời: là biến số không rõ rệt. Lỗi thời là thay đổi dần phản ứng
của người tiêu dùng qua thời gian, hoặc sự thay đổi về nhận thức do tích lũy
kiến thức và kinh nghiệm qua thời gian thử nghiệm. Ví dụ: sự thay đổi thái
độ mua bán, thay đổi cách sinh hoạt
- Bỏ ngang: đó là trường hợp một hay nhiều đơn vị bỏ cuộc thử
nghiệm làm cho kết quả thử nghiệm không tính được vì không biết đơn vị
cuộc có cùng một thái đội ứng xử và cho kết quả giống như các đơn vị còn
laị không?
- Hiệu ứng thử nghiệm: trong quá trình thử nghiệm, một đối tượng ý
thức mình đang chịu thử nghiệm sẽ xúc động, trả lời lệch lạc, hoặc có thái
độ không thật
- Công cụ đo lường: sự sai lệch do sử dụng công cụ đo lường trong
cuộc thử nghiệm
- Chọn mẫu lệch: là sai lầm xảy ra khi đơn vị thử nghiệm đã được lựa
chọn không đại diện cho tổng thể muốn điều tra.
8
Phần B Thực tế Nguồn dữ liệu thứ cấp ở Việt Nam hiện nay
I. Tình hình báo chí tại Việt Nam hiện nay.
Tính đến tháng 12/2007 cả nước có 702 tờ báo và tạp chí với 830 ấn
phẩm. 68 đài phát thanh, truyền hình (trong đó 3 Đài truyền hình Trung
ương là VTV, VTC, VCTV; 01 đài phát thanh Quốc gia là Đài tiếng nói Việt
Nam, 64 đài phát thanh truyền hình cấp tỉnh và thành phố trực thuộc Trung
ương, trên 600 đài phát thanh cấp huyện và hàng chục phường, xã thị trấn,
nhà máy, xí nghiệp, bệnh viện trường học; 01 Hãng thông tấn Nhà nước là
Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN); 6 báo mạng điện tử, 100 tờ báo in đưa
lên mạng Internet bằng các thứ tiếng, hàng ngàn trang điện tử (Website,
Weblog). Trong các loại hình thì nổi lên là báo mạng điện tử (online) vì
mạng Internet vào Việt Nam mới từ tháng 5/1997 nhưng qua 10 năm đã có
gần 20% người Việt Nam truy cập, sử dụng công cụ này. Tỷ lệ này được
coi là cao ở khu vực và thế giới nói chung.
II. Đánh giá khả năng của tổ chức cung cấp nguồn thông tin ( tờ báo, tạp
chí, tập san)
Cho dù rằng mục đích của cuộc nghiên cứu trước đó không hoàn toàn xa lạ
song một điều nữa mà các nhà nghiên cứu marketing cần biết khả năng của
tổ chức thu thập thông tin. Trên thực tế, các tổ chức khác nhau có khả năng
khác nhau, có những nguồn khai thác và chất lượng quản lí khác nhau. Để
kiểm tra năng lực của các tổ chức đó, nhà nghiên cứu có thể thăm dò nhũng
người có kinh nghiệm trong ngành, kiểm tra chính các báo của họ với thăm
dò các khách hàng trong quá khứ của họ về mức độ hài lòng với những gì
khách hàng đã nhận được.
1. Thăm dò các ý kiến của chuyên gia.
Tình trạng thông tin không trung thực, áp đặt vô lối, suy diễn chủ quan,
viết ẩu, viết sai, bịa đặt có xu hướng gia tăng. Việc cải chính thông tin sai
trên báo chỉ chưa nghiêm túc và đúng luật báo chí. Số nhà báo, người làm
công tác trong lĩnh vực báo chí truyền thông yếu kém đạo đức, vi phạm
pháp luật, lợi dụng nghề nghiệp để vụ lợi có xu hướng tăng đáng lo ngại
Đội ngũ phóng viên, biên tập viên hiện nay nhìn chung còn yếu và thiếu
tính chuyên nghiệp trình độ tin học ngoại ngữ, hiểu biết thông lệ và luật
pháp quốc tế còn yếu; kỹ thuật thu - phát thông tin chưa tốt; lực lượng phóng
9
viên, biên tập viên tuy được đào tạo nhưng giao lưu quốc tệ rất hạn chế.
Những yếu kém này làm giảm chất lượng của những bài báo đăng tải.
2. Kiểm tra những khách hàng đã sử dụng.
Để đánh giá khách quan về ý kiến của khách hàng khi sử dụng các tờ báo
tạp chí được xuất bản tại Việt Nam chúng ta sử dụng phiếu điều tra khảo
sat sau.
Quy mô mẩu: 100 người
Khu vực : Quận Cầu Giấy – Hà Nội.
PHIẾU ĐIỀU TRA KHẢO SÁT
Tên Nhóm: Nhóm 12
Nhiệm Vụ:
( Ý kiến của người sử dụng khi sử dụng các ấn phẩm của các tờ báo cung
cấp thông tin nghiên cứu marketing tạ Việt Nam hiện nay, như các ấn phẩm
của Sài Gòn Tiếp Thị, Thời Báo Kinh Tế Việt Nam ….)
I Thông Tin Chung
Họ và Tên :………………………………………………Giới Tính:
Nam/Nữ………
Địa Chỉ :
……………………………………………………………………………
Điện Thoại :
……………………………………………………………………………
Email :
……………………………………………………………………………
II Thông Tin Cụ Thể:
1) Các thông tin được đăng tải trên các tờ báo, tập san hiện nay có cung
cấp đáp ứng được nhu cầu của bạn ?
A: Không, thông tin ko chính xác, không rỏ nguồn gốc.
B: Có, vì được cập nhập hàng ngày.
C: không tin tưởng nên không sử dụng.
2) Bạn mong muốn các tờ báo, tạp chí thay đổi như thế nào ?
10
A: Thay đổi toàn bộ
B: Cần có nhiều bài viết đánh giá có chất lượng.
C: Cập nhập thông tin nhanh hơn nữa
D: Cần nhiều các cuộc điều tra, khảo sát tăng chất lượng bài.
3) Bạn đánh giá như thế nào về các báo cáo, bình luận được đăng tải
trên các tờ báo, tập san?
A : Không chính xác, ý kiến chủ quan của người viết
B : Tốt, các bài viết khách quan
C : Chất lượng bài viết thấp vì trình độ của người viết.
D : Bình thường.
4) Theo bạn chuyên môn của nhưng người làm báo như thế nào ?
A: Vốn kiến thức còn kém, nhận định không bao quát.
B: Chỉ dừng lại ở việc đăng tải thông tin, chưa có đánh giá nhận xét.
C: Tốt, bài viết hay và hữu ích.
Từ kết quả điều tra những người sử dụng chúng tôi có bảng tổng kết như
sau:
Đáp án A Đáp án B Đáp án C Đáp án D
Câu 1 25 70 5
Câu 2 3 20 30 47
Câu 3 1 19 29 51
Câu 4 22 70 8
Từ bảng tổng kết trên chúng ta có những nhận xét sau đây,
- Các tờ báo tạp chí tại Việt Nam hiện nay như thời báo kinh tế, marketing
việt nam, Sài gòn tiếp thị phần nào đã tạo nên được uy tín riêng của mình và
được nhiều độc giả tìm đọc, tính cập nhập thông tin nhanh, tính chính xác
cao. NHưng vẫn còn tồn tại những điểm yếu nguồn nhân lực làm báo chưa
thật sự lớn mạnh, các bài viết chưa được đăng tải chưa thật sự chính xác, các
nguồn thông tin đăng tải chủ yếu là sử dụng các nguồn thông tin đã có sẳn,
chưa có nhiều chương trình tựu điều tra khảo sat, thu thập thông tin tại việt
nam chính vì vậy các tờ báo với nhau chưa mang tính đặc thù vì thường
đăng tải bài của nhau, chưa có tờ báo nào thật sự nổi trội.
III. Mục đích và ưu điểm
1. Mục đích
11
Thông qua tạp chí , báo . chúng ta có thể thu thập thông tin về mọi mặt đời
sống xã hội như văn hóa, kinh tế , chính trị , thể thao . Mỗi mặt của cuộc
sống luôn có mối tương quan và liên kết với nhau , vì vậy chúng ta biết cách
tìm hiểu sâu về vấn đề cần nghiên cứu thì phải xét đến mối quan hệ giữa các
mặt của đời sống
- báo , tạp chí mang tính chất như tiếng nói của công dân , mang tính định
hướng xã hội . Sự suy xét từ báo chí có thể chưa hẳn đã đúng nhưng sự nhìn
từ phía đại đa số người trong xã hội là thông tin quan trọng trong nghiên cứu
để nắm bắt xu hướng chung của xã hội .
2. Ưu điểm
-Dễ tìm kiếm và tìm kiếm nhanh :báo , tạp chí luôn được cập nhập thông tin
về mọi mặt của đời sống xã hội từng ngày từng giờ .vì vậy nó luôn tồn tại
sẵn có và dễ dàng tìm hiểu mà không tốn quá nhiều thời gian
-Chí phí tiêu tốn dành cho việc thu nhập dữ liệu từ báo , tạp chí … rất thấp.
Vì báo, tạp chí tồn tại dưới hình thức báo mạng nên không khó khăn cho
việc tìm kiếm dù khối lượng thông tin có nhiều
- Dữ liệu từ báo .tạp chí luôn có đặc tính sẵn sàng , vì mọi thông tin trong
báo chí luôn được sàng lọc kí càng qua người việt nên việc sử dụng là dễ
dàng
IV. Tính cập nhật.
- Thưa các bạn, hiện nay trên thị trường báo nước ta tồn tại báo mạng và
báo truyền thống. Vài năm trở lại đây, sự bùng nổ của công nghệ thông tin
cùng với quyền tự do ngôn luận của công dân phát triển cao, đã đòi hỏi ra
đời thông tin xã hội cũng như kinh tế thời hội nhập một loại hình báo chí
mới đó là báo trên internet. Báo mạng tin tức cập nhật liên tục và cực kỳ
nóng bỏng. Hầu như các web trên đều do ban tuyên giáo trung ương kiểm
duyệt nên độ chính xác cực cao và rất mang tính thời sựn như những trang
web : dantri.com.vn hay vnexpress.com và vietnam.net. Song bên cạnh
những trang web chính thống của nhà nước sử dụng và cho lưu hành còn
những trang web đưa thông tin sai sự thật, không mang tính thời sự, gây bức
xúc trong dư luận, tác động tiêu cực đến bộ phận người dân, thanh thiếu niên
hiện nay gây nên mất trật tự an sinh xã hội, tình hình chính trị không ổn
định. Một số trang web giải trí giúp giới trẻ tiếp cận với chiều hướng của
phát triển song còn mang tính thị trường quảng bá một số lĩnh vực giải trí,
các người nổi tiếng không phù hợp với phong tục người Á Đông như những
trang web : zing.vn, 24h.com và báo mạng giúp cập nhật những tin tức thời
12
sự, xã hội. Vì thế giúp những ai bận không có thời gian theo dõi thời sự thì
có thể cập nhật vào những trang web chính thống để có thể biết được tốc độ
phát triển của xã hội cũng như tình hình kinh tế của thế giới nói chung và
Việt Nam nói riêng.
- Báo truyền thống là loại báo in trên giấy và có từ lâu, được dùng phổ
biến trong bộ phận người dân. Báo truyền thống cũng đăng tải tin tức thời
sự, kinh tế xã hội nhưng sau khi sự việc hay tình hình xã hội xảy ra rồi và
không được cập nhật liên tục hàng ngày . Những tin đó không còn nóng
bỏng, không phù hợp với sở thích của giới trẻ và một bộ phận người dân
hiện nay. Nhưng nhiều tòa báo và tác giả làm đã xây dựng được uy tín cũng
như thương hiệu trong lòng công chúng. Báo truyền thống có độ chính xác
cực cao gần như tuyệt đối như báo nhân dân, bao lao động, báo tuổi trẻ, báo
thanh niên. Còn một số báo lá cải đưa thông tin sai lệch sự thật nhằm kích
động dân chúng đi sai lệch đường lối của Đảng và Nhà nước. Báo truyền
thống tính cập nhật kém không mang lại hiệu quả thương mại cho nền kinh
tế hiên đại nên đang dần bị chuyển sang báo mạng để hiệu quả tốt hơn.
- Tóm lại báo mạng tính cập nhật liên tục và tiện lợi trong cuộc sống
hơn, đang thịnh hành trong giới trẻ hiên nay, nhưng đi kem với nó là chiều
hướng đi xuống của người dân nếu truy cập vào các web không chính thống.
Báo truyền thống kém tính cập nhật hơn nhưng chinh xác và tồn tại trong bộ
phận người dân xưa , có uy tín trên thị trường.
V. Tính hiện thực, khách quan trong báo chí :
- Trên thực tế thời gian qua, nhiều thông tin trên báo chí do thiếu cân nhắc
về độ chính xác và thời điểm đã có lúc gây sốc cho bạn đọc và người dân.
Đó là tình trạng đưa tin, dẫn nguồn thông tin chưa đầy đủ, thiếu khách quan,
thậm chí có nhà báo trong khi đưa thông tin đã phân tích, suy diễn làm lệch
bản chất sự thật. Có nhà báo khi viết đặt dấu hỏi, mơ hồ gây tâm lý khó tiếp
nhận đối với người đọc, rút tít báo kiểu như "Ông tổng giám đốc tham
nhũng?", "Sẽ tăng giá đồng loạt?…", khi bị bạn đọc phản ứng thì giải trình
thiếu trách nhiệm rằng: "tác giả đã để câu hỏi, không khẳng định(!?); có nhà
báo đưa tin tăng giá mặt hàng này, nhưng lại dự đoán tăng giá các mặt hàng
khác thiếu căn cứ, "cầm đèn chạy trước ôtô" gây tâm lý hoang mang trong
người dân, thậm chí góp phần kích động những ai "yếu bóng vía" đổ xô đi
mua hàng tích trữ…
- Ví dụ như: trong khi đưa tin tăng giá xăng dầu, lại dự đoán tăng giá một
loạt các hoạt động khác như giá xi măng, sắt thép, giá cước vận tải taxi, xe
13
khách…, trong khi thực tế chưa diễn ra. Việc làm ấy có thể do nghiệp vụ,
hiểu biết hạn chế của nhà báo, nhất là những kiến thức chuyên ngành về
kinh tế vĩ mô, về thị trường tiền tệ vốn diễn biến rất phức tạp trong cuộc
sống. Cũng có thể hạn chế ấy một phần là do sự thiếu nhạy cảm của các nhà
báo với tư cách là người "loan tin", vì thế đã vô tình bỏ qua ý thức trách
nhiệm là cần góp phần định hướng dư luận và ổn định xã hội
- Ở Việt Nam, trong quy ước đạo đức nghề nghiệp cũng xác định rất rõ
những điều nhà báo nên và không nên làm trong tác nghiệp. Ví như trước
một nạn dịch đang xảy ra ở một địa phương, thái độ nhà báo đưa tin sẽ như
thế nào để không gây hoang mang đối với toàn quốc. Ví như những số liệu
có tính chất nhạy cảm về dự trữ lương thực, cà phê của ta trong tình hình các
bạn hàng nước ngoài đang tìm cách ép giá thì có nên đưa chính xác số liệu
hay không, đòi hỏi nhà báo cân nhắc kỹ thiệt hại. Ví như xảy ra tiêu cực của
một ngân hàng, nếu đưa tin không đầy đủ, dễ tạo nên "làn sóng" rút tiền tại
ngân hàng ấy, gây nên sự đổ vỡ liên hoàn thì "lợi bất cập hại".
Hiện thực, khách quan là thể hiện tính chân thực của sự vật ngoài yếu
tố chủ quan của con người. Ở góc độ xã hội nó phản ánh bộ mặt thực
của xã hội, là yếu tố rất quan trọng để nhận biết xã hội đang phát triển
ở mức độ nào
- Phản ánh đúng hiện thực, khách quan sẽ góp phần thúc đẩy xã hội phát
triển. Nếu phản ánh không đúng, chẳng những không góp phần cải tạo xã
hội phát triển, mà còn làm chậm sự phát triển của xã hội. Bất cứ vai trò vị trí
của đối tượng nào trong xã hội, đều phải coi trọng hiện thực, khách quan.
Đối với báo chchistinhs hiện thực, khách quangiữ một vai trò rất quang
trọng.
- Lê nin đã từng nói: Vai trò, chức năng của báo chí là tuyên truyền tập
thể, tổ chức tập thể, cổ động tập thể. Như vậy trong tuyên truyền, tổ chức, cổ
động của báo chí không chỉ đưa thông tin đến mọi người, mọi cấp, mọi
ngành những chủ trương, đường lối, chính sách, nghị quyết của Đảng, pháp
luật của Nhà nước, mà nhiệm vụ của báo chí còn góp phần giáo dục, cổ vũ
động viên; phản hồi ý kiến của nhân dân đến với Đảng, Nhà nước, các cấp,
các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội trên cơ sở hiện thực, khách quan.
- Trong những năm qua, nhất là trong gần 25 năm đất nước ta thực hiện
công cuộc đổi mới, báo chí nước ta đã có những đổi mới to lớn, hòa nhập
với phát triển của nền kinh tế thị trường, định hướng XHCN, thật sự là công
cụ sắc bén của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, góp phần
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét