CHƯƠNG I.
GIỚI THIỆU
Luận văn Cao học QTDN-K12 Chương I: Giới thiệu
I. TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
Có thể hình dung một cách đơn giản, TMĐT là một mô hình kinh doanh
được kích hoạt thông qua công nghệ thông tin. Một mô hình kinh doanh
trình bày 1 “kế hoạch được tổ chức rõ ràng cho việc tăng thêm giá trò kinh
tế bằng cách áp dụng bí quyết cho 1 tập hợp tài nguyên nhằm mục đích tạo
ra sản phẩm hay dòch vụ có thể tiêu thụ được” (Miles et al., 2000). Mô hình
phải đònh vò sự tăng trưởng tương lai của tổ chức thông qua việc phát triển
kiến thức (nghóa là bí quyết) và thu thập tài nguyên. Các mô hình kinh
doanh truyền thống tập trung vào thu thập tài nguyên vật chất và việc thay
thế sản phẩm và dòch vụ. Các thủ tục, cơ chế kiểm soát, báo cáo, cấu trúc
quản lý, quan hệ giữa các tổ chức, và ứng dụng công nghệ thông tin của
chúng tập trung vào việc bảo đảm sản phẩm và dòch vụ được di chuyển hữu
hiệu từ nguồn đến người tiêu dùng. Các mô hình tối ưu, phương pháp và kỹ
thuật đa dạng có đặc tính khía cạnh quản lý hoạt động của chúng. Những
chức năng tổ chức có khuynh hướng phân vùng và thường xuyên hoạt động
độc lập để tối ưu kết quả thực hiện của chúng từ phần còn lại của tổ chức
(nghóa là các phần ngầm). Những mô hình này cũng đảm đương việc sở hữu
vật chất của tổ chức và việc thay thế sản phẩm và dòch vụ, những điều yêu
cầu nó duy trì những điều kiện thuận lợi của riêng nó đối với tồn kho và
hợp đồng với các doanh nghiệp khác đễ vận chuyển sản phẩm, hay để cung
cấp trực tiếp các dòch vụ của nó. Việc chia sẻ rủi ro giữa tổ chức và nhà
cung cấp của nó ít khi xảy ra. Vai trò của công nghệ thông tin biến đổi từ
sự tự động hóa computer đơn giản đến kích hoạt tích hợp bên trong thông
qua chia sẻ thông tin. Trong một vài trường hợp, công nghệ thông tin mở
rộng vượt qua biên giới tổ chức nhằm cung cấp các liên kết sống còn giữa
tổ chức và nhà cung cấp để xúc tiến các quan hệ làm việc gần gũi (vd.
Walmart). [5]
TMĐT đã báo trước nhiều cơ hội mới cho các tổ chức kinh doanh thông qua
việc mở rộng và nâng cao thò trường của chúng cùng với việc kéo dài và
bành trướng các kênh cung cấp. TMĐT gồm có việc trao đổi (ví dụ, mua và
bán) sản phẩm, dòch vụ và thông tin thông qua mạng máy tính, bao gồm
Internet (Kalakota & Whinston, 1996) [5]. Công nghệ thông tin đã làm cho
các tổ chức có khả năng phát triển các chiến lược tập trung vào 1 mô hình
TMĐT và thực hiện những thay đổi tận gốc đối với cách thức họ thực hiện
kinh doanh.
Khảo sát một số yếu tố - Năm 2004 -
tác động vào sự sẵn sàng của thương mại điện tử
1
Luận văn Cao học QTDN-K12 Chương I: Giới thiệu
Một ví dụ khá tham vọng của TMĐT, các liên minh ảo cho phép các tổ
chức góp chung tài nguyên của họ cho thu lợi kinh tế và vươn tới thò trường
mở rộng. Những phát triển gần đây trong công nghiệp hàng không minh
họa cho khái niệm này, đặc biệt là các liên minh Star and One World. Thay
vì một Công ty đầu tư tài nguyên của họ và chòu rủi ro khi gia nhập thò
trường mới, các Công ty hàng không đã hợp nhất với nhau trong một liên
minh hợp tác để cung cấp các dòch vụ vận chuyển không ngắt quãng, điều
này làm lợi cho họ và và cho công chúng lữ hành. Công nghệ thông tin đã
trở thành nguồn kích hoạt cơ bản cho phép tích hợp theo chiều ngang một
cách thành công của các thành viên thò trường để đạt hưng thònh thông qua
việc trao đổi thông tin điện tử. Việc liên minh cũng yêu cầu các thành viên
phải phối hợp, và thiết lập tiêu chuẩn thực hiện chung cho các quá trình
kinh doanh của họ để bảo đảm thành công của nó. Thành công tương tự
cũng đạt được trong việc tích hợp theo chiều dọc của họ. Ví dụ, vé máy bay
có thể mua được thông qua những nhà bán lẻ, như Orbitz and
Travelocity.com. Do đó, Internet và tất cả các công nghệ thông tin liên đới
của nó đã thay đổi phương tiện tổ chức kinh doanh trong hình thức TMĐT.
Công nghệ thông tin có thể trở thành công cụ mạnh cho phép các tổ chức
đạt được lợi thế cạnh tranh chiến lược chưa từng có trong thò trường của họ.
Điển hình là trong trường hợp của American Airlines và Sabre trong những
năm 1980 (Copeland & McKenny, 1998), công nghệ đã chứng tỏ là một
nhân tố căn bản cho việc cạnh tranh hiệu quả của Công ty và đònh hình lại
cách thức kinh doanh đã được quản lý trong công nghiệp vận chuyển.
Không làm theo mức công nghệ tương đương của các Công ty dẫn đầu
ngành, các Công ty khác khó có thể duy trì cạnh tranh. U.S Justice
Department đã mô tả rằng lợi thế cạnh tranh 1 chiều như việc trở nên độc
quyền khi để lại việc kiểm soát cho một số ít. Do đó, công nghệ thông tin
có tiềm năng để thay đổi tận gốc quang cảnh kinh doanh.
Ngày nay, nhiều tổ chức đang tìm thấy chính bản thân họ trong những tình
huống tương tự. Không làm theo 1 mô hình TMĐT đã đặt họ vào vò trí
không ổn đònh và thiếu tính cạnh tranh, chuyển đến vai trò thấp hơn trong
thò trường của họ. Hơn nữa, việc sống còn có thể đòi hỏi đầu tư lớn vào
công nghệ thông tin để cho phép họ trở thành những doanh nghiệp điện tử
sẵn sàng (e-business ready). Chỉ đơn giản mang đến công nghệ thông tin và
xây dựng cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin để hỗ trợ TMĐT có thể thậm
chí không đảm bảo một cách ý nghóa việc tồn tại lâu dài của doanh nghiệp.
Đưa vào nhiều công nghệ hơn để giải quyết vấn đề có thể không phải là
Khảo sát một số yếu tố - Năm 2004 -
tác động vào sự sẵn sàng của thương mại điện tử
2
Luận văn Cao học QTDN-K12 Chương I: Giới thiệu
câu trả lời cần thiết. Việc điều chỉnh hành vi cá nhân cũng như tổ chức phải
được xem xét. Để đạt được nhiều lợi ích của công nghệ thông tin và
TMĐT, một tổ chức phải đánh giá một cách nghiêm túc cấu trúc và qui
trình của nó (nghóa là, kinh doanh, sản xuất, phân phối, …), và xác đònh
bằng cách nào nó có thể tích hợp hiệu quả công nghệ thông tin vào chính
bản thân để có thể đạt được các mức kết quả thực hiện cao hơn. Bởi vì các
mô hình kinh doanh thì rất khác nhau, chuyển từ một mô hình kinh doanh
bricks and motar (truyền thống) thành 1 mô hình TMĐT thường yêu cầu
việc tái thiết kế hay tái lập tận gốc các qui trình và cấu trúc. Các
framework của Leavitt (1965) và Scott Morton (1995) chỉ ra rằng việc thay
đổi chiến lược tổ chức hay việc sử dụng công nghệ thông tin của nó sẽ ảnh
hưởng sâu sắc đến các lónh vực khác của tổ chức. Do đó, chỉ đơn giản mang
đến các công nghệ Internet thì không thể tự bảo bảo đảm cho việc thành
công TMĐT (v.d., Toys R Us).
Hơn nữa đối với việc thay đổi tổ chức, việc thay đổi hành vi cá nhân cũng
phải xảy ra. Một vài nghiên cứu chủ yếu về quản lý công nghệ thông tin đề
nghò mạnh mẽ rằng việc thực hiện công nghệ thông tin thành công yêu cầu
thay đổi hành vi một cách tích cực (Davis, 1998; Davis & Bagozzi, 1989;
Venkatesh & Davis, 1996, 2000). Thiếu thực hiện những thay đổi như vậy
có thể ngăn trở chuyển đổi; chỉ đơn giản mang đến công nghệ thông tin
không thể tự động dẫn đến việc chấp nhận của nó. Do đó, quản lý việc
thực hiện công nghệ thông tin trong tổ chức có thể chứng minh là một bước
chủ yếu để thực hiện thành công một mô hình TMĐT.
Việc chuyển đổi từ một mô hình bricks and motar (truyền thống) sang một
mô hình TMĐT đưa ra một vài thách thức lớn. Đối với tổ chức, TMĐT
phản ảnh một loại hình kinh doanh mới, và trình bày một mô hình kinh
doanh theo công nghệ thông tin mới theo đó nó phải điều chỉnh thành
những phương pháp hiện hành và việc thực hành quản lý kinh doanh. Mang
đến các công nghệ mới sinh ra một số thách thức không thể vượt qua thông
qua đầu tư thêm vào công nghệ. Tuy nhiên, việc đầu tư tăng thêm có thể có
một số hiệu quả hạn chế trong việc giải quyết vấn đề toàn cục. Trong một
vài trường hợp, nó có thể khuếch đại, làm trầm trọng hay tăng cường vấn
đề (nghóa là hiệu quả trái ngược) khi các qui trình trở nên khó kiềm chế
hơn với tốc độ nhanh hơn hay là bò cô lập. Những thách thức lớn hơn đến từ
việc yêu cầu các giải pháp về TMĐT, và thực hiện (nghóa là, điều chỉnh
thực tiễn và đạt được sự chấp nhận) và tích hợp công nghệ thông tin vào
cấu trúc hiện tại với tầm nhìn là cả tổ chức cùng hoạt động thống nhất với
Khảo sát một số yếu tố - Năm 2004 -
tác động vào sự sẵn sàng của thương mại điện tử
3
Luận văn Cao học QTDN-K12 Chương I: Giới thiệu
nhau. Điều này yêu cầu việc mang lại và cam kết cho các thay đổi tận gốc
tổ chức dẫn đến việc tái lập, phá vỡ mô hình cũ và khởi đầu loại hình kinh
doanh mới. Căn cứ vào động cơ chiến lược nền tảng của TMĐT (nghóa là,
để cạnh tranh hiệu quả; đề ra và cung cấp một dòch vụ không-trùng-lắp cho
thò trường rộng hơn; duy trì, nâng cao hay giành thò phần) và thực hiện IT.
Với TMĐT, các mô hình kinh doanh có khuynh hướng đònh hướng lại tổ
chức theo hướng cạnh tranh trên thò trường toàn cầu thông qua các mạng
điện tử, đặc biệt là Internet. Tương phản với các mô hình kinh doanh truyền
thống, thông tin trở thành nguồn tài nguyên chính. Do đó, việc chú ý lớn
hơn được tập trung vào trao đổi thông tin, cân bằng kiến thức đạt được
thông qua tương tác của tổ chức với các thực thể của nó, và sau đó là tích
hợp và hợp tác hành động, cả bên trong tổ chức và với các tổ chức khác.
Các qui trình hoạt động tập trung vào tối ưu hóa nhiệm vụ cá nhân phải
được tái lập để cho phép tổ chức như là 1 tổng thể nhằm cân bằng thông tin
của nó để đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thò trường, và tận dụng lợi thế của
các liên minh hay đối tác có thể hoặc là giúp giải quyết việc giao hàng hoá
hay dòch vụ, hoặc nâng cao/mở rộng thò trường của nó. Do đó, việc thực
hiện 1 mô hình TMĐT bao gồm việc mang lại những thay đổi chưa hề có
để làm thích nghi tổ chức với môi trường hoạt động mạnh mẽ và kích hoạt
IT, người ta yêu cầu tái lập tổ chức để thích hợp hơn với 1 loại hình kinh
doanh khác. Hammer và Champy (1993) đònh nghóa tái lập là “tư duy lại
một cách cơ bản và thiết kế lại tận gốc các qui trình hoạt động để đạt được
những cải thiện ấn tượng trong những đo lường kết quả thực hiện đương
thời và quan trọng, như chi phí, chất lượng, dòch vụ và tốc độ” (p. 32). Một
nhân tố cơ bản để tái lập là chọc thủng phòng tuyến IT, loại công nghệ mới
giúp tái thiết kế tận gốc và thực hiện các qui trình kinh doanh.
Nhu cầu tái lập trở thành hiển nhiên hơn với TMĐT. Do công nghệ thông
tin cho phép và duy trì những mô hình này, công nghệ thông tin nắm vai trò
lớn trong các phương tiện sản xuất. Việc thay đổi vai trò từ công nghệ
thông tin hỗ trợ hoạt động sang công nghệ thông tin là hạt nhân của 1
doanh nghiệp và trở nên hướng đi quan trọng của sự phát triển doanh
nghiệp dẫn đến thay đổi loại hình (Earl & Kahn, 2001).
Sự sống còn của 1 doanh nghiệp hiện nay xoay quanh việc làm cách nào để
cân bằng tốt giữa công nghệ thông tin và kiến thức của nó. Điều này đặc
biệt đúng với việc đổi mới sản phẩm và dòch vụ khuyến khích thông tin thu
thập được thông qua các giao dòch và tương tác kinh doanh, và kiến thức
tích lũy được của tổ chức (Cohen & Levinthal, 1989, 1990; Hurley & Hult,
Khảo sát một số yếu tố - Năm 2004 -
tác động vào sự sẵn sàng của thương mại điện tử
4
Luận văn Cao học QTDN-K12 Chương I: Giới thiệu
1998; Prahalad & Hamel, 1990). Kiến thức của tổ chức càng lớn, hoặc là sở
hữu nội bộ hay thông qua các liên minh, thì cơ hội đổi mới và sống còn
càng nhiều (Cockburn & Henderson, 1998; Cohen & Levinthal, 1990; Lane
& Lubatkin, 1998; Lane et al., 2001). Công nghệ thông tin giúp phát triển
đổi mới (Dewell & Jones, 2000). Ví dụ, nhiều tổ chức hiện đang chuyển
qua các hệ thống quản lý quan hệ khách hàng (CRM) kích hoạt công nghệ
thông tin để quản lý tương tác của họ với khách hàng, thu được hiểu biết
sâu sắc hơn về nhu cầu của khách hàng của họ, và duy trì lợi thế cạnh tranh
(hay đạt lợi thế cạnh tranh). CRM giúp hấp dẫn, phát triển và duy trì quan
hệ khách hàng thành công theo thời gian (Berry & Parasuraman, 1991;
Day, 2000), và xây dựng lòng trung thành khách hàng (Kohli et al., 2001)
thông qua đối thoại 2 chiều hiệu quả và hữu hiệu (Peppers et al., 1999)
bằng việc hiểu biết hành vi khách hàng, liên lạc ý tưởng với khách hàng để
ảnh hưởng hành vi của họ và khởi động các chiến dòch đổi mới với mục
đích duy trì khách hàng hiện tại và thu hút khách hàng mới (Kannan &
Rao, 2001). Các tổ chức phải cân bằng kiến thức của họ (giữa những yêu
cầu khác) cho CRM để thu lợi từ quan hệ khách hàng (Massey et al., 2001).
Để đổi mới liên tục và thành công, tổ chức phải có khả năng chia sẻ thông
tin và kiến thức cả bên trong và giữa khách hàng và nhà cung cấp thông
qua việc thiết kế các qui trình và cấu trúc của nó (Dewett & Jones, 2000).
Do đó, thực hiện CRM (Customer Relationship Management) nghóa là cân
bằng kiến thức tổ chức qua công nghệ thông tin. Hơn nữa, để thu lợi từ
công nghệ thông tin, tổ chức không phải chỉ thực hiện IT, nó cũng phải
thực hiện những thay đổi tổ chức chủ yếu phản ảnh chiều hướng mới của
nó. CRM song song với những phương pháp và kỹ thuật thu thập kiến thức
khác, như việc khai thác data và quản lý kiến thức, là những ví dụ minh
họa cho tiêu điểm tài nguyên thông tin của mô hình TMĐT.
Chuyển đổi một tổ chức bricks and motar sang TMĐT bao gồm việc đònh
hướng lại những cách thức thực hành và qui trình quanh Internet. Với hầu
hết các tổ chức, việc thay đổi biểu thò các thức quản lý kinh doanh khác
biệt về căn bản. Về mặt này, El Sawy (2001) cho rằng việc tái lập là cần
thiết cho “tư duy lại và thiết kế lại các qui trình hoạt động tại cả hai cấp độ
doanh nghiệp và kênh cung cấp để tận dụng lợi thế kết nối Internet và những
cách thức tạo giá trò mới” (trang 7). Hơn nữa, những thay đổi tái lập cho
phép và xúc tiến dòng thông tin cả bên trong tổ chức và với đối tác kênh
cung cấp của nó. TMĐT cũng là phương tiện cấu trúc tổ chức để tương tác
hữu hiệu và hiệu quả với những tổ chức khác thông qua thò trường điện tử,
là Internet.
Khảo sát một số yếu tố - Năm 2004 -
tác động vào sự sẵn sàng của thương mại điện tử
5
Luận văn Cao học QTDN-K12 Chương I: Giới thiệu
Loại hình TMĐT được phân chia thành các lónh vực như trong nền kinh tế
không có Internet.
B2B (business-to-business): doanh nghiệp thực hiện kinh doanh với
các doanh nghiệp khác thông qua Internet.
B2C (business-to-consumer): các doanh nghiệp bán sản phẩm và
dòch vụ cho khách hàng thông qua Internet.
C2B (consumer-to-business): khách hàng khởi đầu các giao dòch và
mua sản phẩm thông qua Internet (vd. Priceline.com).
C2C (consumer-to-consumer): những cuộc đấu giá trực tuyến thông
dụng nhất, nơi khách hàng trực tiếp mua và bán với nhau (vd.
eBay.com).
G2C (government-to-consumer): chính phủ thực hiện các hoạt động
trực tuyến với khách hàng (vd. U.S. Portal Service).
Mobile commerce (m-commerce): sử dụng các thiết bò không dây
dựa trên sóng vô tuyến như điện thoại di động (cell phone) và máy
trợ lý cá nhân kỹ thuật số (PDAs) để tổ chức các giao dòch TMĐT
thông qua hệ thống liên lạc không dây.
Online banking: truy cập vào các dòch vụ ngân hàng về cá nhân hay
doanh nghiệp từ dòch vụ thương mại trực tuyến hay qua mạng công
cộng như Internet.
II. ĐẶT VẤN ĐỀ
TMĐT đã gây được sự chú ý đại chúng cũng như cộng đồng kinh doanh và
nghiên cứu. Sau đó, hầu như cũng nhanh như khi xuất hiện, TMĐT tự thất
bại nhanh chóng và trở nên mờ nhạt trong nền kinh tế.
Tuy tăng trưởng vô cùng chậm chạp trong những năm gần đây, TMĐT vẫn
là một lónh vực mở rộng vững vàng và mạnh mẽ của nền kinh tế. Các thống
kê của phòng thương mại Mỹ cho thấy tổng doanh số bán lẻ năm 2001 của
TMĐT là 32.6 tỷ USD và chiếm 1% doanh số bán lẻ toàn bộ (năm 2000 là
0.9% của tổng doanh số bán lẻ). Mặc dù số liệu này cho thấy tốc độ tăng
trưởng chậm hơn nhiều so với những năm bùng nổ trước đây, nhưng những
người quan sát thò trường dự báo sự tăng trưởng ổn đònh của TMĐT sẽ được
duy trì trong nhiều năm [17]. Vấn đề là người sử dụng chấp nhận TMĐT ở
mức độ nào? Các yếu tố nào có tác động đáng kể vào sự chấp thuận TMĐT
của người sử dụng?
Ngoài việc quan tâm chính về cơ sở hạ tầng kỹ thuật và điều kiện kinh tế
xã hội, nhận thức của người sử dụng về các hệ thống thương mại điện tử
Khảo sát một số yếu tố - Năm 2004 -
tác động vào sự sẵn sàng của thương mại điện tử
6
Luận văn Cao học QTDN-K12 Chương I: Giới thiệu
cũng là yếu tố quan trọng đóng góp vào sự thành công của việc triển khai,
duy trì và phát triển hệ thống thương mại điện tử. Nhận thức của người sử
dụng đã được nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới dựa căn bản theo mô
hình TAM. Nhiều nhà nghiên cứu đã sử dụng Mô hình chấp thuận công
nghệ (Technology Acceptance Model - TAM) (Davis 1989) để dự đoán sự
chấp thuận của người sử dụng về các ứng dụng thương mại điện tử
(Devaraj 2002; Hsu và Lu; Olson và Boyer 2003). Olson và Boyer (2003)
đã cho rằng ảnh hưởng của khác biệt cá nhân về sự chấp thuận công nghệ
mới như các trang web thương mại điện tử thường không được chú trọng
trong khi Lightner (2003) bảo vệ ý kiến liên quan đến các đặc điểm nhất
đònh về kinh nghiệm mua hàng trực tuyến có quan hệ với các đặc tính nhân
khẩu học. Joongho Ahn, Jinsoo Park, và Dongwon Lee (2001) đã tích hợp
TAM với thuyết nhận thức rủi ro (Theories of perceived risk – TPR) trong
một nghiên cứu thực nghiệm để giải thích sự chấp thuận thương mại điện tử
với mô hình e-CAM (E-commerce Adoption Model).
Như vậy, các yếu tố nào có thể tác động vào nhận thức của cá nhân trong
việc sử dụng các hệ thống thương mại điện tử là một vấn đề quan trọng cần
quan tâm trong các nghiên cứu về nhận thức và hành vi.
Với hiện thực ngày càng phát triển của thương mại điện tử, tôi chọn thực
hiện đề tài “Khảo sát một số yếu tố tác động vào sự sẵn sàng của thương
mại điện tử” với đònh hướng nghiên cứu khám phá trong lónh vực nhận thức
về hoạt động thương mại điện tử B2C.
III. MỤC TIÊU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1. Mục tiêu nghiên cứu
Ở Việt Nam, với cơ sở hạ tầng hạn chế và các điều kiện kinh tế xã hội
chưa được thuận lợi cho việc phát triển thương mại điện tử, nghiên cứu này
đònh hướng tập trung khảo sát một số yếu tố đã được kiểm tra thực nghiệm
trong các nghiên cứu trước đây trên thế giới. Song song với việc kiểm tra
lại các yếu tố tác động vào nhận thức của người sử dụng, nghiên cứu này
khảo sát tính sẵn sàng của người sử dụng với các hệ thống thương mại điện
tử là các website thương mại. Nói cách khác, nghiên cứu tập trung vào
khảo sát hệ thống thương mại điện tử B2C với yếu tố nhận thức là mục
tiêu khảo sát.
Nghiên cứu cũng đònh hướng xác đònh giá trò của một số kiến trúc tác động
vào sự chấp thuận hệ thống thông tin nói chung và thương mại điện tử nói
Khảo sát một số yếu tố - Năm 2004 -
tác động vào sự sẵn sàng của thương mại điện tử
7
Luận văn Cao học QTDN-K12 Chương I: Giới thiệu
riêng, các kiến trúc này được chắt lọc từ những nghiên cứu thực nghiệm
trước đây trên thế giới.
Cuối cùng, luận văn nêu một số đề xuất cho các nghiên cứu tương lai thông
qua một số kết quả tìm được từ nghiên cứu này. Các hàm ý rõ ràng của kết
quả từ tập dữ liệu thực nghiệm cũng sẽ được phân tích và diễn dòch cho phù
hợp môi trường kinh doanh thực tế nhằm cung cấp một số ý tưởng ban đầu
cho những doanh nghiệp nào dự đònh thiết lập và phát triển hệ thống
thương mại điện tử trong hiện tại và tương lai.
2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn trong vấn đề nhận thức của cá
nhân về các hệ thống thương mại điện tử đã sử dụng. Với cỡ mẫu hạn chế
và số lượng các trang web được khảo sát có tính phân tán nên đề tài chỉ
giới hạn trong việc đánh giá một số kiến trúc chính mà không nêu ra một
kết luận nhân quả cho mô hình nghiên cứu.
IV. Ý NGHĨA THỰC TIỄN
Kết quả nghiên cứu sẽ đóng góp vào hiểu biết chung đối với việc chấp
thuận của người sử dụng TMĐT, là một hoạt động kinh tế mới đang rất cần
các nghiên cứu cụ thể cho việc áp dụng thành công trong thực tế. Các yếu
tố tìm thấy trong quá trình nghiên cứu có thể được sử dụng để hoạch đònh
việc thiết lập hệ thống TMĐT trong từng doanh nghiệp cụ thể. Việc này
cũng giúp các doanh nghiệp nhận thức tầm quan trọng của việc nâng cao
hệ thống phục vụ khách hàng trong TMĐT (đối tác, người tiêu thụ,…).
Khảo sát một số yếu tố - Năm 2004 -
tác động vào sự sẵn sàng của thương mại điện tử
8
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét