nắm vững tri thức, kỹ năng và thái độ do chính bản thân ngời học tiến hành trên
lớp hoặc ngoài đời, theo hoặc không theo chơng trình và sách giáo khoa đã ấn
định, tuỳ theo hứng thú khoa học, nghề nghiệp tuỳ theo đặc điểm, thói quen là việc
riêng của từng ngời.
Khi nói tới tự học trong quá trình học tập là nói tới tự học của con ngời
trong giai đoạn đi học, là tự học của học sinh, sinh viên, học viên. Đó là một
khâu của quá trình dạy học, là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản trong quá
trình giáo dục - đào tạo. Nội dung của tự học bao gồm toàn bộ những công việc
học tập do cá nhân và có khi do tập thể học viên tiến hành ngoài những giờ
học
Do tầm quan trọng đặc biệt của hoạt động tự học đối với cuộc đời con
ngời, nhất là con ngời trong thời đại "văn minh trí tuệ" cho nên vấn đề này đã và
đang đợc quan tâm chú ý của toàn xã hội, của các nhà giáo dục. Tính phức tạp
và nan dải của vấn đề tự học không phải ở các quan niệm khác nhau về tự học
mà lại ở chỗ tìm ra những giải pháp nào để nâng cao chất lợng tự học. Nghĩa là
tự học nh thế nào và tổ chức tự học ra sao cho có hiệu quả trong điều kiện hiện
nay. Sự khó khăn phức tạp để giải đáp câu hỏi trên một mặt do sự vận động th-
ờng xuyên của tri thức nhân loại, sự phát triển của phơng pháp dạy học, mặt
khác còn do tự học là một hoạt động "mang đậm sắc thái cá nhân".
Mục tiêu của tự học
Trong từng bài học, giờ học dù ở trên lớp hay nghiên cứu ở nhà học viên
phải luôn đặt ra cho mình mức độ chiếm lĩnh kiến thức đến đâu (nắm hiểu nhớ)
tuỳ theo mục tiêu yêu cầu của từng nội dung học tập làm cơ sở cho việc xác
định nội dung, phơng pháp thực hiện cũng nh thể hiện tính tự giác, tự đào tạo
trong dạy học.
Về nội dung tự học:
Trên cơ sở nội dung, yêu cầu tự học đối với từng bài học để xác định tự
học vấn đề gì, hớng nỗ lực học tập vào những nội dung quan trọng, không tự
7
cho phép mình bỏ qua, bỏ sót các nội dung, nhiệm vụ học tập, ý định tự học đã
dự kiến vì sẽ tạo ra những "lỗ hổng" trong việc nắm nội dung.
Về kế hoạch tự học
Các buổi tự học ở nhà cần phải có kế hoạch tự học, thể hiện phong cách
học khoa học, chủ động. Kế hoạch tự học phải phù hợp với ý đồ tự học cá nhân
qua thời gian thực tế. Quyết tâm thực hiện đúng kế hoạch tự học đã xây dựng
nhng cũng linh hoạt điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tế.
Về phơng pháp tự học
Căn cứ vào yêu cầu và đặc điểm của từng môn học, trình độ nhận thức của cá
nhân và điều kiện cho phép ngời học xác định, lựa chọn những phơng pháp tự học
phù hợp. Thờng xuyên, coi trọng việc cải tiến phơng pháp học, tránh học theo lối
mòn, bắt trớc máy móc kinh nghiệm tự học của ngời khác.
Về kiểm tra đánh giá
Tính tích cực học tập và đào tạo đòi hỏi mỗi học viên phải luôn luôn tự
kiểm tra, tự đánh giá nghiêm khắc hoạt động tự học của mình, để phát huy nhân
lên những mặt tốt, cách học tốt và kịp thời khắc phục những cách làm, cách học
cha hiệu quả.
Về các yếu tố bảo đảm
Các điều kiện nh tập trung thời gian tự học, giáo trình, tài liệu, các phơng
tiện dạy học và vật chất bảo đảm khác là một yếu tố của nâng cao chất lợng tự
học, cần khai thác, phát huy chúng trong quá trình tự học.
Các nhân tố trên có mối quan hệ tác động lẫn nhau, muốn nâng cao chất
lợng tự học đòi hỏi phải nâng cao chất lợng của từng nhân tố ấy, trong đó phơng
pháp tự học đóng vai trò đặc biệt quan trọng.
Về đặc điểm hoạt động tự học
Hoạt động tự học của học viên trong các nhà trờng quân sự về thực chất
cũng là một dạng của hoạt động quân sự. Do đó nó phản ánh khá đầy đủ các
đặc trng và tính chất chung của hoạt động quân sự nh: ý nghĩa xã hội của mục
8
đích hoạt động, yêu cầu cao về tổ chức kỷ luật, sự căng thẳng về thế lực và tinh
thần sự thiếu thốn về vật chất Tuy nhiên chúng ta có thể thấy hoạt động tự học
có những đặc điểm nổi bật sau đây:
Hoạt động tự học của học viên trong các nhà trờng quân đội thuộc dạng
tự học trong quá trình đào tạo, là một trong hai khâu chủ yếu của quá trình dạy
học. Đó là quá trình tự tổ chức của ngời học để giải quyết các nhiệm vụ học tập
tại trờng.
Đã từ lâu, cả trên phơng diện lý luận và thực tiễn s phạm ngời ta đã xác
định rằng: tính tự giác, tính tích cực và chủ động là sức mạnh bên trong của ng-
ời học, giúp họ nắm sâu nội dung học tập. Tự học không đơn giản là tự ý thức,
tự nhu cầu của chủ thể mà là yêu cầu khách quan của quá trình học tập. Nếu tự
học thông thờng (tự học hàng ngày) của mỗi ngời để biết làm một công việc
hoặc chiếm lĩnh một tri thức nào đó thờng đợc bắt nguồn từ nhu cầu và hứng
thú cá nhân thì ngợc lại tự học trong quá trình đào tạo là yêu cầu mang tính xã
hội đối với mỗi ngời học. Do đó việc chuyển các nhu cầu xã hội thành nhu cầu
của ngời học, thành động cơ thúc đẩy tính tích cực, chủ động của họ là khâu đặc
biệt quan trọng. ở đây không hẳn chỉ có tự ý thức của ngời học mà còn là trách
nhiệm của đội ngũ giảng dạy và quản lý quá trình đào tạo. Tiến hành tự học
hàng ngày cũng nh tự học trong nhà trờng đều diễn ra quá trình đấu tranh động
cơ lựa chọn phơng thức hoạt động, nhng trong quá trình tự học hàng ngày thì
các động cơ và phơng thức hoạt động đã đợc định hình khá rõ trớc khi bắt đầu
hoạt động này. Còn ngời học viên quân sự phải trải qua một quá trình lâu dài
hơn, gắn liền với sự tác động của hệ thống giáo dục trong nhà trờng thông qua
mục tiêu yêu cầu đào tạo và các phơng thức tác động khác. Tự học hàng ngày
xuất phát từ lợi ích cá nhân, còn xuất phát điểm tự học trong nhà trờng là từ yêu
cầu của quá trình giáo dục - đào tạo và sự tơng hợp giữa các lợi ích xã hội và lợi
ích cá nhân, giữa yêu cầu của quân đội về phẩm chất, năng lực ngời cán bộ tơng
lai với mong muốn phấn đấu vơn lên của mỗi học viên là một trong những khâu
9
trọng điểm để giải quyết vấn đề tự học.
Hoạt động tự học hiện nay của học viên trong nhà trờng quân sự đang có
sự gia tăng về khối lợng tri thức, kỹ xảo, kỹ năng trong khi thời gian đào tạo vẫn
giữ nguyên. Do đó, không ít học viên có cảm giác "quá tải".
Bản thân hoạt động học tập đã là một hoạt động đòi hỏi sức căng thẳng
về trí tuệ, ý trí và cảm xúc tình cảm rất lớn bởi sự giống nhau của các tình
huống t duy phải tìm ra những cái đã biết và tìm ra cái cha biết, phải chịu sự
kiểm tra thờng xuyên của đội ngũ giảng dạy, quản lý.
Do đó tự học của học viên trong nhà trờng quân đội diễn ra trong môi tr-
ờng quan hệ đặc biệt. ở đây, mối quan hệ giữa ngời dạy, ngời học không chỉ là
quan hệ thầy - trò mà còn là quan hệ "đồng đội" đồng chí, quan hệ cấp trên với
cấp dới theo những đòi hỏi của điều lệnh quân đội. Của hoạt động quân sự,
đồng thời lại có sự tổ chức, quản lý chặt chẽ đáp ứng yêu cầu của nhà trờng
quân đội. Do đó những đòi hỏi về tự học của giáo viên đối với học viên rất cao
về tinh thần trách nhiệm, không những vậy, tự học của học viên trong nhà trờng
quân đội còn luôn gắn với việc tự rèn luyện các phẩm chất nhân cách khác. Đây
vừa là một yêu cầu vừa là một đặc trng nổi bật của các nhà trờng quân đội.
1.1.2. Khái niệm phơng pháp tự học
Quá trình dạy học là một hệ thống trong đó hoạt động học là một trong
những nhân tố trung tâm. Sự phát triển của lý luận dạy học ngày nay đang có xu h-
ớng coi hoạt động học là một trong những nhân tố trung tâm của QTDH.
Học là một hệ thống có tính đa dạng nhằm đảm bảo cho học viên hoàn
thành tốt nhiệm vụ học tập. Trong đó hoạt động tự học (HĐTH) là một bộ phận
không thể tách rời mà học viên phải tiến hành với một ý thức và năng lực, tự tổ
chức, tự điều khiển ở trình độ cao.
Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng năng lực trí tuệ, và có khi
cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình, cả động cơ
tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan, để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết
10
nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình. Đây chính là quá
trình nỗ lực chiếm lĩnh tri thức của bản thân ngời học bằng hoạt động của chính
mình hớng tới mục đích nhất định.
Tự học là hình thức học tập độc lập sáng tạo của ngời học, nhằm lĩnh hội,
củng cố và vận dụng các kiến thức kỷ xảo, kỹ năng, tự học là một hoạt động
nhân thức, quá trình nhận thức của mình một cách độc lập, sáng tạo, để thực
hiện tốt việc tiếp thu kiến thức, xử lý và tích lũy kiến thức, cũng nh rèn luyện
các kỹ xảo, kỹ năng nghề nghiệp và phát triển t duy khoa học. Trong quá trình
tự học, ngời học, tự xác định mục tiêu sắp xếp bố trí công việc theo một trình tự
hợp lý; phân phối thời gian cho từng công việc; lựa chọn địa điểm và phơng
tiện; tự huy động năng lực cá nhân để hoàn thành từng công việc; tự kiểm tra
và tự điều chỉnh hoạt động tự học của mình để hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập
đặt ra.
Tự học là hoạt động nhận thức của cá nhân do chính bản thân học viên
tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không theo chơng trình và sách
giáo khoa đã đợc ấn định, tùy theo hứng thú khoa học và nghề nghiệp, tuỳ theo
trình độ nhận thức về nhiệm vụ và trách nhiệm, tuỳ theo đặc điểm thói quen
làm việc của từng học viên.
Phơng pháp tự học là cách thức tự xác định mục tiêu, yêu cầu, tự xác
định nội dung học tập, tự xây dựng kế hoạch học tập và lựa chọn phơng pháp
học tập cho phù hợp với khả năng và trình độ của ngời học.
Trong quá trình tự học, việc học viên có ý thức thờng xuyên, tự kiểm tra
đánh giá hoạt động của mình, kết hợp với kiểm tra đánh giá của giáo viên có ý
nghĩa rất quan trọng, giúp cho học viên nhận ra những sai lầm, thiếu xót, những
khó khăn mà học viên sẽ gặp phải trong quá trình học tập. Từ đó học viên sẽ tự
khẳng định mình, sẽ củng cố đợc niềm tin, đồng thời tự mình đề xuất đợc
những giải pháp thoả đáng, để điều chỉnh và thúc đẩy hoạt động tự học của
mình vận động đi lên.
11
Nh vậy phơng pháp dạy học và phơng pháp tự học có mối quan hệ biện
chứng không tách rời nhau, nếu phơng pháp dạy học tốt thì ngời học sẽ có ph-
ơng pháp tự học tốt và ngợc lại phơng pháp dạy học không tốt sẽ gây cho ngời
học thói trông chờ ỷ lại phụ thuộc quá nhiều vào ngời dạy, phải dạy làm sao để
sau khi nghe giảng học viên phải hoàn thiện chủ đề vừa học, chỉnh lý, bổ sung
những vấn đề còn thiếu hụt, chế biến thông tin theo ý hiểu của mình để nắm
chắc nội dung, phải tự trả lời những câu hỏi về nội dung cơ bản của bài, dới
những góc độ khác nhau, chắp nối với kiến thức cũ.
Phơng pháp dạy học giữ vai trò đặc biệt quan trọng không thể thiếu đợc
trong quá trình dạy học. Vì phơng pháp dạy học, hớng dẫn, chỉ đạo hoạt động
học tập của học viên. Nhng thực tế cho thấy rằng giáo viên dù cho kiến thức có
uyên thâm đến đâu, phơng pháp giảng dạy có hay đến mấy nhng học viên
không có phơng pháp tự học tốt, không chịu đầu t thời gian, nỗ lực, khát khao,
say mê, không có kế hoạch, phơng pháp, nội dung hợp lý, thì kết quả học tập
không thể đạt đợc theo mục tiêu yêu cầu giáo dục đào tạo, chính vì vậy vai trò
của phơng pháp tự học, luôn giữ một vị trí hết sức quan trọng, là yếu tố trực
tiếp quyết định đến chất lợng hiệu quả của hoạt động học tập. HĐTH có liên
quan chặt chẽ với hoạt động dạy, nhng nó có tính độc lập và mang đậm sắc thái
cá nhân.
Tự học với t cách là một hoạt động, để hoạt động có kết quả cần phải có
phơng pháp đúng nh vậy, để tự học có hiệu quả, ngời học không những cần
phải chịu khó, say mê mà còn phải có phơng pháp tự học hợp lý. I.P.Pavlôv đã
nói "Tất cả các vấn đề là ở chỗ có phơng pháp tốt khi có phơng pháp tốt thì
ngay cả một ngời không có nhiều khả năng cũng có thể làm đợc nhiều việc còn
trong trờng hợp phơng pháp không tốt thì ngay cả một thiên tài cũng sẽ làm
việc một cách vô ích và không thể thu đợc số liệu chính xác có giá trị".
Tự học trớc hết làm cho kiến thức thu đợc qua học tập, có giáo viên hớng
dẫn trực tiếp hay gián tiếp trở lên sâu sắc, vững chắc, tạo ra cơ sở để vận dụng
12
vào thực tiễn học tập và công tác của mỗi học viên.
Tự học hoàn toàn thì rất khó khăn, để đạt đợc mục tiêu chiếm lĩnh kiến
thức mới một cách đúng hớng cần vai trò chỉ đạo hớng dẫn của giáo viên, tranh
luận của tập thể (tổ, nhóm, lớp), vai trò của ngời giáo viên rất quan trọng, nhng
chỉ giữ vai trò tổ chức, chỉ đạo gián tiếp.
Vậy, có thể hiểu phơng pháp tự học là cách thức thao tác của chủ thể
(học) tự mình tìm kiếm kiến thức mới (mới đối với học viên). Hình thành kỹ
năng, kỹ xảo bằng hành động của chính mình khi đợc sự hớng dẫn, chỉ đạo
gián tiếp của giáo viên.
1.1.3. Khái niệm phơng pháp dạy - tự học.
(Bồi dỡng phơng pháp tự học)
Phơng pháp dạy - tự học (PPD - TH) có thể hiểu là dạy những kiến
thức rất cơ bản, tức là những kiến thức nền tảng có giá trị lâu dài và dạy
cách xử lý kiến thức (từ các kiến thức cơ bản suy ra các kiến thức khác, vận
dụng kiến thức vào cuộc sống, phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề làm nảy
sinh những kiến thức mới).
Từ đó cách dạy không chỉ truyền thụ và cách học không chỉ còn tiếp thu.
Quan trọng nhất của PPD-TH là phải làm sao cho ngời học biết xử lý kiến thức.
Muốn vậy thầy không đợc "làm sẵn" rồi "truyền thụ" mà chỉ có thể gợi mở để
học viên tự làm lấy đến mức cao nhất, huy động tất cả khả năng của mình, khi
cần thiết giáo viên có thể gợi ý để học viên tìm phơng pháp giải quyết bằng
kiến thức của mình.
Với phơng pháp này, ta cũng sẽ nhận thức rằng bản thân việc dạy không
thể phát huy tác dụng trực tiếp đến công tác chuyên môn mà chỉ có thể phát
huy tác dụng gián tiếp qua kết quả học tập. Nếu học không ra học, thì ngời dạy
dù có hay đến mấy, dễ hiểu, dễ ghi, dễ nhớ đến đâu điều đó chẳng có nghĩa gì.
Học là lý do tồn tại của dạy, và dạy chỉ đợc đánh giá cao khi nó đa đến học tốt
(học tốt cơ động cần hiểu là kiến thức phải vững chắc, biết xử lý kiến thức và
13
trởng thành lên về nhân cách).
Đến đây ta thấy PPD-TH mở ra một bớc đột phá mới trong QTDH, giúp học
viên tự mình chiếm lĩnh kiến thức mới, và ta có khái niệm phơng pháp dạy - tự học
là cách thức tiến hành của giáo viên nhằm chỉ đạo, hớng dẫn, gợi mở nêu vấn đề tổ
chức hoạt động học của học viên, giúp học viên tự mình tìm ra kiến thức mới, hình
thành kỹ xảo, kỹ năng. Giúp ngời học lĩnh hội kiến thức mới có hiệu quả sau bài
giảng thông qua bút ký, đọc tài liệu. Mở rộng kiến thức đào sâu củng cố, vận dụng
các kiến thức giải quyết các nhiệm vụ trong thực tiễn, phát triển t duy độc lập sáng
tạo, xây dựng niền tin khoa học chủ động tích cực, tạo cho ngời học nếp sống khoa
học rèn luyện phẩm chất nhân cách, kiên trì say mê hứng thú học tập. Hoàn thiện
các kỹ năng, kỹ xảo trau dồi khả năng vận dụng kiến thức trong học tập công tác,
hình thành ở học viên phơng pháp tự học quản lý học tập của bản thân. Chủ động
lựa chọn phơng pháp tự học cho phù hợp với khả năng của bản thân mình phù hợp
với điều kiện hoàn cảnh. Củng cố, đồng thời tránh đợc những lạc hậu trớc những
biến đổi của khoa học công nghệ tiến tiến, đặc biệt là khoa học kỹ thuật quân sự
trong thời đại ngày nay, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ luôn phát triển của quân đội.
Trong quá trình tự học, ngời học phải tự tổ chức, tự kiểm tra, tự quản lý
hoạt động, tự học của mìn, dới sự điều khiển gián tiếp của giáo viên, sự quản lý
trực tiếp của cán bộ quản lý chuyên trách. Do đó sau khi tốt nghiệp họ đã nắm đ-
ợc cách thức tổ chức, quản lý hoạt động tự học, có thể đảm nhiệm đợc chức trách
ngời lãnh đạo, chỉ huy nhà s phạm, quản lý giáo dục, bộ đội, tổ chức quản lý
hoạt động tự học của cấp dới và chiến sĩ một cách có hiệu quả. Đồng thời làm
phong phú hoàn thiện vốn hiểu biết của mình.
1.2. Thực trạng dạy học ở trờng QSQK II trong những năm qua
1.2.1. Đặc điểm tình hình
Do đặc điểm là một trờng quân sự trực thuộc Quân khu II, đối tợng học
viên đào tạo của nhà trờng hết sức phong phú, đa dạng đối tợng chủ yếu là đào
tạo hạ sĩ quan, ngoài ra nhà trờng còn đào tạo nhiều đối tợng khác nh: chuyển
14
loại cán bộ chính trị, bổ túc văn hoá cho cán bộ cấp phân đội, đào tạo cán bộ
trung đội trởng, trung đội phó. Nhà trờng là một trờng đào tạo cán bộ, là một
đơn vị quân đội một tổ chức chiến đấu, vừa làm nhiệm vụ đào tạo, vừa sẵn sàng
chiến đấu bảo vệ Tổ quốc mặc dù nhà trờng có quy trình đào tạo chặt chẽ, luôn
tuân thủ nội dung chơng trình, hình thức tổ chức, đã lựa chọn, chơng trình luôn
bám sát, mục tiêu, yêu cầu đào tạo đã đề ra. Song cha thực sự phát huy đợc tính
chủ động sáng tạo của giáo viên và học viên trong quá trình dạy học. Đối tợng
học viên bao gồm nhiều dân tộc khác nhau, trình độ nhận thức không đồng
đều, đặc biệt là số học viên thuộc các dân tộc thiếu số, trình độ nhận thức còn
rất chậm, chính vì vậy việc trang bị cho học viên phơng pháp tự học là rất cần
thiết, mà nhà trờng phải trang bị lại cho họ trong quá trình đào tạo.
Những đặc điểm trên đã tri phối đến quá trình đào tạo của nhà trờng, đối
tợng đợc đào tạo ở các trình độ khác nhau, nội dung chơng trình tuỳ theo cấp
học viên nên độ nông sâu cũng khác nhau dẫn đến gặp nhiều khó khăn trong
biên soạn giáo trình, giáo án, nhất là việc lựa chọn và vận dụng PPDH còn
nhiều bất cập với từng đối tợng đợc đào tạo.
Khắc phục những khó khăn trên, từ khi thành lập đến nay trờng QSQK II
đã đào tạo hàng vạn cán bộ, sĩ quan, hạ sĩ quan, đã đáp ứng đợc yêu cầu hoạt
động trên các tuyến biên giới phía Bắc. Hầu hết cán bộ, sĩ quan, hạ sĩ quan có
phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ
chủ quyền an ninh biên giới Tổ quốc.
15
1.2.2. Thực trạng dạy học ở Trờng quân sự Quân khu II
1.2.2.1. Thực trạng hoạt động giảng dạy của giáo viên
Thực trạng việc giảng dạy của giáo viên trong những năm qua về cơ bản
đã làm tốt vai trò của mình trong quá trình giảng dạy. Tuy nhiên việc lựa chọn
và sử dụng các PPDH vẫn còn hạn chế, cha cải tiến đổi mới phơng pháp giảng
dạy cho phù hợp với yêu cầu giáo dục đào tạo trong giai đoạn hiện nay. Đa phần
giáo viên vẫn sử dụng các PPDH thụ động, lấy hoạt động dạy làm nhân tố quyết
định sự phát triển nhân cách học viên. Các hoạt động dạy là trung tâm của QTDH,
thực trạng đó đợc biểu hiện trên những khía cạnh sau:
Nhìn chung giáo viên cha làm tốt công tác hớng dẫn học viên nghiên cứu
tài liệu, sách giáo khoa, các văn kiện nghị quyết của Đảng, các tài liệu học tập.
Qua điều tra 200 học viên ở trờng QSQK II có 70% học viên trả lời, giáo
viên không thờng xuyên hớng dẫn học viên nghiên cứu tài liệu nói trên. Và qua
toạ đàm với các đồng chí giáo viên ở trờng thì đại đa số nhất trí với ý kiến của
học viên, Giáo viên chỉ dừng lại ở việc giới thiệu tài liệu, thiếu tập trung và còn
hời hợt, cha hớng dẫn học viên cách đọc sách, cách bút ký khi đọc, dẫn đến
làm tốn nhiều thời gian và công sức của học viên trong học tập, lãng phí thời
gian một cách vô ích.
Trong giảng bài, giáo viên chủ yếu hớng vào việc thực hiện chức năng
truyền thụ, thầy giảng, trò ghi chép học thuộc. Qua điều tra 200 học viên ở tr-
ờng có 76% ý kiến trả lời trong giảng bài giáo viên thờng xuyên đọc cho học
viên chép sau đó phân tích, hoặc ngợc lại. Trao đổi với các đồng chí giáo viên
thì đại đa số ý kiến cho rằng chủ yếu là đọc cho học viên chép rồi phân tích,
cha chú ý đến chức năng tổ chức, điểu chỉnh hoạt động nhận thức của học
viên, thầy là nhân vật trung tâm, thầy cứ việc truyền thụ trò cứ việc tiếp thu,
không ai đợc phép nghi ngờ cách dạy này có thể gọi là "độc thoại" vì chỉ có
thầy truyền thụ, áp đặt và vì thầy truyền thụ nên trò phải tiếp thu không đợc
bàn cãi.
16
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét