thị trường quốc tế. Cơ sở để các bên tiến hành mua bán và thanh toán cho nhau là
hợp đồng ngoại thương.
Thanh toán phi ngoại thương là việc thực hiện thanh toán không liên quan đến
hàng hóa xuất nhập khẩu cũng như cung ứng lao vụ cho nước ngoài, tức là thanh
toán cho các hoạt động không mang tính thương mại. Đó là việc chi trả các chi phí
cho cơ quan ngoại giao ở nước ngoài, các cho phí đi lại ăn ở của các đoàn khách
nhà nước, tổ chức và cá nhân, các nguồn tiền quà biếu, trợ cấp của cá nhân người
nước ngoài cho cá nhân người trong nước, các nguồn trợ cấp của một tổ chức từ
thiện nước ngoài cho tổ chức đoàn thể trong nước.
1.2.
Vai trò của Thanh toán quốc tế
a.
Vai trò của Thanh toán quốc tế đối với nền kinh tế
Trước xu thế kinh tế thế giới ngày càng được quốc tế hóa, các quốc gia đang ra
sức phát triển kinh tế thị trường, mở cửa, hợp tác và hội nhập. Thanh toán quốc tế
trở thành chiếc cầu nối giữa kinh tế trong nước và kinh tế thế giơí, có tác dụng bôi
trơn và thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ, đầu tư nước
ngoài, thu hút kiều hối và các quan hệ tài chính, tín dụng quốc tế khác.Trong bối
cảnh hiện nay, mỗi quốc gia đều đặt hoạt động kinh tế đối ngoại lên hàng đầu thì
vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế càng đặc biệt quan trọng trong nền kinh
tế quốc dân nói chung và hoạt động kinh tế đối ngoại nói riêng.
Thanh toán quốc tế là khâu mua bán quan trọng trong quá trình mua bán hàng hóa
dịch vụ giữa các cá nhân,tổ chức thuộc các quốc gia khác nhau. Nếu không có
hoạt động thanh toán quốc tế thì hoạt động kinh tế đối ngoại khó mà tồn tại và
phát triển được. Nếu hoạt động thanh toán quốc tế được nhanh chóng, an toàn,
chính xác sẽ giải quyết được mối quan hệ lưu thông hàng hóa tiền tệ một cách trôi
chảy và hiệu quả. Về giác độ kinh doanh, người mua thanh toán, người bán giao
hàng, thể hiện chất lượng của một chu kì kinh doanh, phản ánh hiệu quả kinh tế tài
chính trong hoạt động các doanh nghiệp.
b.
Vai trò của TTQT đối với ngân hàng
-
Mối quan hệ giữa ngân hàng với TTQT
Trong thương mại quốc tế, không phải lúc nào các nhà xuất nhập khẩu cũng có
thể thanh toán tiền hàng trực tiếp cho nhau, mà thường phải thông qua NHTM với
mạng lưới chi nhánh và hệ thống ngân hàng đại lý rộng khắp toàn cầu. Khi thay
mặt khách hàng thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế, các ngân hàng trở thành cầu
nối trung gian thanh toán giữa hai bên mua bán.
Các ngân hàng tiến hành thanh toán theo yêu cầu của khách hàng, bảo vệ quyền
lợi cho khách hàng trong giao dịch thanh toán, tư vấn, hướng dẫn khách hàng
những biện pháp kĩ thuật nghiệp vụ TTQT nhằm hạn chế rủi ro, tạo sự tin tưởng
cho khách hàng trong giao dịch mua bán với nước ngoài.
Trong quá trình thực hiện thanh toán quốc tế, khách hàng không
đủ năng lực về vốn sẽ cần đến sự tài trợ của ngân hàng, ngân hàng sẽ thực hiện tài
trợ xuất nhập khẩu cho khách hàng một cách chủ động và tích cực.
TTQT – hoạt động sinh lời của NHTM
Ngày nay, hoạt động TTQT là một dịch vụ trở nên quan trọng đối với các NHTM,
nó đem lại nguồn thu đáng kể không những về số lượng tuyệt đối mà cả về tỷ
trọng. TTQT còn là một mắt xích quan trọng trong việc chắp nối và thcus đẩy phát
triển các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng như kinh doanh ngoại tệ, tài
trợ xuất nhập khẩu, bảo lãnh ngân hàng trong ngoại thương, tăng cường vốn huy
động, đặc biệt là vốn bằng ngoại tệ…
Việc hoàn thiện và phát triển hoạt động TTQT có vai trò hết súc quan trọng đối
với hoạt động ngân hàng, nó không chỉ là một hoạt động thanh toán thuần túy, mà
còn là khâu trung tâm không thể thiếu trong dây chuyền hoạt động kinh doanh, bổ
sung và hỗ trợ các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng.
Thông qua cung cấp dịch vụ TTQT cho khách hàng, ngân hàng thu một khoản phí
để bù đắp các chi phí của ngân hàng và tạo ra lợi nhuận kinh doanh cần thiết. Tùy
theo các phương thức thanh toán, môi trường cạnh tranh và độ tín nhiệm của
khách hàng mà biểu phí mà mức phí dịch vụ áp dụng là khác nhau cho các khách
hàng khác nhau. Biểu phí dịch vụ TTQT tạo nên doanh thu và lợi nhuận của
NHTM.
Đối với NHTM hiện đại thì thu nhập từ phí dịch vụ có xu hướng tăng không
những cả về số lượng mà cả về tỷ trọng. Hơn nữa, các NHTM ngày nay hoạt động
là đa năng, tạo ra một dây chuyền kinh doanh khép kín, mỗi nghiệp vụ tạo ra một
mắt xích không thể thiếu, trong đó hoạt động TTQT được xác định là hoạt động
căn bản, làm tiền đề cho các nghiệp vụ khác phát triển như kinh doanh ngoại tệ,
tào trợ xuất nhập khẩu, bảo lãnh ngân hàng trong ngoại thương…
1.3.
Các phương thức TTQT chủ yếu
1 ) Phương thức ứng trước – advanced payment
a. Khái niệm
Người mua chấp nhận giá hàng của người bán và chuyển tiền thanh toán cùng
với đơn đặt hàng chắc chắn (không hủy ngang), nghĩa là việc thanh toán được
thực hiện trước khi hàng hóa được bán, gửi đi.
c.
Ưu điểm đối với các bên:
Đối với nhà nhập khẩu
- Khả năng chắc chắn nhận được hàng hóa ngay cả khi nhà xuất khẩu vì một lý do
nào đó không muốn giao hàng
- Do thanh toán trước nên người nhập khẩu có thể thương lượng với nhà xuất khẩu
để được giảm giá.
Đối với nhà xuất khẩu
- Do được thanh toán trước, nên nhà xuất khẩu tránh được rủi ro vỡ nợ từ phía nhà
nhập khẩu.
- Tiết kiệm được chi phí quản lý và kiểm soát tín dụng.
- Do nhận được tiền thanh toán trước, nên trạng thái tiền tệ của nhà xuất khẩu
được tăng cường.
d.
Rủi ro và trách nhiệm đối với các bên:
Đối với nhà nhập khẩu:
Uy tín và khả năng của người bán: Sau khi nhận tiền, nhà xuất khẩu có thể chủ
tâm không giao hàng, giao hàng thiếu, không có khả năng giao như thỏa thuận,
hoặc thậm chí bị phá sản. Để tránh rủi ro này, nhà nhập khẩu có thể yêu cầu một
bảo lãnh thực hiện hợp đồng hay một dạng bảo lãnh khác từ ngân hàng phục vụ
nhà xuất khẩu.
Hàng hóa có được bảo hiểm đầy đủ trong quá trình vận chuyển? Người hưởng lợi
bảo hiểm là người nhập khẩu ngay ca trong trường hợp nhà xuất khẩu mua bảo
hiểm hàng hóa.
Đối với nhà xuất khẩu:
Sau khi đặt hàng, nhà nhập khẩu không thực hiện chuyển tiền trước, trong khi đó
hàng hóa đã được nhà xuất khẩu thực hiện thu mua, nên nhà xuất khẩu có thể phải
chịu chi phí quản lý, chi phí lưu kho, tiền bảo hiểm, hoặc nếu như hàng hóa đã
được gửi đi, thì phải chở hàng quay về và phải tìm khách hàng mua khác rất tốn
kém hay phải giảm giá bán.
Người bán phải giao hàng khi nhận được xác nhận của ngân hang phục vụ mình là
tiền thanh toán chuyển đến đã được ghi có vào tài khoản của người bán.
Khi đã nhận được tiền hàng thanh toán đầy đủ, người bán có nghĩa vụ bảo đảm
giao hàng theo đúng đơn đặt hàng của người mua, đồng thời thu xếp vận chuyển
và mua bảo hiểm cho hàng hóa nếu người bán chịu trách nhiệm làm việc này.
2) Phương thức ghi sổ - Open account
a) Khái niệm:
Là phương thức thanh toán, trong đó nhà xuất khẩu sau khi hoàn thành giao
hàng thì ghi nợ tài khoản cho bên nhập khẩu vào một cuốn sổ theo dõi và việc
thanh toán các khoản nợ này được thực hiện thông thường theo định kì như đã
thỏa thuận.
b) Đặc điểm:
- Không có sự tham gia của ngân hàng với với chức năng là mở tài khoản và
thực hiện thanh toán.
- Chỉ mở tài khoản đơn biên, không mở tài khoản song biên. Nếu người nhập
khẩu mở tài khoản để ghi thì tài khoản này chỉ là tài khoản theo dõi, không có
hiệu lực thanh quyết toán.
- Chỉ có hai bên tham gia thanh toán là nhà xuất khẩu và NK.
- Hai bên mua bán phải thực sự tin tưởng lẫn nhau.
- Dùng chủ yếu trong mua bán hàng đổi hàng hay cho một loạt các chuyến
hàng thường xuyên, định kì trong một thời gian nhất định.
- Giá hàng trong phương thức ghi sổ thường cao hươn giá hàng bán trả tiền
ngay.
3. Phương thức chuyển tiền – Remittance
a/ Khái niệm và đặc điểm
Chuyển tiền là phương thức thanh toán, trong đó khách hàng (người chuyển
tiền) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho một
người khác (người hưởng lợi) theo một địa chỉ nhất định và trong một thời gian
nhất định.
Là phương thức đơn giản, người chuyển tiền và người nhận tiền thanh toán
trực tiếp với nhau.
Ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian, và hưởng phí.
Trong thanh toán chuyển tiền, việc có trả tiền hay không phụ thuộc vào
thiện chí của người mua. Người mua sau khi nhận hàng có thể không tiến hành
chuyển tiền, hoặc cố tình dây dưa, kéo dài thời hạn chuyển tiền nhằm chiếm dụng
vốn của người bán do đó làm cho quyền lợi của người bán không được đảm bảo.
Chỉ được áp dụng trong các trường hợp các bên mua bán có uy tín và tin
cậy lẫn nhau.
4. Phương thức nhờ thu – Payment Collection
a/ Khái niệm và đặc điểm:
Nhờ thu là phương thức thanh toán, trong đó, bên bán (nhà XK) sau khi giao
hàng hay cung ứng dịch vụ, ủy thác cho ngân hàng phục vụ mình xuất trình bộ
chứng từ thông qua ngân hàng thu hộ cho bên mua (nhà NK) để được thanh toán,
chấp nhận hối phiếu hay chấp nhận các điều kiện và điều khoản khác.
Trong phương thức nhờ thu, các ngân hàng tham gia vào quá trình thanh toán một
cách sâu rộng và toàn diện hơn phương thức ứng trước hay ghi sổ. Mức độ tham
gia của ngân hàng vào quá trình nhờ thu phụ thuộc hoàn toàn vào nội dung các chỉ
thị và những gì mà bán người ủy quyền cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ.
b/ Các bên tham gia:
Người ủy nhiệm thu (Principal): Là người yêu cầu ngân hàng phục vụ mình thu hộ
tiền. Người ủy nhiệm thường là người xuất khẩu, hoặc người kí phát hối phiếu.
Ngân hàng chuyển nhờ thu (Remitting bank), hay ngân hàng gửi chứng từ
(Sending bank): Là ngân hàng theo yêu cầu của người ủy nhiệm, chấp nhận
chuyển nhờ thu đến một ngân hàng ở gần và thuận tiện với người trả tiền.
Ngân hàng thu hộ (Collecting bank): Là ngân hàng ở nước người mua nhận nhờ
thu từ ngân hàng gửi nhờ thu và thực hiện thu tiền từ người mua theo các điều
kiện ghi trong Lệnh nhờ thu.
Ngân hàng xuất trình (Presenting bank): Nếu người trả tiền có quan hệ tài khoản
với ngân hàng thu hộ, thì ngân hàng thu hộ đồng thời là ngân hàng xuất trình.Nếu
người trả tiền không có quan hệ tài khoản với ngân hàng thu hộ, thì ngân hàng
phục vụ người mua là ngân hàng xuất trình
Người trả tiền hay người thụ trái (Drawee): Là người mà nhờ thu được xuất trình
để thanh toán và chấp nhận thanh toán. Nguời trả tiền thường là người nhập khẩu
hay người mua.
Ưu điểm của nhờ thu:
Đối với người bán: Có ngân hàng phục vụ mình tham gia với vai trò là ngân hàng
đại lý cho mình. NH phục vụ người bán có thể tùy chọn NHTH. Người bán có
được các đại lý uy tín
Và được thừa nhận là các NH, ngay cả tại nước người mua. Hơn nữa, toàn bộ quy
trình nhờ thu được xử lý theo một quy tắc và tập quán thực hành ngân hàng quốc
tế thống nhất (URC). Chính vì thế mà người bán có được vị thế và điều kiện tốt
hơn trong việc xử lý các tình huống khi mà người mua không thanh toán hoặc
chấp nhận thanh toán.
Đối với người mua: Nếu không tính đến các điều kiện đặc biệt, thì người mua chỉ
trả tiền khi sau khi hàng đã tới đích; hơn nữa việc nhận hàng thường diễn ra không
muộn hơn thời điểm phải trả tiền.
1.2 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
1.2.1 Khái niệm:
Điều 2, UCP 600 định nghĩa về Tín dụng chứng từ như sau: Tín dụng chứng từ
là một thỏa thuận bất kỳ, cho dù được mô tả hay gọi tên như thế nào, thể hiện một
cam kết chắc chắn và không hủy ngang cua NHPH về việc thanh toán khi xuất
trình phù hợp.
Tên gọi của Tín dụng chứng từ là không bắt buộc, và có thể là bất cứ tên gọi
nào, miễn là nội dung của nó thể hiện một thỏa thuận, theo đó một ngân hàng
hành động theo yêu cầu hoặc theo chỉ thị của một khách hàng hoặc trên danh
nghĩa chính mình phải trả tiền hoặc trả tiền theo lệnh của một người khác hoặc
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét