Thứ Ba, 21 tháng 1, 2014

Quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nông thôn đến nay, thực trạng, kinh nghiệm và giải pháp.pdf


4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Luận án lấy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp,
nông thôn tỉnh Bắc Ninh làm đối tượng nghiên cứu.

- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là vấn đề rất
rộng lớn và phức tạp, phạm vi nghiên cứu của luận án tập trung vào những
nội dung cơ bản về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn;
phát triển các làng nghề truyền thống, làng nghề mới, phát triển các khu, cụm
công nghiệp làng nghề; xây dựng kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn;
phát triển nguồn nhân lực…thời gian từ năm 1986, mà chủ yếu từ năm 1997
đến nay (sau khi tỉnh Bắc Ninh được tái lập).
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử; phương pháp lịch sử và lôgíc; phương pháp phân tích, tổng hợp;
phương pháp thống kê, mô hình hoá và tiếp cận hệ thống; phương pháp khảo
sát, điều tra thực tế.
6. Những đóng góp khoa học của luận án
- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản về công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông nghiệp, nông thôn và kinh nghiệm một số nước, một số tỉnh .
- Phân tích, đánh giá thực trạng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn và tác động của nó đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội
ở tỉnh Bắc Ninh từ năm 1986, mà chủ yếu từ khi tái lập tỉnh (1997) đến nay,
trên cơ sở đó rút ra những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn địa phương.
- Xây dựng được quan điểm phát triển nông nghiệp, nông thôn tỉnh Bắc
Ninh, đồng thời đưa ra phương hướng, mục tiêu, đề xuất các giải pháp mang
tính khoa học phù hợp với tình hình, đặc điểm của địa phương và sự phát triển
chung của cả nước nhằm đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông nghiệp, nông thôn của tỉnh đến năm 2015.
- Những kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng làm tài
liệu tham khảo trong quá trình hoạch định và thực hiện chính sách phát triển
nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Bắc Ninh

5
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án
kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông nghiệp, nông thôn và kinh nghiệm trong và ngoài nước.
Chương 2: Thực trạng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp,
nông thôn tỉnh Bắc Ninh từ năm 1986 đến nay.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp đẩy nhanh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn tỉnh Bắc Ninh đến năm 2015.

6
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP,
NÔNG THÔN VÀ KINH NGHIỆM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG
NGHIỆP, NÔNG THÔN
1.1.1. Thực chất và sự cần thiết công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn
1.1.1.1. Quan niệm về công nghiệp hoá
- Các quan niệm về công nghiệp hoá
Mỗi phương thức sản xuất đều có cơ sở vật chất - kỹ thuật thích ứng
với nó. Cơ sở vật chất kỹ thuật là hệ thống các yếu tố vật chất của lực
lượng sản xuất để sản xuất ra của vật chất, nhằm đáp ứng các nhu cầu ngày
càng đa dạng của xã hội.
Sự biến đổi và phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, của tiến bộ
khoa học - kỹ thuật, năng lực và quy mô tích luỹ, sự tác động của quy luật
nhân khẩu, quan hệ kinh tế đối ngoại là những nhân tố cơ bản ảnh hưởng rất
lớn đến trình độ của cơ sở vật chất - kỹ thuật. Ngoài ra, tính chất và trình độ
của các quan hệ sản xuất, có ảnh hưởng không nhỏ và có mối quan hệ hữu cơ
đối với cơ sở vật chất - kỹ thuật.
Nói đến cơ sở vật chất - kỹ thuật của một phương thức sản xuất nào đó
là nói đến trình độ, sự vận động và biến đổi của nó theo xu hướng nào.
Đặc trưng của cơ sở vật chất - kỹ thuật của phương thức sản xuất trước
chủ nghĩa tư bản là kỹ thuật thủ công, lạc hậu.
Chủ nghĩa tư bản xuất hiện, với những bước chuyển biến có tính quy
luật của nó, tất yếu đưa sản xuất dựa trên kỹ thuật thủ công lên hiện đại, công
nghiệp đại cơ khí. Vì vậy, đặc trưng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa tư
bản là nền đại công nghiệp cơ khí hoá với trình độ khoa học - kỹ thuật cao.
Đối với những nước xã hội chủ nghĩa, việc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ
thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại là một trong những nhiệm vụ kinh tế to

7
lớn và là một yêu cầu khách quan. Bởi vì, cơ sở vật chất - kỹ thuật của nền
sản xuất lớn hiện đại đòi hỏi phải dựa trên trình độ kỹ thuật, công nghệ ngày
càng cao hơn, hiện đại hơn. Điều đó không chỉ dừng lại ở chỗ, những yếu tố
của tư liệu sản xuất được cơ khí hoá và ngày càng hiện đại hoá, mà còn ở
trình độ công nghệ tiên tiến và thường xuyên đổi mới.
Vậy có thể khái quát: “Cơ sở vật chất của nền sản xuất hiện đại, chỉ có
thể là nền đại công nghiệp cơ khí hoá cân đối và hiện đại dựa trên trình độ
khoa học – công nghệ ngày càng phát triển cao ”
[20]
. Để có được cốt vật
chất kỹ thuật như vậy, tất cả các nước phải tiến hành xây dựng nó. Nói cách
khác, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của nền sản xuất lớn, hiện đại là quy
luật chung, phổ biến đối với tất cả các nước trong quá trình phát triển. Công
nghiệp hoá chính là con đường và bước đi tất yếu để tạo ra cơ sở vật chất - kỹ
thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại.
Trong lịch sử, nhiều nước đã tiến hành công nghiệp hoá, ở mỗi nước,
quá trình công nghiệp hoá đang diễn ra khác nhau về bước đi, tốc độ và nội
dung cụ thể. Nước Anh đã tiến hành công nghiệp hoá trong những điều kiện
hoàn toàn khác với hiện nay. Đó là nước tiến hành công nghiệp hoá đầu tiên.
Nước Anh chỉ có thể bắt đầu công nghiệp hoá từ nông nghiệp, tích luỹ vốn,
mở rộng thị trường, tìm kiếm nguồn lao động và phải bằng những biện pháp
cưỡng chế tàn bạo.
Trong bộ Tư bản, C.Mác có đề cập “ những người nông dân bị tước
đoạt bằng vũ lực, bị xua đuổi và bị biến thành những kẻ lang thang lại bị
người ta dùng những đạo luật kỳ quái đánh đập, đóng dấu bằng sắt nung đỏ,
tra tấn để ghép vào một kỷ luật cần thiết cho chế độ làm thuê ”
[12]

Hơn nữa, nước Anh vì là nước đầu tiên tiến hành công nghiệp hoá, nên
phải bắt đầu tự nghiên cứu, tự sáng tạo, tự áp dụng vào sản xuất và công nghiệp
hoá là một con đường vừa dài, vừa gian nan. Nước Anh đã mất khoảng 100
năm với sự bóc lột, tước đoạt tàn bạo hàng triệu người lao động mới đạt được
nền công nghiệp dẫn đầu thế giới vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX.
Nước Mỹ đi sau đã học tập kinh nghiệm công nghiệp hoá của nước
Anh, đã nhập khẩu được kỹ thuật, đã thu hút được vốn, lao động, kỹ thuật

8
công nghệ từ Châu Âu chuyển sang và có thị trường Châu Âu, Châu Á, Châu
Mỹ. Đó là những lý do chính làm rút ngắn thời gian công nghiệp hoá ở Mỹ
xuống còn khoảng 80 năm.
Nước Nhật tiến hành công nghiệp hoá khoảng 60 năm với những đặc
điểm nổi bật là: Nhật đã kế thừa kỹ thuật, công nghệ và vốn thị trường của
Châu Âu và Châu Mỹ. Đồng thời, người Nhật đã sử dụng những ưu thế vốn
có của nền văn hoá và xã hội Nhật vào quá trình công nghiệp hoá.
Ở Liên Xô (cũ), quan niệm cho rằng: công nghiệp hoá là quá trình xây
dựng nền đại công nghiệp cơ khí có khả năng cải tạo cả nông nghiệp. Đó là
phát triển các ngành công nghiệp nặng mà cốt lõi là ngành cơ khí, do đó tỷ
trọng công nghiệp trong tổng sản phẩm xã hội ngày càng lớn.
STa-Lin viết: “Quan trọng hơn, vì nếu không phát triển công nghiệp
nặng, thì chúng ta không thể xây dựng được ngành công nghiệp nào cả, chúng
ta không thể thực hiện được một công cuộc công nghiệp hoá nào cả”.
[41]

Theo V.I.Lê Nin: “Chỉ có đại công nghiệp cơ khí mới có thể làm cho
công nghiệp và nông nghiệp hoàn toàn tách rời nhau chính nền sản xuất
bằng máy móc, đã cắt đứt hẳn mối quan hệ giữa công nhân với ruộng đất”
[54]. Như vậy, công nghiệp hoá ở Liên Xô (cũ) trong giai đoạn đó là phù hợp
với bối cảnh lịch sử của thế giới và tình hình trong nước. Mô hình công
nghiệp hoá này đã đem lại những kết quả đáng kể, song bên cạnh đó cũng còn
nhiều hạn chế mà đến thập kỷ 80, 90 của thế kỷ XX đã có sự điều chỉnh cho
hợp lý.
Các nước và lãnh thổ (NICs) Đông Á đi sau, rút ngắn quá trình công
nghiệp hoá hơn nữa, chỉ còn khoảng 40 năm. Do họ đã tiếp thu được kinh
nghiệm của cả Châu Âu, Châu Mỹ và Nhật Bản. Ngày nay, một số nước
ASEAN còn có thể rút ngắn quá trình công nghiệp hoá này xuống còn khoảng
30 năm, trong đó Đài Loan là vùng lãnh thổ tiến hành công nghiệp hoá thành
công.
Từ thực tiễn về công nghiệp hoá của đất nước, có thể khái quát một số
quan niệm về công nghiệp hoá:
+ Quan niệm đơn giản nhất cho rằng: công nghiệp hoá là đưa tính đặc

9
thù công nghiệp cho một hoạt động (của một vùng, một nước) với các nhà
máy, các loại hình công nghiệp. Theo quan điểm này, có những điểm chưa
hợp lý, vì thứ nhất là nội dung quan niệm này gần như đồng nhất quá trình
công nghiệp hoá với quá trình phát triển công nghiệp. Thứ hai là không thể
hiện được tính lịch sử của qúa trình công nghiệp hoá. Thứ ba là không thể
hiện được mục tiêu của quá trình công nghiệp hoá. Quan niệm về công nghiệp
hoá nêu trên được hình thành trên cơ sở khái quát quá trình lịch sử công
nghiệp hoá của các nước Tây Âu và Bắc Mỹ và do có những điểm chưa hợp
lý, nên quan niệm này ít được vận dụng trong thực tiễn.
+ Quan niệm Liên Xô (cũ) và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây thì
khi tiến hành công nghiệp hoá nhấn mạnh là phát triển công nghiệp nặng. Cho
rằng: công nghiệp hoá là quá trình xây dựng nền đại công nghiệp cơ khí có khả
năng cải tạo cả nông nghiệp. Đó là sự phát triển công nghiệp nặng với trung
tâm là chế tạo máy. Với đường lối công nghiệp hoá như vậy, công nghiệp nặng
có vai trò đặc biệt quan trọng và trong một chừng mực nhất định nó phù hợp
với hoàn cảnh Liên Xô khi bước vào thời kỳ công nghiệp hoá: chủ nghĩa đế
quốc bao vây, chống đối, không có sự trợ giúp từ bên ngoài, trong khi yêu cầu
phải xây dựng một nền sản xuất lớn, hiện đại và bảo vệ chủ nghĩa xã hội.
Liên Xô cần thực hiện công nghiệp hoá với tốc độ nhanh, phải tập trung
vào phát triển công nghiệp nặng, nhằm đảm bảo các nhu cầu trong nước. Do vậy,
chủ trương về công nghiệp hoá này chỉ đúng với giai đoạn lịch sử Liên Xô lúc đó.
Sẽ sai lầm nếu hiểu công nghiệp hoá như vậy trong mọi hoàn cảnh, mọi phương
diện. Bởi vì, công nghiệp hoá không chỉ đơn thuần là phát triển đại công nghiệp.
+ Quan niệm mới về công nghiệp hoá: năm 1963, tổ chức phát triển
công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO) đã đưa ra quan niệm:
Công nghiệp hoá là quá trình phát triển kinh tế. Trong quá trình này, một
bộ phận nguồn của cải quốc dân được động viên để phát triển cơ cấu kinh tế
nhiều ngành ở trong nước với kỹ thuật hiện đại. Đặc điểm của cơ cấu kinh tế
này, có một bộ phận công nghiệp chế biến luôn thay đổi để sản xuất ra những tư
liệu sản xuất và hàng tiêu dùng, có khả năng đảm bảo cho nền kinh tế phát triển
với nhịp độ cao, đảm bảo đạt tới sự tiến bộ về kinh tế -xã hội
[23].


10
Do đó, công nghiệp hoá không chỉ hiểu là quá trình phát triển nền
kinh tế dựa trên trình độ kỹ thuật, công nghệ hiện đại mà còn là quá trình
phát triển, đảm bảo tạo ra cơ cấu sản phẩm vật chất, bao gồm các điều
kiện sản xuất và điều kiện sinh hoạt, đảm bảo các mục tiêu phát triển
kinh tế và sự tiến bộ xã hội.
- Quan niệm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Kinh nghiệm về công nghiệp hoá của các nước đi trước và qua thực tế
kiểm nghiệm, kết hợp với sự phát triển mạnh của khoa học công nghệ và
quan hệ kinh tế quốc tế ngày càng được mở rộng, quan niệm về công nghiệp
hoá, hiện đại hoá được hiểu như sau: Công nghiệp hoá chính là một cuộc
cách mạng về lực lượng sản xuất, làm thay đổi căn bản kỹ thuật, công nghệ
sản xuất, tăng năng suất lao động. Hiện đại hoá là quá trình thường xuyên
cập nhật và nâng cấp những công nghệ hiện đại nhất, mới nhất trong quá
trình công nghiệp hoá. Trong thời đại ngày nay, công nghiệp hoá luôn gắn
liền với hiện đại hoá.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình trang bị kỹ thuật và công
nghệ hiện đại cho nền kinh tế quốc dân, trước hết là các ngành giữ vị trí quan
trọng, biến một nước có nền kinh tế kém phát triển thành một nước có nền
kinh tế phát triển, có công nghiệp hiện đại.
Hiện nay, ở Việt Nam công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo quan điểm
của Đảng Cộng sản Việt Nam là:
Quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là
chính sang sử dụng phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện
và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và
tiến bộ khoa học- công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao
[
22
]
.
Quan niệm này nói lên phạm vi và vai trò đặc biệt quan trọng của công
nghiệp hoá, hiện đại hoá trong phát triển kinh tế - xã hội, gắn liền được hai
phạm trù, không thể tách rời là công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Xác định vai
trò không thể thiếu được của khoa học-công nghệ trong quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hóa.Công nghiệp hoá và hiện đại hoá có mối quan hệ mật

11
thiết với nhau, quá trình tiến hành công nghiệp hoá là cái đích để đạt tới
hiện đại hoá. Việc tiến hành công nghiệp hoá phụ thuộc nhiều vào điều
kiện và hoàn cảnh của mỗi nước và tình hình chung của khu vực và thế
giới. Xu hướng hiện nay ở các nước đang phát triển là vừa tiến hành công
nghiệp hoá theo những kinh nghiệm truyền thống, nhưng đồng thời cũng
thường xuyên cập nhật, hội nhập những thành tựu khoa học- kỹ thuật mới
nhất, để vừa đảm bảo phát triển tuần tự, vừa phát triển nhảy vọt ở những
thời điểm, những ngành nghề có điều kiện và khả năng.
1.1.1.2. Thực chất công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp là quá trình chuyển
nền nông nghiệp truyền thống phát triển thành nông nghiệp hiện đại, về
thực chất là hiện đại hoá các biện pháp sản xuất nông nghiệp, hiện đại
hoá công nghệ sản xuất, hiện đại hoá quản lý sản xuất kinh doanh và
hiện đại hoá lực lượng lao động ngành nông nghiệp; làm thay đổi căn
bản tính chất, phương thức sản xuất, cơ cấu sản xuất, hình thức tổ chức
quản lý sản xuất của một nền nông nghiệp sản xuất tự cung, tự cấp, dựa
chủ yếu vào điều kiện tự nhiên với kỹ thuật thủ công sang một nền nông
nghiệp sản xuất hàng hoá với kỹ thuật công nghệ tiên tiến, trong điều
kiện thương mại hoá toàn cầu và phải đảm bảo cho sự phát triển bền
vững về tự nhiên, kinh tế- xã hội.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp là một bộ phận của công
nghiệp hoá nông thôn. Nội dung chủ yếu của nó là đưa máy móc thiết bị và
phương pháp sản xuất công nghiệp cùng với các hình thức tổ chức sản xuất kiểu
công nghiệp vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, nhằm khai thác triệt để lợi thế
của mỗi ngành, trên cơ sở đó nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm tiêu dùng
và xuất khẩu. Nội dung này được cụ thể hoá trên các mặt cơ giới hoá, điện khí
hoá, thuỷ lợi hoá, sinh học hoá trong các ngành sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp,
thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Đồng thời làm
tan rã dần nền nông nghiệp chậm phát triển và nông nghiệp truyền thống.

12
Lịch sử phát triển nông nghiệp thế giới và các nước trong khu vực đều
chứng minh rằng, muốn có một nền nông nghiệp bền vững, năng suất lao
động cao không thể dựa vào nông cụ thô sơ và sức kéo trâu bò là chủ yếu. Chỉ
có cơ giới hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, hoá học hoá mới tạo ra nền nông
nghiệp hàng hoá, có chất lượng sản phẩm cao, có quy mô lớn gắn với công
nghiệp chế biến và xuất khẩu. Mặt khác, nông nghiệp không thể tự cải tạo kỹ
thuật, không thể tự mình giải quyết vấn đề phát triển. Sự phát triển của nông
nghiệp được quyết định bởi bản thân quá trình nền sản xuất xã hội thực hiện
được, quá trình phát triển với hai tiến trình thị trường hoá và công nghiệp hoá.
Đó là quá trình chuyển từ làn sóng nông nghiệp sang làn sóng công nghiệp.
Sự phát triển này khiến cho nông nghiệp mất vị trí nền tảng của nền kinh tế.
Quy luật chung của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là làm giảm tỷ lệ
GDP của nông nghiệp trong cơ cấu chung nền kinh tế, lao động ngành nông
nghiệp có tỷ lệ nhỏ trong cơ cấu lao động chung của các ngành kinh tế.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp diễn ra đồng thời với công
nghiệp hoá, hiện đại hoá các ngành kinh tế của đất nước. Không thể tiến hành
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp bó hẹp trong quan niệm phát triển
trong phạm vi ngành nông nghiệp, mà nó phải gắn với sự phát triển và sự
chuyển đổi cơ cấu của toàn bộ nền kinh tế. Chính sự phát triển công nghiệp, du
lịch, dịch vụ, cơ sở hạ tầng trong điều kiện hiện đại hoá làm thay đổi phương
thức sản xuất, cơ cấu của nền sản xuất xã hội và là sự thay đổi bản chất kinh tế
của nông nghiệp. Chuyển từ lĩnh vực tất yếu thành lĩnh vực kinh doanh, thành
cực tăng trưởng và bắt buộc phải tồn tại phát triển trong cơ chế thị trường.
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp phải đảm bảo vai trò
duy trì và phát triển cảnh quan thiên nhiên, xã hội cho phù hợp với yêu cầu của
cuộc sống ở trình độ văn minh cao, trình độ văn hoá cao. Tái sản xuất hệ sinh thái,
duy trì phát triển môi trường sống bền vững. Giữ gìn và phát triển truyền thống
lâu đời của cộng đồng các dân tộc. Tham gia đắc lực trong việc hình thành sự kết
hợp hài hoà giữa cuộc sống công nghiệp, đô thị và thiên nhiên, giữa lao động thư
giãn và giải trí cho các tầng lớp dân cư và cộng đồng các dân tộc.

13
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn là quá trình thay đổi căn bản
phương thức hoạt động, cơ cấu kinh tế của nông thôn và thay đổi căn bản tầng
lớp gắn liền với sản xuất nông nghiệp là nông dân.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn làm thay đổi căn bản khái
niệm về nông thôn truyền thống: Nông thôn là một xã hội được tổ chức trên
nền tảng sản xuất nông nghiệp và dân cư của nó là những người làm ruộng.
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá diễn ra cùng với quá trình đô thị hoá,
đã làm thay đổi hệ thống xã hội ở các phương diện: tập trung hoá sản xuất, do
đó tập trung hoá dân cư, tăng một cách căn bản các quá trình trao đổi, giao
dịch dịch vụ, sự phát triển của xã hội tiêu dùng, phát triển mạnh hạ tầng kinh
tế - xã hội. Sự thay đổi này đã dẫn tới sự thay đổi căn bản trong phương thức
sản xuất và phương thức sinh hoạt xã hội, văn hoá.
Cùng với tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã cải tổ toàn bộ xã hội
theo diện mạo công nghiệp-thương mại hoà nhập vào xu thế toàn cầu hoá và sự
biến chuyển của xã hội nông thôn cũng không thể nằm ngoài xu hướng chung
này. Cơ cấu nghề nghiệp thay đổi, xu hướng cơ bản là chuyển từ hoạt động
nông nghiệp sang cơ cấu dân cư nghiêng về phi nông nghiệp, tỷ lệ hộ ở nông
thôn làm nông nghiệp giảm, tỷ lệ hộ phi nông nghiệp tăng lên. Tuy nhiên, ở các
nước phát triển, dân cư chuyển vào sống trong các đô thị ngày càng tăng cùng
với dân cư nông thôn giảm đi đáng kể (tỷ lệ dân nông thôn ở các nước công
nghiệp phát triển chỉ còn 10 – 25%).
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn gắn liền với
yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tiến bộ: tăng tỷ
trọng công nghiệp và dich vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp. Vì vậy, công
nghiệp hoá không thể thiếu phát triển nông nghiệp, các ngành nghề phi nông
nghiệp trên địa bàn nông thôn, áp dụng phương pháp công nghiệp vào sản
xuất nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu ngành nghề lao động nông thôn, tạo
thêm việc làm để tăng thu nhập cho dân cư nông thôn.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét