Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2014

Cho vay dự án tại Sở GD 1 NH ĐT & PT Việt Nam

Lời mở đầu
Thực tế chứng minh rằng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là quá trình
tất yếu nhằm đưa Việt Nam từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở thành một nước
công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, quan hệ sản xuất hợp lý phù hợp
với lực lượng sản xuất làm cơ sở để xây dựng một đất nước dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, văn minh. Thực hiện nhiệm vụ đó, những năm qua, nhất là sau
hơn 10 năm “Đổi mới” chúng ta đã thu được nhiều thành công bước đầu. Từ một
nước có nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu, phải nhập khẩu lương thực, đã trở thành
một trong ba quốc gia xuất khẩu gạo đứng đầu thế giới. Cùng với ngành nông
nghiệp các ngành, các lĩnh vực khác như công nghiệp, ngoại thương, du lịch, ngoại
giao cũng đạt được những thành công nhất định góp phần đưa Việt Nam từ một
nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm, tỷ lệ lạm phát cao thành một nước có tốc
độ tăng trưởng kinh tế khá và ổn định, tỷ lệ lạm phát ở mức thấp, ngày càng có vị
thế trong khu vực và trên trường quốc tế. Từ đó cho thấy hướng đi và bước đi của
chúng ta là đúng đắn, tạo thế và lực mới cho một thời kỳ phát triển cao hơn.
Xu hướng quốc tế hoá cùng điều kiện cụ thể riêng đã tạo cho Việt Nam nhiều
cơ hội tiếp cận trình độ khoa học công nghệ cả về mặt kỹ thuật và quản lý Tuy
nhiên để đạt được mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đưa đất nước tiến lên xây
dựng thành công chủ nghĩa xã hội thì vẫn còn rất nhiều thử thách cần phải vượt qua.
Trong giai đoạn đầu thực hiện CNH-HĐH nhiệm vụ chủ yếu được xác định là tập
trung các nguồn lực xây dựng và phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật, đổi mới và nâng
cao trình độ công nghệ, máy móc thiết bị, chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông
nghiệp lạc hậu sang nền kinh tế hiện đại với cơ cấu công- nông nghiệp, dịch vụ hợp
lý, phát triển sản xuất trong nước theo cả chiều rộng và chiều sâu. Để đáp ứng cho
nhu cầu đầu tư đó chủ yếu vẫn phải dựa vào nguồn vốn tín dụng trung và dài hạn từ
hệ thống ngân hàng thương mại trong nước. Vai trò tín dụng trung và dài hạn sẽ
được phát huy mạnh mẽ trong thời gian tới khi mà nguồn vốn tự tích luỹ của hầu hết
các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay còn quá nhỏ bé, không thể đáp ứng nhu cầu
đổi mới trang thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất là những hoạt động đòi hỏi khối
Trang 5
lượng vốn lớn. Nguồn vốn cấp phát từ ngân sách rất hạn hẹp, không thể đầu tư dàn
trải cho nhiều lĩnh vực mà chủ yếu chỉ tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng và những
công trình công nghiệp lớn. Nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư khá dồi dào nhưng
việc huy động chúng lại không dễ dàng. Trong bối cảnh đó thì việc các ngân hàng
thương mại phải phát huy hết vai trò và thế mạnh của mình để đáp ứng nhu cầu đầu
tư phát triển, góp phần thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá
đất nước.
Là một trong bốn hệ thống ngân hàng thương mại lớn nhất của cả nước, ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam luôn tự xác định cho mình nhiệm vụ đóng góp
vào công cuộc xây dựng và phát triển chung đó của đất nước, chính vì vậy mà trong
thời gian qua BIDV và Sở giao dịch 1 đã có nhiều nỗ lực trong việc mở rộng hoạt
động tín dụng nói chung và tín dụng chung dài hạn nói riêng nhằm đáp ứng tốt nhất
nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp qua đó góp phần thực hiện mục tiêu chung của
nền kinh tế. Tuy nhiên nếu nhìn nhận, đánh giá một cách khách quan rằng bên cạnh
những kết quả tích cực đã đạt được thì hoạt động tín dụng chung dài hạn của BIDV
và SGD vẫn chưa thực sự tương xứng với tiềm năng thực sự của mình. Trong khi rất
nhiều doanh nghiệp đang thực sự thiếu và cần vốn thì bản thân SGD lại đang thừa
vốn không thể giải ngân đặc biệt là ngoại tệ. Xuất phát từ thực tế đó em chọn đề tài
“ Một số giải pháp cao chất lượng cho vay dự án đầu tư tại Sở giao dịch1 ngân hàng
Đầu tư và Phát triển Việt Nam”.
Bố cục đề tài gồm ba chương:
* Chương 1. Lý luận chung về dự án đầu tư và cho vay dự án đầu tư.
* Chương 2. Thực trạng cho vay dự án đàu tư tại SGD1 Ngân hàng
Đầu tư và Phát triển Việt Nam.
* Chương 3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho
vay dự án đầu tư tại SGD1.
Do kiến thức và kinh nghiệm thực tế còn nhiều hạn chế nên những khía cạnh
mà đề tài đề cập tới trong chuyên đề không thể tránh khỏi những sai sót. Với tinh
thần thực sự cầu thị, em mong rằng sẽ nhận được những góp ý, chỉ bảo của các thầy
Trang 6
cô, anh chị đang công tác trong ngành ngân hàng để em có thể nâng cao trình độ lý
luận cũng như nhận thức của mình.
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới TS. Trần Thị Hà
người đã trực tiếp hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện đề tài, cùng các anh
chị cán bộ Phòng tín dụng1 sở giao dịch BIDV đã tận tình giúp đỡ trong thời gian
thực tập tại đây.
Hà Nội, ngày 21 tháng 4 năm 2003.
Trang 7
chương1:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ CHO VAY DỰ ÁN ĐẦU
TƯ.
1. Sự cần thiết phải tiến hành các hoạt động đầu tư theo dự án
Hoạt động đầu tư (gọi tắt là đầu tư) là quá trình sử dụng các nguồn lực về tài
chính, lao động, tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất khác nhằm trực tiếp
hoặc gián tiếp tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kỹ
thuật của nền kinh tế nói chung, của địa phương, của ngành, của các cơ sở sản xuất
kinh doanh dịch vụ, các cơ quan quản lý nhà nước và xã hội nói riêng.
Hoạt động đầu tư trực tiếp tái sản xuất cơ sở vật chất kỹ thuật nói trên được
gọi là đầu tư phát triển. Đó là một quá trình có thời gian kéo dài trong nhiều năm
với số lượng các nguồn lực được huy động cho từng công cuộc đầu tư khá lớn và
nằm khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư.
Các thành quả của loại đầu tư này cần và có thể được sử dụng trong nhiều
năm đủ để các lợi ích thu được tương ứng và lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra. Chỉ có
như vậy công cuộc đầu tư mới được coi là có hiệu quả. Nhiều thành quả của đầu tư
có giá trị sử dụng rất lâu,hàng trăm năm, hàng nghìn năm như các công trình kiến
trúc cổ ở nhiều nước trên thế giới.
Khi các thành quả của đầu tư là các công trình xây dựng hoặc cấu trúc hạ
tầng như nhà máy, hầm mỏ, các công trình thuỷ điện, các công trình thuỷ lợi, đường
xá, cầu cống, bến cảng thì các thành quả này sẽ tiến hành hoạt động của mình ngay
tại nơi chúng được tạo ra. Do đó, sự phát huy tác dụng của chúng chịu nhiều ảnh
hưởng của các điều kiện kinh tế, tự nhiên, xã hội nơi đây.
Để đảm bảo cho mọi công cuộc đầu tư phát triển được tiến hành thuận lợi,
đạt mục tiêu mong muốn, đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao thì trước khi bỏ vốn
phải tiến hành và làm tốt công tác chuẩn bị. Có nghĩa là phải xem xét, tính toán toàn
diện các khía cạnh kinh tế - kỹ thuật, điều kiện tự nhiên, môi trường xã hội, pháp
lý có liên quan đến quá trình đầu tư, đến sự phát huy tác dụng và hiệu quả đạt được
của công cuộc đầu tư, phải dự đoán các yếu tố bất định (sẽ xảy ra trong suốt quá
Trang 8
trình kể từ khi thực hiện đầu tư cho đến khi các thành quả của hoạt động đầu tư kết
thúc sự phát huy tác dụng theo dự kiến trong dự án) có ảnh hưởng đến sự thành bại
của công cuộc đầu tư. Mọi sự xem xét, tính toán và chuẩn bị này được thể hiện
trong dự án đầu tư. thực chất của sự xem xét, tính toán và chuẩn bị này chính là lập
dự án đầu tư. Có thể nói, dự án đầu tư được soạn thảo tốt là kim chỉ nam, là cơ sở
vững chắc, tạo tiền đề cho công cuộc đầu tư đạt hiệu quả kinh tế - xã hội mong
muốn.
2. Đặc điểm hoạt động đầu tư phát triển
Đầu tư phát triển là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật
chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và cấu trúc hạ
tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ, bồi dưỡng đào tạo nguồn
nhân lực, thực hiện chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản
này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới
cho nền kinh tế - xã hội, tạo việc làm và nâng cao đời sống mọi thành viên trong xã
hội.
Hoạt động đầu tư phát triển có các đặc điểm khác biệt với các loại hình đầu
tư khác là :
- Hoạt động đầu tư phát triển đòi hỏi một số vốn lớn và để nằm khê đọng trong
suốt quá trình thực hiện đầu tư, đây là cái giá phải trả khá lớn của đầu tư phát
triển.
- Thời gian để tiến hành một công cuộc đầu tư cho đến khi các thành quả của
nó phát huy tác dụng thường đòi hỏi nhiều năm tháng với nhiều khả năng xảy
ra biến động.
- Thời gian cần hoạt động để có thể thu hồi vốn đã bỏ ra đối với các cơ sử vật
chất kỹ thuật phục vụ sản xuất kinh doanh thường đòi hỏi nhiều năm tháng
và do đó không tránh khỏi sự tác động hai mặt tích cực và tiêu cực của các
yếu tố không ổn định về tự nhiên, xã hội, chính trị, kinh tế
- Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển có giá trị sử dụng lâu dài nhiều
năm, có khi hàng trăm, hàng ngàn năm và thậm chí tồn tại vĩnh viễn như các
Trang 9
công trình kiến trúc nổi tiếng thế giới ( Kim tự tháp cổ Ai Cập, Nhà thờ La
Mã, Vạn Lý Trường Thành, Ăngco vát ). Điều này nói lên giá trị lớn lao của
các thành quả đầu tư phát triển.
- Các thành quả của hoạt động đầu tư là các công trình xây dựng sẽ hoạt động
ở ngay nơi mà nó được tạo dựng nên. Do đó các điều kiện địa hình tại đó có
ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện đầu tư và cũng như tác dụng sau này
của các kết quả đầu tư.
- Mọi thành quả và hậu quả của quá trình thực hiện đầu tư chịu nhiều ảnh
hưởng của các yếu tố không ổn định theo thời gian và điều kiện địa lý của
không gian.
3. Dự án đầu tư
3.1. Khái niệm
Tầm quan trọng của hoạt động đầu tư, đặc điểm và sự phức tạp về mặt kỹ
thuật, hậu quả và hiệu quả tài chính, kinh tế - xã hội của hoạt động đầu tư đòi hỏi để
tiến hành một công cuộc đầu tư phải có sự chuẩn bị cẩn thận và nghiêm túc. Sự chẩn
bị này được thể hiện ở việc soạn thảo các dự án đầu tư. Có nghĩa là mọi công cuộc
đầu tư phải được thực hiện theo dự án thì mới đạt hiệu quả mong muốn.
Dự án đầu tư có thể được xem xét từ nhiều góc độ. Về mặt hình thức, dự án
đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống cấc hoạt
động và chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được
những mục tiêu nhất định trong tương lai.
Trên góc độ quản lý, dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn,
vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế - xã hội trong một thời gian
dài.
Trên góc độ kế hoạch hoá, dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chi
tiết của một công cụ đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội, làm tiền
đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ. Dự án đầu tư là một hoạt động kinh tế riêng
biệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hoá nền kinh tế nói chung.
Trang 10
Xét về mặt nội dung, dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên quan
đến nhau được kế hoạch hoá nhằm đạt các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết
quả cụ thể trong một thời gian nhất định thông qua việc sử dụng các nguồn lực nhất
định.
3.2. Phân loại dự án đầu tư.
3.2.1. Theo cơ cấu tái sản xuất.
Dự án đầu tư được phân thành dự án đầu tư theo chiều rộng và dự án đầu tư
theo chiều sâu. Trong đó đầu tư chiều rộng có vốn lớn để khê đọng lâu, thời gian
thực hiện đầu tư và thời gian cần hoạt động để thu hồi đủ vốn lâu, tính chất kỹ thuật
phức tạp, độ mạo hiểm cao. Còn đầu tư theo chiều sâu đòi hỏi khối lượng vốn ít
hơn, thời gian thực hiện đầu tư không lâu và độ mạo hiểm ít hơn so với đầu tư theo
chiều rộng.
3.2.2. Theo lĩnh vực hoạt động trong xã hội của dự án đầu tư
Có thể chia thành dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư
phát triển khoa học kỹ thuật, dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng ( kỹ thật và xã hội
) Hoạt động của các dự án đầu tư này có quan hệ tương hỗ lẫn nhau. Chẳng hạn
các dự án đầu tư phát triển khoa học và cơ sở hạ tầng tạo điều kiện cho các dự án
đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao, đến lượt mình các dự án đầu
tư phát triển sản xuất kinh doanh lại tạo tiềm lực cho các dự án đầu tư phát triển
khoa học kỹ thuật, cơ sở hạ tầng và các dự án đầu tư khác.
3.2.3. Theo giai đoạn hoạt động của các dự án đầu tư trong quá trình
tái sản xuất xã hội
Có thể phân loại các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh thành dự án
đầu tư thương mại và dự án đầu tư sản xuất :
- Dự án đầu tư thương mại là loại dự án có thời gian thực hiện đầu tư và hoạt
động của các kết quả đầu tư để thu hồi vốn đầu tư ngắn, tính chất bất định
không cao lại dễ dự đoán với độ chính xác cao.
- Dự án đầu tư sản xuất là loại dự án có thời gian hoạt động dài hạn ( 5, 10, 20
năm hoặc lâu hơn ) vốn đầu tư lớn, thu hồi chậm, độ mạo hiểm cao, tính chất
Trang 11
kỹ thật phức tạp, chịu tác động của nhiều yếu tố bất định trong tương lai
không thể dự đoán hết cũng như dự đoán chính xác ( về nhu cầu, giá cả đầu
vào và đầu ra, cơ chế chính sách, tốc độ phát triển khoa học kỹ thuật ).
Trên thực tế người có tiền thích đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh thương mại.
Tuy nhiên trên giác độ xã hội hoạt động của loại đầu tư này không tạo ra của cải vật
chất cụ thể một cách trực tiếp, những giá trị tăng thêm do hoạt động của dự án đầu
tư thương mại chỉ là sự phân phối lại thu nhập giữa các ngành, các địa phương, các
tầng lớp dân cư trong xã hội. Do đó, trên giác độ điều tiết kinh tế vĩ mô, nhà nước
cần thông qua các cơ chế chính sách của mình nhằm hướng dẫn, khuyến khích các
nhà đầu tư không chỉ đầu tư vào lĩnh vực thương mại mà còn đầu tư cả vào lĩnh vực
sản xuất, theo các định hướng và mục tiêu đã dự kiến trong chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước.
3.2.4. Theo thời gian thực hiện và phát huy tác dụng để thu hồi vốn
Ta có thể chia các dự án đầu tư thành dự án đầu tư ngắn hạn (các dự án đầu
tư thương mại) và dự án đầu tư dài hạn (các dự án đầu tư sản xuất, đầu tư phát triển
khoa học kỹ thuật, xây dựng cơ sở hạ tầng ).
3.2.5. Theo phân cấp quản lý
Điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng được ban hành theo nghị định
52/1999/NĐ-CP ngày 08/08/1999 của Thủ tướng Chính phủ phân chia các dự án
thành 3 nhóm A, B, C tuỳ theo tính chất và quy mô của dự án. Trong đó nhóm A do
thủ tướng Chính phủ quyết định; nhóm B và C do Bộ trưởng, thủ trưởng có quan
ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND cấp tỉnh và thành phố trực thuộc TW
quyết định.
3.2.6.Theo nguồn vốn
Dựa vào nguồn vốn, dự án đầu tư được phân chia thành :
- Dự án đầu tư có vốn huy động trong nước (vốn tích luỹ của ngân sách, của
doanh nghiệp, từ tiền tiết kiệm của dân cư ).
- Dự án đầu tư có vốn huy động từ nước ngoài (vốn đầu tư trực tiếp, viện trợ,
đầu tư gián tiếp ).
Trang 12
Việc phân loại này cho thấy tình hình huy động vốn từ mỗi nguồn và vai trò
của mỗi nguồn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của từng ngành, từng địa
phương và toàn bộ nền kinh tế.
3.2.7. Theo vùng lãnh thổ (theo tỉnh, theo vùng kinh tế)
Cách phân loại này cho thấy tình hình đầu tư của từng vùng kinh tế, từng tỉnh
và ảnh hưởng của đầu tư đối với tình hình phát triển kinh tế xã hội ở từng địa
phương.
Ngoài ra, trong thực tế để đáp ứng yêu cầu quản lý và nghiên cứu kinh tế,
người ta còn phân chia dự án đầu tư theo quan hệ sở hữu, theo quy mô và nhiều tiêu
thức khác.
4. Cho vay dự án đầu tư
Cho vay dự án đầu tư là một dạng cho vay trung và dài hạn chủ yếu nhất của
các ngân hàng thương mại. Đó là việc các ngân hàng thương mại hỗ trợ các khách
hàng có đủ nguồn lực tài chính thực hiện các dự định đầu tư mà thời gian thu hôi
vốn đầu tư vượt quá 12 tháng.
4.1. Dự án đầu tư xin vay
Dự án đầu tư của khách hàng là một bộ phận quan trọng trong tổng thể các
dự án đầu tư của nền kinh tế quốc dân. Quy mô của chúng có thể lớn hay nhỏ tuỳ
thuộc vào mục tiêu đầu tư của chúng. Tuy nhiên, mỗi dự án đầu tư của khách hàng
phải là một công trình nghiên cứu khoa học có mục tiêu cụ thể và có tính khả thi
cao, đưa ra được những luận chứng kinh tế - kỹ thuật xác đáng, nêu lên một cách cụ
thể lượng vốn đầu tư cần có, các nguồn tài chính bù đắp thích hợp, đề xuất được
những giải pháp thực hiện dự án tối ưu.
Dự án đầu tư xin vay của các ngân hàng thương mại ngoài những tố chất
chung trên đây còn cần thêm đặc trưng sinh lời phù hợp với chính sách phát triển
kinh tế - xã hội và pháp luật của Nhà nước.
4.2.Quy trình cho vay dự án đầu tư
Trang 13
Giống như cho vay ngắn hạn, chu kỳ cho vay dự án đầu tư đối với các khách
hàng được bắt đầu bằng việc xem xét và quyết định cho vay, sau đó là giả ngân vốn,
theo dõi nợ vay và kết thúc bằng việc thu nợ gốc và lãi. Chu kỳ cho vay dự án đầu
tư cũng có thể diễn đạt bằng sơ đồ:( T-T’).
Dựa trên đề xuất vay dự án đầu tư của khách hàng vay, ngân hàng thương
mại phải xem xét trong một thời gian nhất định và đưa ra quyết định từ chối hay
chấp nhận cho vay.
Đề xuất vay vốn dự án đầu tư của khách hàng được hợp thức hoá bằng các
tài liệu như: đơn xin vay; hồ sơ pháp lý chứng minh tư cách pháp nhân và vốn điều
lệ ban đầu; hồ sơ tình hình tài chính 2 năm trước khi đề xuất vay và của 2 quý trong
năm đề xuất vay; các tài liệu liên quan đến dự án đầu tư xin vay (luận chứng kinh tế
– kỹ thuật; bản phê duyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật của cấp có thẩm quyền; các
văn bản có liên quan đến cung ứng vật tư thiết bị, nguyên vật liệu, tiêu thụ sản
phẩm; các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp hoặc cầm cố ).
Việc chấp nhận hay từ chối cho vay một dự án đầu tư của khách hàng phải
dựa vào thẩm tra các mặt như tư cách pháp nhân; mức vốn tham gia của đơn vị vay
vốn; tình hình sản xuất kinh doanh; tình hình công nợ, đồng thời phải xem xét mụch
đích kinh tế xã hội, khả năng thực thi, nguồn cung cấp nguyên liệu, nguồn nhân lực,
hướng tiêu thụ sản phẩm, hiệu quả kinh tế, khả năng hoàn trả vốn vay của dự án
Khi xem xét, thẩm định và đi đến quyết định chấp nhận hay từ chối cho vay
một dự án đầu tư của khách hàng phải quán triệt các nguyên tắc: Phù hợp với nguồn
vốn của ngân hàng cho vay, nghĩa là không vượt quá khả năng nguồn vốn hiện có và
sẽ huy động được khả dĩ dùng vào cho vay trung và dài hạn của bản thân ngân hàng
cho vay; phù hợp với quyền phán quyết cho vay trung, dài hạn mà ngân hàng cấp
trên dành cho giám đốc ngân hàng đó trong lĩnh vực cho vay trung và dài hạn, phù
hợp với chính sách ưu tiên trong đầu tư và cơ cấu đầu tư đã được quy định. Trường
hợp chấp nhận cho vay do kết quả thẩm định dự án đầu tư xin vay, ngân hàng phải
thông báo bằng văn bản trong thời hạn quy định để khách hàng vay kịp thời đến
ngân hàng lập hồ sơ nhận nợ. Trường hợp từ chối phải thông báo bằng văn bản và
nêu rõ lý do để khách hàng biết.
Trang 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét