Đề án kinh tế thương mại
cả các loại thường thấp, chất lượng và mẫu mã đều đạt yêu cầu. Tuy nhiên, có
không ít những đơn đặt hàng về các loại rau quả trái vụ, với mặt hàng này khả
năng dự trữ là thấp, khó có thể dự trữ lâu dài với số lượng lớn nên không đủ
khả năng để cung cấp cho Đài Loan. Từ đó cho thấy Việt Nam cần phải xác
định rõ nguồn hàng để cung cấp cùng với nguồn dự trữ của mình. Sau khi
chính thức trở thành thành viên của WTO, Việt Nam đã mở rộng ngoại giao
và tự hoàn thiện mình hơn nữa. Bên đối tác có nhiều khắt khe nhưng do Việt
Nam có nhiều năm kinh nghiệm đã biết rõ tình trạng này. Nhờ vậy hầu hết
những yêu cầu về hoa quả trái vụ chúng ta đều thực hiện tương đối hiệu quả,
có uy tín với nhiều nước trên thế giới, luôn giữ được bạn hàng truyền thống là
Đài Loan và các thị trường khác như: Trung Quốc, EU, Nhật Bản, Hoa Kỳ,…
Tuy nhiên Việt Nam đang cố gắng để phát huy hiệu quả của mặt chuyên môn
này để có thể thành công hơn nữa trong tương lai.
1.1.2. Về chất lượng của mặt hàng rau quả
Hiện nay chất lượng của nhiều loại hoa quả tiêu thụ trong nước hay xuất
khẩu luôn là vấn đề nổi cộm. Chất lượng của rau quả phụ thuộc vào nhiều yếu
tố như giống, phương pháp canh tác, thu hoạch, bảo quản, chế biến, vận
chuyển,… Trong đó giống rau quả và kỹ thuật trồng trọt là yếu tố quan trọng
hàng đầu để nâng cao năng suất và đặc biệt là chất lượng rau quả. Việt Nam
có nhiều loại giống rau bản địa phong phú. Sự phong phú này đã được khai
thác phát triển một cách triệt để, nhiều giống rau quả hiện nay phù hợp với thị
trường trong nước, người dân đã sử dụng giống có sẵn một cách thuần thục.
Tuy nhiên vẫn chưa có sự đầu tư thích đáng cho phát triển những giống mới
có chất lượng cao hơn, phù hợp với thị trường thị hiếu phức tạp của các thị
trường khác nhau. Đó chính là một trong những điểm yếu cơ bản về khả năng
cạnh tranh của rau quả Việt Nam.
5
Đào Thị Thanh Thủy - QTKD Thương Mại 47B
Đề án kinh tế thương mại
Trên thực tế do tập quan lâu đời của nước ta là vườn cây ăn trái được
trồng bằng hạt do vậy bị thoái hóa, bị lai tạp nhiều. Các giống bị lai tạp không
thuần chủng tạo ra khó khăn cơ bản cho sản phẩm như tính không đồng đều,
sự ổn định về chất lượng tiêu chuẩn hóa. Tuy nhiên, bắt đầu từ vài năm gần
đây việc nhập giống tiến bộ, tuyển chọn giống nội địa tốt đã được mọi người
dân quan tâm và thực hiện theo.
Vải thiều là loại cây ăn quả được trồng phổ biến ở các tình phía Bắc nhất
là Bắc Giang, Hưng Yên. Sản lượng cho nhiều thích hợp cho việc tiêu dùng
nội địa nhưng khi chế biến thì quả vải đổi màu sau khi đóng hộp từ 2-3 tháng.
Do đó đòi hỏi ta phải tìm kiếm thị trường xuất khẩu từ trước. Nhãn thì hầu hết
các giống đang được trồng ở miền Nam và miền Bắc cho chất lượng và số
lượng tương đối cao. Một số địa phương như Hưng Yên đã tận dụng nguồn
này để chế biến nhiều sản phẩm thơm ngon, chất lượng đảm bảo đó là long
nhãn được rất nhiều nước trên thế giới ưa chuộng. Tuy nhiên, cùi nhãn mỏng
và hạt nhãn lại lớn, điều này gây ảnh hưởng tới chất lượng long nhãn khi chế
biến. Giống dứa phổ biến ở Việt Nam hiện nay là giống Queen Victoria cho
quả nhỏ năng suất thấp (trên dưới 10 tấn/ha). Nó rất phù hợp cho tiêu dùng
tươi. Giống dứa Cayen năng suất cao hơn đạt 50-60 tấn/ha. Nhiều nước và
quả thích hợp để chế biến đóng hộp thành dứa khoanh hoặc nước dứa ép, sản
phẩm chế biến ra rất thơm ngon được nhiều thị trường đặt mua. Các giống
chuối và cây có múi của Việt Nam cũng chỉ phù hợp với thị trường trong
nước, chứ chưa phù hợp xuất khẩu ra thị trường quốc tế vì kích thước, năng
suất, màu sắc, mùi vị còn chưa phù hợp. Bên cạnh đó nhiều nước trong khu
vực đã bằng cách này hay cách khác lấy giống một số loại hoa quả của Việt
Nam như thanh long, chỉ một vài năm gần đây Việt Nam đã bắt đầu nhập
nhiều giống chất lượng cao của các nước đối với một số cây ăn quả nhiệt đới
6
Đào Thị Thanh Thủy - QTKD Thương Mại 47B
Đề án kinh tế thương mại
như xoài từ Thái Lan, Ôxtraylia, dứa, nhãn từ Trung Quốc và Thái Lan, hồng
từ Đài Loan.
Mặt hàng rau quả mang tính thời vụ điển hình, phụ thuộc rất nhiều vào
điều kiện tự nhiên. Nhất là các loại rau, nếu điều kiện tự nhiên tốt như mưa
thuận gió hòa, đất đai màu mỡ. Cho các loại rau đồng đều cả về số lượng lẫn
chất lượng mà giá cả lại rẻ. Nhưng nếu thời tiết bất ổn, kéo theo sự sụt giảm
về chất lượng rất mạnh. Trong khi đó hàng hóa đem đi xuất khẩu có những
đòi hỏi rất khắt khe, bởi đây là mặt hàng ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của
người tiêu dùng nên sẽ được kiểm định chặt chẽ tại quốc gia nhập khẩu. Bất
kì dấu hiệu bất ổn nào cũng gây ra bất lợi cho Việt Nam, hàng hóa sẽ bị đem
trả lại, gây tổn thất về tài chính và uy tín. Các loại rau vụ đông vừa qua do
thời tiết rét đậm rét hại liên tục trong nhiều ngày đã không thể sống và tăng
trưởng như dự tính, chất lượng thu về kém hẳn so với mẫu năm trước. Tuy
nhiên “mùa nào thức ấy” phải có khí hậu se se lạnh thì mới trồng được. Vấn
đề đặt ra là Việt Nam phải luôn cố gắng hết sức để kiểm soát chất lượng sản
phẩm đưa đi xuất khẩu.
Do các nước nhập khẩu luôn bảo hộ cho sản xuất trong nước, cuộc sống
đòi hỏi ngày càng cao của người dân. Vấn đề sức khỏe được đặt lên hàng đầu,
các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm trở nên rất cao. Để chiếm lĩnh trên thị
trường quốc tế và đủ sức để cạnh tranh với các nước khác như: Thái Lan,
Trung Quốc… Việt Nam phải đảm bảo tiêu chuẩn hàm lượng các chất trong
thực phẩm đồng thời đảm bảo các chỉ tiêu về bảo vệ môi trường, giảm thiểu
sai sót.
1.1.3. Về vấn đề bảo quản rau quả
Với đặc tính của rau quả đó là những thực phẩm tươi, việc dự trữ mặt
hàng này trong một thời gian dài không thể không tránh khỏi ít nhiều sẽ làm
giảm đi chất lượng của chúng. Trong khi xuất khẩu luôn đòi hỏi rau quả tươi
7
Đào Thị Thanh Thủy - QTKD Thương Mại 47B
Đề án kinh tế thương mại
mới nhất. Vì thế việc bảo quản rau quả như thế nào để vẫn giữ được chất
lượng là một vấn đề nan giải và cần thiết.
Muốn đáp ứng được yêu cầu của thị trường buộc chúng ta phải có một
quá trình chế biến, bảo quản dự trữ thật tốt. Khâu này có thực hiện tốt mới
đảm bảo được chất lượng của sản phẩm. Vì chỉ cần một thời gian ngắn nếu
không được bảo quản đúng qui cách, rau quả dễ bị biến chất, không sử dụng
được. Thu mua sản phẩm đồng đều về chất lượng giữa vố số loại sản phẩm
khác nhau là điều rất khó. Vì vậy việc bảo quản gặp nhiều trở ngại, các loại
rau quả được thu thập từ nhiều địa phương, hầu hết là đa chủng loại. Trong
khi công nghệ bảo quản tại Việt Nam còn thấp, công nghệ chế biến còn lạc
hậu, chỉ được sơ chế chứ chưa thực sự được bảo đảm an toàn. Ảnh hưởng đến
các thành phần chất của sản phẩm. Đối với rau quả độ tươi được đánh giá rất
cao, tiếp theo là hương vị, hình dáng, màu sắc của sản phẩm. Tùy theo từng
mặt hàng cụ thể mà chúng ta có những hình thức bảo quản sao cho hợp lý.
Nước ta chủ yếu bảo quản rau quả theo những các sau:
Bảo quản trên điều kiện thường: nghĩa là không bảo quản lạnh hay bất kỳ
cách xử lý nào khác ngoài hệ thống thông gió. Thường được áp dụng cho:
khoai tây, củ cải, cà rốt, cải bắp, chuối buồng…
Bảo quản lạnh: kho lạnh phải đạt tiêu chuẩn trần và sàn nhà đều phải được
cách nhiệt tốt.
Bảo quản bằng điều chỉnh khí quyển: phòng kho phải kín, lạnh hoặc không
lạnh, có hệ thống thông gió và cung cấp oxy, nitơ, cacbonic, với thiết bị đo
nhiệt độ, độ ẩm các khí này một cách tự động. Phương pháp này thường áp
dụng cho táo, lê, xà lách, cải bắp, măng tây,
Ngoài ra còn bảo quản rau quả tươi bằng hóa chất được phép sử dụng trong
đó có chất chống thối, mốc, chống nảy mầm,…
Riêng đối với rau quả chế biến có thể chia thành các nhóm sau:
8
Đào Thị Thanh Thủy - QTKD Thương Mại 47B
Đề án kinh tế thương mại
Sơ chế.
Đông lạnh: tất cả các loại rau quả đều có thể xắt miếng cho vào bao bì thích
hợp bảo quản đông lạnh trong thời gian dài, vận chuyển đi xa.
Sấy khô: sấy bằng không khí nóng, với các sản phẩm đặc trưng là táo, chuối,
mận, vải,… sấy thăng hoa áp lực cao có thể áp dụng với hầu hết các loại rau
quả.
Sản phẩm muối: muối mặn, muối chua dùng cho: hành, cà, ngô, dưa chuột,
các loại dưa,…
Bao bì đóng gói bảo quản các loại rau quả cũng rất cần thiết. Nó có tác
dụng bảo vệ rau quả trước tác động của môi trường. Chất liệu đóng gói phù
hợp với tính chất của sản phẩm, hình thức đẹp, gây chú ý trong đó phải chứa
đựng đầy đủ thông tin về sản phẩm: nơi sản xuất, hạn sử dụng, hàm lượng các
chất dinh dưỡng…
1.1.4. Nhu cầu về rau quả trên các thị trường
Nhu cầu về rau quả các loại (ở dạng tươi hoặc đã chế biến) ngày càng giữ
vai trò quan trọng và không thể thiếu trong đời sống hàng ngày của con
người. Rau quả không chỉ có tác dụng dinh dưỡng mà còn cung cấp cho con
người nguôn dược liệu quí giá vì trong rau quả không chỉ có các loại vitamin
A, B, C, E, catoren mà còn một số yếu tố vi lượng khác. Đặc biệt trong rau
quả còn chứa chất xơ giúp cho bộ máy tiêu hóa làm việc tốt hơn. Vì thế mà
bất cứ quốc gia nào trên thế giới hàng năm cũng tiêu thụ một số lượng lớn
thực phẩm là rau quả. Theo số liệu trung tâm thông tin thương mại toàn cầu
thì các nước đứng đầu về xuất khẩu rau là Mêhicô, Trung quốc, Hoa Kỳ, EU,
Canada. Còn về sản xuất quả lớn nhất thế giới là Trung Quốc, EU đứng thứ 2,
đứng thứ 3 là Ấn Độ. Trong đó Trung Quốc có mức tăng trưởng sản lượng
cao nhất. Các nước sản xuất rau quả lớn khác là Braxin, Hoa Kỳ, Mêhicô,
Chilê và Nam Phi có mức tăng trưởng tương đối ổn định.
9
Đào Thị Thanh Thủy - QTKD Thương Mại 47B
Đề án kinh tế thương mại
Nhu cầu của người tiêu dùng có liên quan tới thu nhập quá trình đô thị
hóa, thông tin và giáo dục. Những thông tin và giáo dục về vấn đề sức khỏe
đã ảnh hưởng tới ưu tiên trong tiêu dùng đối với rau quả của người dân. Rất
nhiều chiến dịch khác nhau đã cung cấp cho người dân những thông tin về lợi
ích đối với sức khỏe từ viêc ăn rau quả. Xu hướng tăng cường chế độ ăn kiêng
ở các nước phát triển cũng khuyến khích tiêu thụ nhiều rau quả hơn. Tại các
nước đang phát triển lượng rau tiêu thụ ở thành phố cao hơn ở nông thôn.
Theo số liệu của tổ chức nông lương quốc tế (FAO) nghiên cứu tại Trung
Quốc lượng tiêu thụ rau trên đầu người hàng năm ở thành thị cao hơn nông
thôn là 40kg. Các nước đang phát triển lại là nước đang trong quá trình đô thị
hóa do vậy đây là các thị trường đầy tiềm năng. Một thay đổi nữa đó là xu
hướng gia tăng nhu cầu đối với các sản phẩm trái vụ. Người tiêu dùng ở nhiều
nước phát triển sẵn sàng trả mức giá rất cao cho các sản phẩm trái vụ. Trong
vòng hai thập kỉ qua thương mại rau quả thế giới có bước phát triển mạnh mẽ.
Theo số liệu của FAO thị phần của rau quả xuất khẩu trong tổng thương mại
hàng nông sản toàn cầu đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 11,7%.
Tỉ lệ tăng trưởng xuất khẩu cao nhất thuộc nhóm các sản phẩm phi truyền
thống như: xoài, khoai tây, cam, nấm, ngô ngọt, bơ đều tăng ở mức 2 con số
trong suốt những năm vừa qua. Ngược lại cũng trong giai đoạn này tỷ lệ tăng
trưởng xuất khẩu của các phẩm truyền thống (chuối và quả có múi) giảm đi.
Các nước đang phát triển ngày càng có vai trò quan trọng hơn trong xuất khẩu
rau quả, đặc biệt là rau quả phi truyền thống. Hiện nay các nước đang phát
triển chiếm khoảng 60% thị phần rau quả xuất khẩu trên toàn cầu.
1.2. Tầm quan trọng của xuất khẩu rau quả của Việt Nam
1.2.1. Sự cần thiết của xuất khẩu rau quả
Ngay từ thuở xa xưa con người đã tìm cho mình một loại thức ăn có sẵn
từ thiên nhiên, mang đầy giá trị dinh dưỡng và thực sự hữu ích cho sự phát
10
Đào Thị Thanh Thủy - QTKD Thương Mại 47B
Đề án kinh tế thương mại
triển của cơ thể con người đó chính là rau quả. Cùng với bước tiến của thời
đại rau quả ngày càng khẳng định vị trí, vai trò và tầm quan trọng của mình
đối với cuộc sống của con người nói chung và đối với sự phát triển của nền
kinh tế nói riêng. Đối với một số đất nước có không có điều kiện sản xuất rau
quả như: Nhật Bản, Nga và một số nước ở châu phi thì việc nhập khẩu rau
quả từ nước khác là không thể tránh khỏi. Trong khi đó nước ta là nước đi lên
từ nông nghiệp, đời sống nhân dân còn rất khó khăn, thiếu thốn nhưng lại có
rất nhiều điều kiện thuận lợi cho việc trồng các loại rau quả. Vì vậy việc trao
đổi, mua bán rau quả với nước ngoài là rất cần thiết. Trong khẩu phần ăn của
con người ngoài calo, chất béo, chất đạm ra còn cần có vitamin, muối khoáng
các axit hữu cơ mà các chất này thì lại có chủ yếu trong rau quả. Theo sự
nghiên cứu của các nhà khoa học thì hàng ngày cơ thể của chúng ta cần
khoảng 1300 – 1500 calo và nhu cầu tiêu dùng rau quả hàng ngày cho một
người là từ 300 – 400 gam (khoảng 9 – 12 kg/người/tháng). Khi đời sống của
người dân ở các nước phát triển ngày càng được nâng cao hơn thì rau quả còn
có tác dụng giúp làm đẹp và giảm cân. Phát triển rau quả không chỉ cung cấp
chất dinh dưỡng cho cơ thể mà nó còn góp phần tạo ra công ăn, việc làm, tăng
thu nhập cho người nông dân, xoá đói giảm nghèo, tăng ngoại tệ cho đất
nước. Rau quả ngày càng chiếm tỉ trọng cao hơn trong cơ cấu kinh tế nông
nghiệp của tất cả các nước trong những thập kỉ qua. Xuất khẩu rau quả không
những nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá trong nước mà còn giúp nền
kinh tế nước ta ổn định và bền vững hơn vì nguồn lực được phân bổ hợp lý,
có hiệu quả. Chính điều này sẽ giúp cho những nước đang phát triển như Việt
Nam đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá trên cơ sở ứng dụng khoa học
công nghệ kỹ thuật.
1.2.2. Vai trò của xuất khẩu rau quả
11
Đào Thị Thanh Thủy - QTKD Thương Mại 47B
Đề án kinh tế thương mại
Xuất khẩu rau quả thúc đẩy sản xuất, chuyển dịch cơ cấu, góp phần thu ngoại
tệ: Xuất khẩu rau quả có vai trò rất lớn trong việc phát triển nông nghiệp nước
ta, tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ nâng cao năng lực sản xuất của
các đơn vị xuất khẩu mặt hàng rau quả, nhờ vậy ngành sản xuất rau quả có thể
phát triển ổn định. Nhờ có hoạt động xuất khẩu mà các vùng trồng cây ăn quả
được xây dựng một cách có hệ thống chứ không phát triển một cách tràn lan.
Nhờ có xuất khẩu mà các doanh nghiệp và người nông dân đã hình thành nên
mối quan hệ gắn bó, mật thiết với nhau. Doanh nghiệp cung cấp giống cây
trồng, hỗ trợ máy móc còn người nông dân sẽ bán sản phẩm cho doanh
nghiệp. Vì vậy mà hiệu quả kinh tế đã được tăng lên đáng kể. Thông qua xuất
khẩu sẽ giúp chúng ta phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu thích ứng
với thay đổi, đòi hỏi của thị trường.
Theo đánh giá của các nhà kinh tế và các chuyên gia thì việc sản xuất và
xuất khẩu rau quả cho hiệu quả cao hơn so với các nông sản khác. Trong khi
các loại cây công nghiệp từ năm thứ 8 trở đi sẽ bắt đầu có lãi, thì với cây vải
thiều đến năm thứ 5 đã thu hồi vốn, và từ năm thứ 6 trở đi đã sinh lời. Mỗi
năm trên thế giới nhu cầu tiêu dùng rau quả tăng thêm 3,6%/năm; trong khi
đó cung chỉ tăng 2,8%/năm. Xuất khẩu đóng vai trò rất quan trọng vào việc
tăng thu ngân sách cho nhà nước. Mấy năm gần đây kim ngạch xuất khẩu liên
tục tăng nhanh. Đến năm 2008 nước ta dự kiến sẽ tăng 16,7% đạt 350 triệu
tấn. Với những điều kiện hết sức thuận lợi để phát triển sản xuất và xuất khẩu
rau quả của Việt Nam thì chúng ta còn rất nhiều cơ hội để gia nhập, cạnh
tranh với thị trường thế giới.
Xuất khẩu rau quả góp phần giải quyết công ăn, việc làm cho người lao động,
cải thiện đời sống người dân.
Với dân số hơn 81 triệu người trong đó hơn 50 triệu người đang ở độ tuổi
lao động, hàng năm lại có thêm 1,2 triệu người bước vào độ tuổi lao động.
12
Đào Thị Thanh Thủy - QTKD Thương Mại 47B
Đề án kinh tế thương mại
Việt Nam là một trong những nước có lượng người lao động đông nhất trong
khu vực. Tuy nhiên lao động của chúng còn hạn chế về trình độ, lao động thủ
công là chính. Rau quả không như những mặt hàng có thể sản xuất quanh năm
mà nó có tính thời vụ, những người dân thất nghiệp trong lúc nông nhàn đều
kéo nhau lên thành phố để kiếm việc. Sản xuất mặt hàng rau quả xuất khẩu có
thể thu hút một lượng lớn lao động trong nước kể cả lao động có trình độ cao
và những lao động phổ thông đặc biệt là những lao động ở nông thôn. Sản
lượng xuất khẩu rau quả hàng năm càng cao thì càng tạo ra nhiều việc làm
cho người lao động từ đó cải thiện căn bản đời sống của họ. Những công ty
sản xuất rau quả và các nhà máy chế biến đã thu hút không ít lao động trong
xã hội tạo ra nguồn lao động lành nghề, những cán bộ kỹ thuật chế biến giỏi.
Hơn nữa nguồn lao động của nước ta rất dồi dào nên chi phí lao động thường
rẻ hơn so với các quốc gia khác từ đó giảm chi phí sản xuất, nâng cao tính
cạnh tranh của mặt hàng rau quả trên thị trường quốc tế.
Xuất khẩu rau quả là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối
ngoại.
Hiện nay Việt Nam đã có quan hệ kinh tế với hơn 120 quốc gia. Một số
mặt hàng có chất lượng cao như: thanh long, sầu riêng, măng cụt, cam, nhãn,
vải có qui mô ngày càng lớn và được thị trường thế giới ngày một ưa
chuộng. Từ khi được gia nhập WTO Việt Nam được hưởng nhiều chính sách
ưa đãi của tổ chức, được giảm thuế xuất nhập khẩu đối với các nước trong
liên minh. Việt Nam đang dần dần coi thị trường thế giới là hướng quan trọng
nhằm xuất khẩu những gì mà thị trường thế giới cần.
1.3. Tổng quan về thị trường Đài Loan
Cho đến thập niên 1960, Đảo chính của Đài Loan được gọi là Formosa
(các thủy thủ người Bồ Đào Nha gọi nó là Ilha Formosa, nghĩa là "hòn đảo
xinh đẹp"). Lãnh thổ Đài Loan nằm phía Đông Nam Trung Quốc bao gồm 86
13
Đào Thị Thanh Thủy - QTKD Thương Mại 47B
Đề án kinh tế thương mại
đảo, trong đó Đài Loan là đảo lớn nhất và rất nhiều đảo nhỏ khác. Tổng diện
tích lãnh thổ là 360006km
2
. Chính đảo Đài Loan giống như hình lá trầu
chiếm 99%. Do kiến tạo địa hình của Đài Loan bị chia thành 2 miền Tây và
Đông. Sông ngòi ở Đài Loan thể hiện 2 đặc điểm khá rõ là ngắn và dốc. Đài
Loan thuộc vùng lãnh thổ nắng lắm mưa nhiều, thường có bão lớn và động
đất. Đài Loan cũng có 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông. Lượng mưa ở Đài Loan
khá cao, nhiều khi còn kèm theo cả gió mạnh, bão lụt đã gây ảnh hưởng khá
nhiều đến sản xuất nông nghiệp. Hơn thế Đài Loan lại là nơi thường xảy ra
động đất, tuy không gây thiệt hại nghiêm trọng tới người và của nhưng nó đã
gây thất thoát mùa màng. Có thể nói mặc dù thiên nhiên ít ưu đãi nhưnng bù
lại Đài Loan lại nhiều khoáng sản, vị thế địa hình thổ nhưỡng và thời tiết
không hoàn toàn thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. Nhưng Đài Loan lại đi
lên bằng nông nghiệp. Sản phẩm nông lâm, ngư nghiệp của Đài Loan cũng rất
phong phú và đa dạng.
1.3.1. Khái quát về thị trường sản xuất, xuất khẩu Đài Loan
1.3.1.1. Về Kinh tế
Đài Loan là nước có nền kinh tế tư bản phát triển năng động. Tốc độ tăng
GDP thực tế trung bình đạt mức 8% trong suốt 3 thập kỷ qua. Tỷ lệ lạm phát
và thất nghiệp thấp; thặng dư thương mại tương đối ổn định, dự trữ nước
ngoài cao thứ 3 thế giới. Ngành nông nghiệp đóng góp 6% cho GDP; giảm so
với tỷ lệ 35% năm 1952, công nghiệp 35,8% và dịch vụ: 58,2%. Những ngành
tập trung nhiều lao động truyền thống đã dần chuyển ra nước ngoài và thay
thế bằng những ngành sản xuất có hàm lượng vốn và kỹ thuật cao. Đài Loan
vẫn là đối tác đầu tư chính của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa; Thái Lan;
Indonesia; Phiplippines; Malaysia; và Việt Nam.
Trải qua gần 5 thập kỷ hình thành và phát triển, Đài Loan đang chuyển
mình từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một cường quốc kinh tế và dẫn
14
Đào Thị Thanh Thủy - QTKD Thương Mại 47B
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét