Câu 1 :
Khi mt nhc c phỏt õm, ng biu din ca õm tng hp l
A.
ng hỡnh sin theo thi gian
B.
ng cong.
C.
ng thng
D.
ng phc tp cú tớnh chu kỡ
Câu 2 :
Chn cõu ỳng. Kho sỏt hin tng súng dng trờn dõy n hi AB = l. u A ni vi ngun dao ng, u B t
do thỡ súng ti v súng phn x ti B
A.
Vuụng pha. B. Cựng pha.
C.
Lch pha gúc
4
. D. Ngc pha.
Câu 3 :
Hai ngun kt hp A, B cỏch nhau 10cm cú phng trỡnh dao ng l
A B
u u 5sin 20 t(cm)= =
. Vn tc
truyn súng trờn mt cht lng l 1m/s. Phng trỡnh dao ng tng hp ti im M trờn mt nc ti trung im
ca AB l:
A.
u 10sin(20 t )(cm)= +
B.
u 5sin(20 t )(cm)=
C.
u 10sin(20 t )(cm)=
D.
u 5sin(20 t )(cm)= +
Câu 4 :
iu no sau õy l sai khi núi v súng õm?
A.
Súng õm l súng c hc dc truyn c trong mụi
trng vt cht k c chõn khụng.
B.
Súng õm cú tn s nm trong khong t 16Hz n
20000Hz.
C.
Súng õm khụng truyn c trong chõn khụng.
D.
Vn tc truyn õm ph thuc nhit .
Câu 5 :
Cho phơng trình sóng u = Asin(0,4x+7t+/3) trong đó x(m) là vị trí của điểm M trên một phơng truyền ,t(s).
Phơng trình này biểu diễn:
A.
Một sóng chạy theo chiều dơng với vận tốc 0,15m/s
B.
Một sóng chạy theo chiều dơng với vận tốc 0,2m/s
C.
Một sóng chạy theo chiều âm của trục x với vận tốc
0,15m/s
D.
Một sóng chạy theo chiều âm của trục x với vận tốc
17,5m/s
Câu 6 :
Chn cõu ỳng. Súng ngang l súng:
A.
cú phng dao ng vuụng gúc vi phng truyn
súng.
B.
c truyn theo phng thng ng.
C.
c truyn i theo phng ngang.
D.
cú phng dao ng trựng vi phng truyn súng.
Câu 7 :
Chn cõu ỳng. m cú:
A.
Tn s xỏc nh gi l nhc õm.
B.
Tn s khụng xỏc nh gi l tp õm.
C.
Tn s ln gi l õm thanh v ngc li õm cú tn
s bộ gi l õm trm
D.
A, B, C u ỳng.
Câu 8 :
Chn cõu ỳng. Trong hin tng giao thoa, nhng im ng yờn khụng dao ng thỡ:
A.
d = n
B.
1 v
d (n )
2 f
= +
C.
(2 1)
2
= +n
D.
= n
Câu 9 :
Hin tng súng dng ch xy ra i vi
A.
Súng ngang B. Súng dc
C.
Súng in t D. c A, B, C
Câu 10 :
Chn cõu ỳng. Ngun kt hp l hai ngun dao ng:
A.
Cựng tn s, cựng pha hoc lch pha khụng i
theo thi gia
B.
Cựng pha.
C.
Cựng tn s, cựng pha v cựng biờn dao ng.
D.
Cựng tn s.
Câu 11 :
Khi biờn ca súng tng gp ụi, nng lng do súng truyn tng bao nhiờu ln.
A.
Gim 1/2 B. Gim 1/4
C.
Tng 4 ln D. Khụng Thay i
Câu 12 :
Chn cõu ỳng. Kho sỏt hin tng súng dng trờn dõy n hi AB = l. u A ni vi ngun dao ng, u B c
nh thỡ súng ti v súng phn x ti B
A.
Vuụng pha. B. Ngc pha.
C.
Cựng pha. D. Lch pha
4
.
Câu 13 :
Mt súng ngang cú phng trỡnh
= 8sin 2 ( )
0,1 50
t x
u mm
, trong ú x (cm), t (s). Chu kỡ súng l
A.
1s B. 50s
C.
0,1s D. 8s
Câu 14 :
Ngi ta t chỡm trong nc mt ngun õm cú tn s 725Hz v vn tc truyn õm trong nc l 1450m/s.
Khong cỏch gia hai im gn nhau nht trong nc v dao ng ngc pha l:
A.
0,5m B. 1m
C.
0,25m D. 1cm
Câu 15 :
Hai ngun kt hp trờn mt nc cỏch nhau 40cm. Trờn ng ni hai ngun, ngi ta quan sỏt c 7 im dao
ng vi biờn cc i (khụng k 2 ngun). Bit vn tc truyn súng trờn mt nc l 60cm/s. Tn s dao ng
ca ngun l:
A.
9Hz B. 7.5Hz
C.
10.5Hz D. 6Hz
Câu 16 :
Ti im M cỏch tõm súng mt khong x cú phng trỡnh dao ng
=
2
4sin(200 )
M
x
u t cm
. Tn s
súng l
Đề ÔN SóNG CƠ HọC
1
A.
200Hz B. 100s
C.
100Hz D. 0,01s
Câu 17 :
Trờn si dõy OA, u A c nh v u O dao ng iu ho vi tn s 20Hz thỡ trờn dõy cú 5 nỳt. Mun trờn dõy
rung thnh 2 bng súng thỡ O phi dao ng vi tn s:
A.
50Hz B. 10Hz
C.
12Hz D. 40Hz
Câu 18 :
Chn phỏt biu ỳng trong cỏc phỏt biu sau:
A.
Bc súng l quóng ng súng truyn c trong
mt chu k dao ng ca súng.
B.
i vi mt mụi trng nht nh, bc súng t l
nghch vi tn s ca súng.
C.
Nhng im cỏch nhau mt s nguyờn ln bc
súng trờn phng truyn súng thỡ dao ng cựng
pha vi nhau.
D.
A, B, C u ỳng.
Câu 19 :
Súng c hc truyn i c trong mụi trng vt cht l do
A.
gia cỏc phn t vt cht cú lc liờn kt
B.
Cỏc phn t vt cht gn nhau
C.
ngun súng luụn dao ng vi tn s f vi cỏc im
k cn nú
D.
c A, B, C
Câu 20 :
Súng õn cú tn s 450Hz lan truyn vi vn tc 360m/s trong khụng khớ. Gia hai im cỏch nhau 1m trờn
phng truyn thỡ chỳng dao ng:
A.
Cựng pha. B. Vuụng pha.
C.
Ngc pha. D. Lch pha
4
.
Câu 21 :
Súng dng xy ra trờn dõy AB = 11cm vi u B t do, u A c nh v bc súng bng 4cm. Trờn dõy cú:
A.
5 bng, 5 nỳt. B. 6 bng, 5 nỳt.
C.
6 bng, 6 nỳt D. 5 bng, 6 nỳt.
Câu 22 :
Chn cõu ỳng. Thc hin thớ nghim giao thoa trờn mt nc: A v B l hai ngun kt hp cú phng trỡnh súng
ti A, B l: u
A
= u
B
= asint thỡ pha ban u ca súng tng hp ti M (vi MA = d
1
v MB = d
2
) l:
A.
1 2
d d f
v
B.
1 2
( )+
d d
C.
1 2
( )+d d f
v
D.
1 2
( )d d
Câu 23 :
Chn cõu ỳng. Trong quỏ trỡnh giao thoa súng. Gi
l lch pha ca hai súng thnh phn. Biờn dao
ng tng hp ti M trong min giao thoa t giỏ tr cc i khi:
A.
(2 1)
2
n
= + B.
2n
=
C.
(2 1)n
= +
D.
(2 1)
2
= +
v
n
f
Câu 24 :
Ngi ta kho sỏt hin tng giao thoa súng trờn mt nc to thnh do hai ngun kt hp A v B dao ng vi
tn s 15 Hz. Ngi ta thy súng cú biờn cc i th nht k t ng trung trc ca AB ti nhng im M cú
hiu khong cỏch n A v B bng 2cm. Tớnh vn tc truyn súng trờn mt nc.
A.
15cm/s B. 45cm/s
C.
30cm/s D. 26cm/s
Câu 25 :
Trờn si dõy OA, u A c nh v u O dao ng iu ho cú phng trỡnh
O
u 5sin 5 t(cm)=
. Vn tc
truyn súng trờn dõy l 24cm/s.Bc súng ca súng trờn dõy l:
A.
60cm B. 9,6cm
C.
1,53cm D. 0,24cm
Câu 26 :
Khi ta gẩy dây đàn, ở các vị trí khác nhau trên cùng một dây đàn thì
A.
một kết quả khác
B.
tạo ra âm có biên độ khác nhau
C.
Tạo ra âm có âm sắc khác nhau
D.
tạo ra âm có độ cao khác nhau
Câu 27 :
Chn cõu ỳng. Súng dc l súng:
A.
cú phng dao ng trựng vi phng truyn súng.
B.
c truyn i theo phng thng ng.
C.
c truyn i theo phng ngang.
D.
cú phng dao ng vuụng gúc vi phng truyn
súng.
Câu 28 :
Mt ngi quan sỏt mt chic phao trờn mt bin, thy nú nhụ cao 10 ln trong khong thi gian 36s v o c
khong cỏch gia hai nh súng lõn cn l 10m. Vn tc truyn súng trờn mt bin:
A.
2,8m/s B. 2,5m/s
C.
40m/s D. 36m/s
Câu 29 :
Chn cõu ỳng. Trong quỏ trỡnh giao thoa súng. Gi
l lch pha ca hai súng thnh phn. Biờn dao
ng tng hp ti M trong min giao thoa t giỏ tr nh nht khi:
A.
(2 1)
2
= +
v
n
f
B.
(2 1)n
= +
C.
2n
=
D.
(2 1)
2
n
= +
Câu 30 :
Trờn si dõy OA, u A c nh v u O dao ng iu ho cú phng trỡnh
O
u 5sin 5 t(cm)=
. Vn tc
truyn súng trờn dõy l 24cm/s v gi s trong quỏ trỡnh truyn súng biờn súng khụng i. Phng trỡnh súng
ti im M cỏch O on 2,4cm l:
A.
M
u 5sin(5 t )(cm)
2
= +
B.
M
u 5sin(5 t )(cm)
2
=
C.
M
u 5sin(5 t )(cm)
4
=
D.
M
u 5sin(5 t )(cm)
4
= +
Câu 31 :
iu no sau õy l sai khi núi v nng lng ca súng c hc?
2
A.
Nng lng súng luụn luụn khụng i trong quỏ
trỡnh truyn súng.
B.
Khi súng truyn t mt ngun im trờn mt phng,
nng lng súng gim t l vi quóng ng truyn
súng.
C.
Khi súng truyn t mt ngun im trong khụng
gian, nng lng súng gim t l vi bỡnh phng
quóng ng truyn súng
D.
Quỏ trỡnh truyn súng l quỏ trỡnh truyn nng
lng.
Câu 32 :
Chn cõu ỳng. Vn tc truyn súng khụng ph thuc vo:
A.
Tn s v biờn ca súng
B.
Biờn ca súng
C.
Tn s ca súng
D.
Biờn ca súng v bn cht ca mụi trng
Câu 33 :
Chn cõu ỳng. Bc súng l:
A.
khong cỏch gia hai im gn nhau nht trờn
phng truyn súng v dao ng cựng pha.
B.
khong cỏch gia hai im dao ng cựng pha trờn
phng truyn súng.
C.
quóng ng súng truyn c trong mt n v
thi gian.
D.
khong cỏch gia hai im gn nhau nht trờn
phng truyn súng v dao ng ngc pha.
Câu 34 :
Mt si dõy mónh AB di 64cm, u B t do v u A dao ng vi tn s f. Vn tc truyn súng trờn dõy
25cm/s. iu kin v tn s xy ra hin tng súng dng trờn dõy l:
A.
1
f 1,28(k )
2
= +
B.
f 0,39k=
C.
1
f 0,39(k )
2
= +
D.
f 1,28k=
Câu 35 :
Mt ng tr cú chiu di 1m. mt u ng cú mt pớt tụng iu chnh chiu di ct khớ trong ng. t mt õm
thoa dao ng vi tn s 600Hz gn u h ca ng. Vn tc õm trong khụng khớ 330m/s. cú cng hng õm
trong ng ta phi iu chnh ct khớ cú di nh nht l
A.
25cm B. 0,5m
C.
12,5cm D. 0,75m
Câu 36 :
iu no sau õy l ỳng khi núi v s giao thoa súng?
A.
Giao thoa súng l s tng hp cỏc súng khỏc nhau
trong khụng gian.
B.
iu kin cú giao thoa l cỏc súng phi l súng
kt hp ngha l chỳng phi cựng tn s, cựng pha
hoc cú hiu s pha khụng i theo thi gian.
C.
Qu tớch nhng im dao ng cựng pha l mt
hyperbol.
D.
iu kin biờn súng cc i l cỏc súng thnh
phn phi ngc pha.
Câu 37 :
Sóng điện từ và sóng cơ học khác nhau về:
A.
Giao thoa
B.
Sóng dừng
C.
Tính chất phản xạ
D.
Môi trừơng truyền sóng
Câu 38 :
iu no sau õy l ỳng khi núi v nng lng ca súng c hc?
A.
Quỏ trỡnh truyn súng l quỏ trỡnh truyn nng
lng
B.
Trong quỏ trỡnh truyn súng, nng lng súng gim
t l vi bỡnh phng quóng ng truyn súng.
C.
Trong quỏ trỡnh truyn súng, nng lng ca súng
luụn luụn l i lng khụng i.
D.
Trong quỏ trỡnh truyn súng, nng lng súng gim
t l vi quóng ng truyn súng.
Câu 39 :
Dựng nguyờn lý chng cht tỡm biờn tng hp ca hai súng: u
1
= u
0
sin(kx - t) v
u
2
= u
0
sin(kx - t + )
A.
A = u
0
cos() B. A = 2u
0
C.
A = 2u
0
cos(/2) D. A = u
0
/2
Câu 40 :
Súng in t truyn c c trong chõn khụng l do
A.
Quỏ trỡnh truyn súng l quỏ trỡnh truyn pha
B.
Súng in t l súng ngang
C.
Quỏ trỡnh truyn súng l quỏ trỡnh truyn nng
lng
D.
Do cú s tng tỏc in t
Câu 41 :
Chn phỏt biu ỳng trong cỏc li phỏt biu di õy:
A.
Chu k dao ng chung ca cỏc phn t vt cht
khi cú súng truyn qua gi l chu k súng.
B.
i lng nghch o ca tn s gúc gi l tn s
ca súng.
C.
Vn tc dao ng ca cỏc phn t vt cht gi l
vn tc ca súng
D.
Nng lng ca súng luụn luụn khụng i trong
quỏ trỡnh truyn súng
Câu 42 :
Chn cõu sai. Súng kt hp l súng c phỏt ra t cỏc ngun:
A.
cú cựng tn s v cú lch pha khụng thay i
theo thi gian.
B.
cú cựng tn s, cựng phng truyn.
C.
cú cựng tn s v cựng pha.
D.
cú cựng tn s v cựng pha hoc lch pha khụng
thay i theo thi gian
Câu 43 :
Ngi ta nộm mt hũn ỏ xung mt cỏi ao, to thnh súng hai chiu trờn mt nc dng hỡnh trũn. Nu tng
nng lng mi giõy ca súng ny l 1W, tớnh cng ca súng ti mt ni cỏch ch hũn ỏ ri 2m.
A.
10W/m B. 0,02W/m
2
C.
0,08 W/m
2
D. 0,08 W/m
Câu 44 :
iu no sau õy l sai khi núi v súng dng?
A.
Súng dng l súng cú cỏc bng v cỏc nỳt c nh
trong khụng gian.
B.
Khong cỏch gia hai nỳt hoc hai bng liờn tip
bng bc súng .
C.
Khong cỏch gia hai nỳt hoc hai bng liờn tip
bng
2
D.
Trong hin tng súng dng, súng ti v súng phn
x ca nú tho món iu kin ngun kt hp nờn
chỳng giao thoa vi nhau.
3
Câu 45 :
Chn cõu ỳng. Vn tc truyn ca súng trong mụi trng ph thuc vo yu t no sau õy:
A.
Bn cht ca mụi trng
B.
Nng lng ca súng
C.
Bc súng.
D.
Tn s ca súng
Câu 46 :
Đánh một tiếng đàn lên dây đàn có chiều dài l, trên dây đàn có thể có những sóng dừng với bứơc sóng nào:
A.
= l, l/2, l/3
B.
Duy nhất = 2l
C.
Duy nhất = l
D.
= 2l, 2l/2, 2l/3,( )
Câu 47 :
Mt ng b bt mt u cho ta mt õm c bn cú tn s f. Sau khi b u bt i, tn s õm c bn phỏt ra s nh th
no ?
A.
Vn nh trc ú
B.
Tng lờn gp 4 ln
C.
Gim xung 2 ln
D.
Tng lờn gp 2 ln
Câu 48 :
Tỡm vn tc súng õm biu th bi phng trỡnh: u = 28cos(20x - 2000t)
A.
334m/s B. 314m/s
C.
50m/s D. 100m/s
Câu 49 :
Mt õm khi truyn trong khụng khớ cú bc súng 50 cm. Vn tc truyn õm trong khụng khớ l 330 m/s, trong
nc l 1500 m/s. Tớnh bc súng ca õm ú khi truyn trong nc.
A.
0,11 m B. 11 m
C.
227,3 m D. 2,273 m
Câu 50 :
Mt si dõy n di 1m, c rung vi tn s 200Hz, hai u dõy c nh. Quan sỏt súng dng trờn dõy ngi ta
thy cú 6 nỳt. Vn tc truyn súng trờn dõy l:
A.
66,7m/s. B. 79,5m/s
C.
80m/s. D. 66,2m/s
Câu 51 :
Chn cõu ỳng. Thc hin thớ nghim giao thoa trờn mt nc: A v B l hai ngun kt hp cú phng trỡnh súng
ti A, B l: u
A
= u
B
= asint thỡ qu tớch nhng im ng yờn khụng dao ng l:
A.
h cỏc ng hyperbol nhn A, B lm tiờu im v
bao gm c ng trung trc ca AB.
B.
h cỏc ng hyperbol nhn A, B lm tiờu im.
C.
h cỏc ng hyperbol cú tiờu im AB.
D.
ng trung trc ca AB.
Câu 52 :
Cho 2 ngun phỏt súng õm cựng biờn , cựng pha v cựng chu k, f = 440Hz, t cỏch nhau 1m. Hi mt ngi
phi ng õu trờn ng ni hai ngun khụng nghe thy õm. Cho vn tc ca õm trong khụng khớ bng
352m/s.
A.
0,3m k t ngun bờn phi.
B.
0,3m k t ngun bờn trỏi.
C.
Ngay chớnh gia, cỏch mi ngun 0,5m
D.
0,3m k t 1 trong hai ngun
Câu 53 :
Chn cõu ỳng. Trong hin tng giao thoa, nhng im dao ng vi biờn ln nht thỡ:
A.
d = 2n
B. d = n
C.
= n
D.
(2 1)n
= +
Câu 54 :
Mt dõy n cú chiu di L c gi c nh hai u. Hi õm do dõy phỏt ra cú bc súng di nht bng bao
nhiờu?
A.
L/2 B. 4L
C.
L D. 2L
Câu 55 :
Hai ngun kt hp A, B cỏch nhau 10cm dao ng vi tn s 20Hz. Vn tc truyn súng trờn mt cht lng l
1,5m/s. S gn li v s im ng yờn khụng dao ng trờn on AB l:
A.
Cú 14 gn li v 14 im ng yờn khụng dao
ng.
B.
Cú 13 gn li v 13 im ng yờn khụng dao
ng.
C.
Cú 13 gn li v 14 im ng yờn khụng dao
ng.
D.
Cú 14 gn li v 13 im ng yờn khụng dao
ng.
Câu 56 :
Hai im cỏch mt ngun õm nhng khong 6,10m v 6,35m. Tn s õm l 680Hz, vn tc truyn õm trong
khụng khớ l 340m/s. lch pha ca súng õm ti hai im trờn l:
A.
16
B.
.
C.
4
D.
4
.
Câu 57 :
Cho hai nguồn sóng âm điều hoà kết hợp là hai loa S
1
và S
2
hứơng về nhau đặt cách nhau 7dm với bứơc sóng
=
20 cm.Trên đoạn S
1
S
2
có bao nhiêu cực đại giao thoa. Biết rằng khi âm phát ra hai màng loa S
1
và S
2
dao động cùng
chiều.
A.
7 cực đại
B.
9 cực đại
C.
6 cực đại
D.
8 cực đại
Câu 58 :
Chn cõu ỳng. Gi d l khong cỏch gia hai im trờn phng truyn súng, v l vn tc truyn súng, f l tn s
ca súng. Nu
v
d (2n 1)
2f
= +
; (n = 0, 1, 2, ), thỡ hai im ú:
A.
dao ng ngc pha.
B.
dao ng vuụng pha.
C.
dao ng cựng pha.
D.
Khụng xỏc nh c.
Câu 59 :
Chn cõu ỳng. Gi d l khong cỏch gia hai im trờn phng truyn súng, v l vn tc truyn súng, T l chu
k ca súng. Nu
d nvT
=
(n = 0,1,2, ), thỡ hai im ú:
A.
dao ng cựng pha.
B.
dao ng ngc pha.
C.
dao ng vuụng pha.
D.
Khụng xỏc nh c.
Câu 60 :
Mt súng ngang cú phng trỡnh
= 5sin ( )
0,1 2
t x
u mm
, trong ú x tớnh bng cm, t tớnh bng s. V trớ ca
phn t súng M cỏch gc to 3m thi im t = 2s l
4
A.
5mm B. 2,5cm
C.
0mm D. 5cm
Câu 61 :
Chn cõu ỳng. m sc l c tớnh sinh lý ca õm c hỡnh thnh da trờn c tớnh vt lý ca õm l:
A.
Biờn v tn s. B. Tn s.
C.
Biờn . D. Nng lng õm.
Câu 62 :
Chn cõu ỳng. Ti ngun O phng trỡnh dao ng ca súng l u = asint. Phng trỡnh no sau õy ỳng vi
phng trỡnh dao ng ca im M cỏch O mt khong OM = d.
A.
2
sin
=
ữ
M M
fd
u a t
v
B.
2
sin
M M
d
u a t
v
=
ữ
C.
2
sin
= +
ữ
M M
fd
u a t
v
D.
2
sin
=
ữ
M M
fd
u a t
v
Câu 63 :
Chn cõu ỳng. Súng c hc l:
A.
nhng dao ng c hc lan truyn trong mt mụi
trng vt cht theo thi gian.
B.
s lan to vt cht trong khụng gian.
C.
s lan truyn dao ng ca vt cht theo thi gian.
D.
s lan truyn biờn dao ng ca cỏc phõn t vt
cht theo thi gian
Câu 64 :
Chn cõu ỳng. cao ca õm ph thuc vo:
A.
Tn s. B. Biờn .
C.
Nng lng õm. D. Vn tc truyn õm
Câu 65 :
Trờn mt thoỏng ca cht lng cú hai ngun kt hp A, B cú phng trỡnh dao ng l:
A B
u u 2sin10 t(cm)= =
. Vn tc truyn súng l 3m/s. Phng trỡnh súng ti M cỏch A, B mt khong ln
lt d
1
= 15cm; d
2
= 20cm l:
A.
7
u 4cos sin(10 t )(cm)
12 12
= +
B.
7
u 2cos sin(10 t )(cm)
12 12
=
C.
7
u 4cos sin(10 t )(cm)
12 12
=
D.
7
u 2 3 sin(10 t )(cm)
6
=
Câu 66 :
Chn cõu ỳng. to ca õm ph thuc vo:
A.
Tn s õm v mc cng õm.
B.
Vn tc truyn õm
C.
Bc súng v nng lng õm.
D.
Tn s v biờn õm.
Câu 67 :
Mt súng ngang cú phng trỡnh
= 8sin 2 ( )
0,1 50
t x
u mm
, trong ú x (cm), t (s). Bc súng l
A.
0,1m B. 1m
C.
0,5 m D. 8mm
Câu 68 :
Chn cõu ỳng. Thc hin thớ nghim giao thoa trờn mt nc: A v B l hai ngun kt hp cú phng trỡnh súng
ti A, B l: u
A
= u
B
= asint thỡ biờn súng tng hp ti M (vi MA = d
1
v MB = d
2
) l:
A.
1 2
(d )
2 os
+
ữ
d f
ac
v
B.
1 2
(d )
2 os
d f
a c
v
C.
1 2
d
2 sin
d
a
ữ
D.
1 2
d
2 os
ữ
d
ac
Câu 69 :
Chn cõu ỳng. Hai õm cú cựng cao thỡ chỳng cú:
A.
cựng tn s.
B.
cựng nng lng.
C.
cựng tn s v cựng biờn .
D.
cựng biờn .
Câu 70 :
Hai im trờn mt phng truyn súng vuụng pha nhau khi hiu ng i bng
A.
(2 1)
2
K
+
B.
2
C.
K
D.
4
Câu 71 :
Cỏc c tớnh sinh lý ca õm l:
A.
Tn s, vn tc, biờn õm.
B.
cao, to, cng õm.
C.
to, õm sc, cng õm.
D.
cao, to, õm sc
Câu 72 :
Mt si dõy mnh AB di lm, u B c nh v u A dao ng vi phng trỡnh dao ng l
u 4sin 20 t(cm)=
. Vn tc truyn súng trờn dõy 25cm/s. iu kin v chiu di ca dõy AB xy ra hin
tng súng dng khi A, B u l nỳt súng
A.
l 2,5k=
B.
1
l 1,25(k )
2
= +
C.
l 1,25k=
D.
1
l 2,5(k )
2
= +
Câu 73 :
Trong mt thớ nghim v giao thoa súng trờn mt nc, hai ngun kt hp A, B dao ng vi tn s 28Hz. Ti
mt im M cỏch cỏc ngun A, B ln lt nhng khong d
1
= 21cm, d
2
= 25cm. Súng cú biờn cc i. Gia M
v ng trung trc ca AB cú ba dóy cc i khỏc. Vn tc truyn súng trờn mt nc l:
A.
112cm/s B. 37cm/s
C.
28cm/s D. 0,57cm/s
Câu 74 :
Trờn mt cht lng ti cú hai ngun kt hp A, B dao ng vi chu k 0,02s. Vn tc truyn súng trờn mt cht
lng l 15cm/s. Trng thỏi dao ng ca M
1
cỏch A, B ln lt nhng khong d
1
= 12cm; d
2
= 14,4cm v ca M
2
5
cỏch A, B ln lt nhng khong
'
1
d
= 16,5cm;
'
2
d
= 19,05cm l:
A.
M
1
ng yờn khụng dao ng v M
2
dao ng vi
biờn cc i .
B.
M
1
v M
2
dao ng vi biờn cc i.
C.
M
1
dao ng vi biờn cc i v M
2
ng yờn
khụng dao ng
D.
M
1
v M
2
ng yờn khụng dao ng.
Câu 75 :
Phng trỡnh ca mt súng truyn trờn mt si dõy l: u = u
0
cos(kx - t). Vo mi lỳc t, gia tc theo thi gian ti
mt im ca dõy s l:
A.
a =
2
u
0
sin(kx - t)
B.
a = -
2
u
0
sin(kx - t)
C.
a = -
2
u
0
cos(kx - t)
D.
a =
2
u
0
cos(kx - t)
Câu 76 :
Phỏt biu no sau õy l ỳng khi núi v súng dng?
A.
Cỏc bng súng cỏch nhau mt s nguyờn ln bc
súng.
B.
Khi mt súng ti v súng phn x ca nú truyn
theo cựng mt phng, chỳng giao thoa vi nhau v
to thnh súng dng
C.
Nỳt súng l nhng im dao ng vi biờn cc
i.
D.
Bng súng l nhng im ng yờn khụng dao
ng.
Câu 77 :
Chn cõu ỳng. Thc hin thớ nghim giao thoa trờn mt nc: A v B l hai ngun kt hp cú phng trỡnh súng
ti A, B l: u
A
= u
B
= asint thỡ qu tớch nhng im dao ng vi biờn cc i bng 2a l:
A.
h cỏc ng hyperbol nhn A, B lm tiờu im v
bao gm c ng trung trc ca AB.
B.
ng trung trc ca AB.
C.
h cỏc ng hyperbol nhn A, B lm tiờu im.
D.
h cỏc ng hyperbol cú tiờu im AB.
Câu 78 :
Mt si dõy n hi AB di 1,2m u A c nh u B t do, c rung vi tn s f v trờn dõy cú súng lan truyn
vi vn tc 24m/s. Quan sỏt súng dng trờn dõy ngi ta thy cú 9 nỳt. Tn s dao ng ca dõy l:
A.
95Hz B. 80Hz.
C.
85Hz D. 90Hz.
Câu 79 :
Ngi ta lm thớ nghim v súng dng trong mt ng sỏo di l. Trong 3 trng hp: a) ng bt kớn mt u, b) ng
bt kớn hai u v c) ng h hai u; Trng hp no súng dng cú tn s õm thp nht
A.
a B. b
C.
c D. c a, b, c
Câu 80 :
Súng dng trờn mt si dõy do s chng cht ca hai súng truyn theo chiu ngc nhau:
u
1
= u
0
sin(kx - t) v u
2
= u
0
sin(kx + t). Biu thc no sau õy biu th súng dng trờn dõy
A.
u = 2u
0
cos(kx).sin(t)
B.
u = 2u
0
sin(kx - t)
C.
u = 2u
0
sin(kx).cos(t)
D.
u = u
0
sin(kx).cos(t)
Câu 81 :
Sóng âm có tần số 400Hz truyền trong không khí với vận tốc 320m/s. Độ lệch pha giữa hai điểm cách nhau 0,2m
trên cùng một phơng truyền sóng là bao nhiêu?
A.
/2
B.
4/5
C.
2/5
D.
/4
6
Môn SONGCO (Đề số 1)
L u ý: - Thí sinh dùng bút tô kín các ô tròn trong mục số báo danh và mã đề thi trớc khi làm bài. Cách tô sai:
- Đối với mỗi câu trắc nghiệm, thí sinh đợc chọn và tô kín một ô tròn tơng ứng với phơng án trả lời. Cách tô đúng :
01 28 55
02 29 56
03 30 57
04 31 58
05 32 59
06 33 60
07 34 61
08 35 62
09 36 63
10 37 64
11 38 65
12 39 66
13 40 67
14 41 68
15 42 69
16 43 70
17 44 71
18 45 72
7
19 46 73
20 47 74
21 48 75
22 49 76
23 50 77
24 51 78
25 52 79
26 53 80
27 54 81
8
phiếu soi - đáp án (Dành cho giám khảo)
Môn : SONGCO
Đề số : 1
01 28 55
02 29 56
03 30 57
04 31 58
05 32 59
06 33 60
07 34 61
08 35 62
09 36 63
10 37 64
11 38 65
12 39 66
13 40 67
14 41 68
15 42 69
16 43 70
17 44 71
18 45 72
19 46 73
20 47 74
21 48 75
22 49 76
23 50 77
24 51 78
25 52 79
26 53 80
27 54 81
9
10
Thứ Sáu, 28 tháng 2, 2014
CAC THI TRUONG MOI NOI
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Tài chính phát triển
Bài đọc
Các thị trường tài chính mới nổi
Ch. 5: Thông tin và kiểm soát
David O. Beim & Charles W. Calomiris 5 Biên dịch: Kim Chi
Hiệu đính: Tự Anh
làm cho việc thu thập thông tin về các quyết định của ban giám đốc trở nên dễ dàng hơn và ít
tốn kém hơn, làm tăng khả năng các giám đốc công ty sẽ hành động vì quyền lợi của cổ đông.
Tư liệu mới về những vấn đề thông tin trên các thị trường tài chính nhấn mạnh bốn đặc
điểm liên quan đến thông tin bất cân xứng đối với việc lập hợp đồng tài chính, đặc biệt phù
hợp tại các thị trường tài chính mới nổi:
1. Thông tin bất cân xứng làm cho thị trường có xu hướng thiên về nợ và ít sử dụng vốn
sở hữu đại chúng hơn. Quả thật, các hợp đồng nợ tồn tại chủ yếu là để khắc phục tình
trạng thông tin bất cân xứng. Nợ tạo ra những nghĩa vụ đơn giản, cố định, mà dòng
ngân lưu cam kết của nó sẽ không thay đổi bất kể công ty làm ăn khấm khá hay tệ hại
ra sao. Trên nguyên tắc, các quyền đòi nợ (debt claims) có thể được cưỡng chế thi
hành, cho dù chúng ta vẫn nhận thấy rằng điều này có khác biệt tuỳ theo cấu trúc luật
pháp của từng quốc gia. Nhưng gần như ở đâu cũng thế, những người cho vay nợ có
một vị thế mạnh hơn so với những người chủ vốn sở hữu đại chúng trong việc thụ
hưởng sinh lợi của họ trong một thị trường có thông tin không hoàn hảo. Chẳng phải
tình cờ mà các vấn đề vốn sở hữu đại chúng như một nguồn vốn mới cho các doanh
nghiệp có tầm quan trọng cao nhất ở Mỹ, nơi mà thông tin tài chính tràn ngập và được
truyền bá rộng rãi.
2. Tình trạng thông tin bất cân xứng làm cho các thị trường nợ có xu hướng thiên về các
ngân hàng và ít sử dụng những chứng khoán như trái phiếu, cổ phiếu, và thương phiếu.
Những người mua chứng khoán nợ cần cảm thấy rằng họ am hiểu thông tin hoặc có ai
đó, chẳng hạn như một cơ quan đánh giá thứ hạng tín dụng, có thể cung cấp thông tin
cho họ và chia xẻ các kết quả với công chúng đầu tư. Ngược lại, các ngân hàng tạo ra
những thông tin riêng của họ và vì thế họ là những nhà cung ứng nợ chiếm ưu thế khi
thông tin công cộng không đầy đủ. Chẳng phải ngẫu nhiên mà tại các thị trường tài
chính mới nổi, các ngân hàng đóng vai trò to lớn hơn nhiều so với trên những thị
trường phát triển hơn.
3. Tình trạng thông tin bất cân xứng làm cho nợ có xu hướng có thời hạn ngắn hoặc có xu
hướng thiên về các quyền hợp đồng giúp người cho vay có thể đẩy nhanh việc thanh
toán nếu một điều khoản hợp đồng bị vi phạm. Quyền chọn không tái tục một khoản nợ
đến hạn, hay đẩy nhanh việc thanh toán khoản nợ, đem lại cho những người cho vay
một tiếng nói liên tục đầy sức mạnh trong các giao dịch của con nợ sau khi hợp đồng
nợ đã được ký kết, điều này có thể ngăn không cho con nợ hành động theo những cách
thức làm hại đến quyền lợi của chủ nợ. Về phương diện này, nợ ngắn hạn thậm chí còn
hữu hiệu hơn so với nợ dài hạn với quyền đẩy nhanh việc thanh toán; quyền đẩy nhanh
việc thanh toán đòi hỏi phải có sự chấp thuận của toà án đối với quyền đòi nợ của chủ
nợ, trong khi quyết định không gia hạn nợ thì không cần đến sự chấp thuận đó.
3
4. Tình trạng thông tin bất cân xứng làm cho việc cho vay của ngân hàng có xu hướng
thiên về những khoản cho vay có tài sản bảo đảm hơn so với cho vay không có tài sản
bảo đảm. Theo nhiều cách, tài sản thế chấp thay thế cho những thông tin đáng tin cậy
về người vay, dĩ nhiên, ta giả định rằng cơ cấu pháp lý hỗ trợ cho việc cho vay có thế
3
Tìm đọc thảo luận chi tiết hơn về những vấn đề động cơ khuyến khích mà có thể hạn chế tính hấp dẫn của nợ dài
hạn trong ấn bản của Jensen và Meckling (1976) và Myers (1977).
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Tài chính phát triển
Bài đọc
Các thị trường tài chính mới nổi
Ch. 5: Thông tin và kiểm soát
David O. Beim & Charles W. Calomiris 6 Biên dịch: Kim Chi
Hiệu đính: Tự Anh
chấp. Ngay cả ở Hoa Kỳ, gần 70 phần trăm các khoản vay ngân hàng công nghiệp và
thương mại được thực hiện trên cơ sở có tài sản bảo đảm.
4
Ở châu Âu, con số này thậm
chí còn cao hơn; chúng ta đã thấy rằng phần lớn các bộ luật châu Âu mang lại sự bảo vệ
lớn lao nhất cho những người cho vay có tài sản bảo đảm. Ở các thị trường tài chính
mới nổi, việc làm cho hoạt động thế chấp trở nên khả thi về mặt pháp lý là một trong
những bước cải tiến mạnh mẽ nhất mà một quốc gia có thể thực hiện hướng tới việc
củng cố các thị trường tài chính. Bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng tài sản thế
chấp đi kèm một cách rõ ràng với những người vay yếu thế và những khoản cho vay
yếu thế.
5
Tài sản thế chấp giúp những người đi vay yếu thế và không được biết đến có
thể thu được những khoản vay mà bình thường họ không thể có được nếu không có sự
bảo đảm. Điều này làm cho những khoản vay có thế chấp trở nên đặc biệt phù hợp với
các thị trường tài chính mới nổi, nơi mà tỷ lệ những người đi vay yếu thế và mức độ bất
cân xứng thông tin thường cao hơn so với trên các thị trường phát triển.
Các thị trường tài chính mới nổi bộc lộ tất cả những đặc điểm trên đây với mức độ rõ
rệt cao hơn nhiều so với các thị trường tài chính phát triển; nghĩa là, các thị trường tài chính
mới nổi sử dụng nợ quá nhiều và thường có các thị trường cổ phiếu không phát triển. Trong
lĩnh vực cho vay, các ngân hàng thường chiếm ưu thế và thị trường trái phiếu (bond market)
kém phát triển. Về bản chất, nợ trên các thị trường tài chính mới nổi có xu hướng là nợ ngắn
hạn, và sử dụng sử dụng tài sản bảo đảm một cách tự do. Việc tập trung vào thông tin và kiểm
soát giúp chúng ta tìm hiểu lý do tại sao các thị trường tài chính mới nổi có những đặc điểm
như vậy. Điều này lại giúp ta hiểu được lý do tại sao các thị trường này thường rơi vào khủng
hoảng, vì việc sử dụng quá nhiều nợ có thể phóng đại ảnh hưởng của những cú sốc kinh tế, đặc
biệt khi đó là nợ ngắn hạn.
Sàng lọc và giám sát
Ta cần phân biệt giữa hai loại nhiệm vụ liên quan đến thông tin: sàng lọc và giám sát.
Sàng lọc và sự lựa chọn bất lợi
Việc sàng lọc là cần thiết trước khi thực hiện quyết định đầu tư. Đây là nền tảng của việc ra
quyết định khi người ta không thể dễ dàng quan sát được chất lượng đầu tư. Nếu người sử dụng
vốn hiểu biết về chất lượng của mình nhiều hơn so với người cung ứng vốn, làm thế nào người
cung ứng vốn có thể có được một chọn lựa phù hợp? Và sau khi đã chọn lựa rồi, làm thế nào
người cung ứng vốn có thể ấn định một mức giá thích hợp? Việc sàng lọc và định giá phụ
thuộc vào vấn đề chọn lựa bất lợi.
Lựa chọn bất lợi là một vấn đề hết sức tổng quát trong kinh tế học. Một ví dụ kinh điển
là thị trường xe ô tô đã qua sử dụng, mà trong đó bao gồm một số xe khá tốt cùng với một số
xe kém chất lượng; đây là ví dụ mà George Akerlof đã sử dụng trong một bài viết kinh điển về
tình trạng bất cân xứng thông tin.
6
Akerlof đưa ra câu hỏi tại sao một chiếc xe mới lại mất giá
nhiều đến thế chỉ ngay sau khi lái ra khỏi cửa hàng trưng bày. Câu trả lời của ông là bởi vì
người chủ sở hữu xe hiểu rõ chiếc xe của mình hơn ai khác, và chỉ những người nghi ngờ chất
lượng xe của họ mới có thể là những người mang bán nó đi; vì thế bất kỳ ai mua một chiếc xe
4
Berger và Udell (1990).
5
Tài liệu đã dẫn.
6
Akerlof (1970); tìm đọc thêm tài liệu của Myers và Majluf (1984).
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Tài chính phát triển
Bài đọc
Các thị trường tài chính mới nổi
Ch. 5: Thông tin và kiểm soát
David O. Beim & Charles W. Calomiris 7 Biên dịch: Kim Chi
Hiệu đính: Tự Anh
đã qua sử dụng, ngay cả một chiếc xe vẫn còn rất mới, đều phải giảm giá mua rất nhiều để tính
đến xác suất chiếc xe có chất lượng kém từ một người bán am hiểu về chiếc xe nhiều hơn so
với người mua.
Nói khái quát hơn, vấn đề chọn lựa bất lợi có hai ảnh hưởng: Nó có xu hướng làm hạ
giá của ô tô đã qua sử dụng hay bất kỳ một hàng hoá nào khác mà người bán am hiểu nhiều
hơn so với người mua, và trong một số trường hợp, nó có thể làm đóng cửa thị trường hoàn
toàn. Ảnh hưởng giá bất lợi hình thành trực tiếp từ nhu cầu của người mua muốn bảo vệ mình
trước những người bán am hiểu thông tin hơn. Ảnh hưởng đóng cửa thị trường có thể được lập
mô hình thông qua tưởng tượng rằng chất lượng của bất kỳ một dòng hàng hoá nào cũng đều
liên quan đến giá cả: Giá càng thấp thì xác suất hàng hoá chào bán là đồ tệ hại càng cao (tiền
nào của ấy), vì người bán những mặt hàng chất lượng cao không muốn bán khi giá giảm. Trong
những tình huống này, có thể sẽ không tồn tại một mức giá cân bằng thị trường nào.
Để minh họa sự lựa chọn bất lợi trên thị trường tín dụng, Akerlof sử dụng ví dụ về Ấn
Độ, một thị trường tài chính mới nổi, nơi mà những người cho vay tiền trong làng cho vay với
lãi suất cắt cổ 15, 25 hay thậm chí 50 phần trăm trong khi những ngân hàng lớn nhất tại các
thành phố trung tâm Ấn Độ có lãi suất cơ bản vào khoảng 6, 8, hay 10 phần trăm mà thôi.
7
Lý
do của mức chênh lệch lớn này là những người cho vay tiền là người cho vay tiềm năng duy
nhất am hiểu chất lượng của những người vay tiền trong làng, và thực sự những người cho vay
này cũng không thể phân biệt giữa những mức độ rủi ro cao và thấp.
Trong chừng mực mà người cho vay tiền phải tiêu tốn nguồn lực để nhận biết những
người cho vay có rủi ro thấp, họ phải bù đắp cho chi phí tìm hiểu thông tin này bằng cách tính
những mức lãi suất cho vay cao hơn. Do đó, lãi suất cao không nhất thiết là chỉ báo của lợi
nhuận độc quyền. Những người cho vay bên ngoài cộng đồng, không am hiểu thông tin, cố
gắng cạnh tranh với những người cho vay có nhiều thông tin hơn, cuối cùng sẽ có một tỷ lệ
người vay không đáng tin cậy nhiều hơn, và sẽ phải tính một mức lãi suất thậm chí cao hơn để
bù đắp cho tỷ lệ thiệt hại kỳ vọng cao hơn.
Vấn đề chọn lựa bất lợi cũng là cách giải thích phổ biến nhất cho việc phân bổ định
mức tín dụng. Ta hãy thay thế cho mức giá giảm của xe ô tô đã qua sử dụng trong ví dụ trên
bằng mức lãi suất tăng lên mà người vay phải trả. Những người vay có rủi ro cao sẽ sẵn lòng
trả lãi suất cao hơn so với những người vay có rủi ro thấp, cũng giống như người bán những
chiếc xe tệ hại sẽ sẵn lòng chấp nhận mức giá thấp hơn so với người bán xe tốt. Như vậy, vì lãi
suất tăng lên, cho nên tỷ lệ những người vay chất lượng kém được phục vụ sẽ tăng lên khi
những người vay chất lượng cao rời bỏ thị trường. Biết được điều này, người cho vay nhận ra
rằng ở một mức lãi suất đủ cao, sự gia tăng lãi suất thêm nữa sẽ làm cho lợi nhuận kỳ vọng của
người cho vay giảm xuống (nghĩa là ứng với mức lãi suất đó, sự gia tăng vỡ nợ do lãi suất tăng
sẽ nhiều hơn so với sự gia tăng thanh toán theo cam kết của những người không vỡ nợ). Như
vậy, người cho vay sẽ quyết định giới hạn lãi suất ở một mức độ tối đa nào đó nhằm đảm bảo
chất lượng bình quân cao trong tập hợp những người vay, cho dù tại mức lãi suất tối đa đó, cầu
của người vay đối với các khoản vay vẫn vượt quá cung. Trong trường hợp đó, những người
cho vay sẽ quyết định phân bổ định mức tín dụng, giới hạn số tiền mà bất kỳ người vay nào có
thể vay mượn để giải quyết tình trạng dư cầu (cầu vượt quá cung). Thông tin bất cân xứng có
nghĩa là người ta có thể tránh né những mức rủi ro cao, thay vì định giá chúng. Nó cũng có
7
Akerlof (1970), trang 498.
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Tài chính phát triển
Bài đọc
Các thị trường tài chính mới nổi
Ch. 5: Thông tin và kiểm soát
David O. Beim & Charles W. Calomiris 8 Biên dịch: Kim Chi
Hiệu đính: Tự Anh
nghĩa là những người vay chất lượng cao phải trả một mức đền bù cao hơn do sự hiện diện của
những người vay chất lượng kém.
8
Vì thế sự chọn lựa bất lợi có hai ảnh hưởng tiêu cực đối với thị trường nợ: Nó làm cho
nợ trở nên đắt đỏ hơn, và nó đóng cửa thị trường đối với những người vay trên một mức độ rủi
ro nhất định. Điều này tương ứng với hai đặc điểm mà chúng ta đã biết rõ của các thị trường nợ
thuộc các thị trường tài chính mới nổi: Lãi suất thực của họ thường cực kỳ cao, và thị trường bị
đóng cửa một cách định kỳ đối với tất cả những người vay hoặc đối với tất cả ngoại trừ những
người vay đã được biết rất rõ.
Những người vay chất lượng cao thường tìm cách tránh tình trạng phân bổ định mức tín
dụng và mức đền bù rủi ro bằng cách cố gắng phát ra tín hiệu rằng chất lượng của họ cao hơn
bình quân. Điều này dẫn đến sự tình nguyện cáo bạch thông tin cho người cho vay. Nó cũng
kích thích việc sử dụng tài sản thế chấp: người vay nào sẵn sàng thế chấp tài sản ắt phải tự tin
về khả năng trả nợ của mình. Việc thế chấp rất phổ biến tại các thị trường tài chính mới nổi
một phần do đó là một công cụ phát tín hiệu hết sức thuyết phục. Quả thật, bản thân việc đòi
hỏi thế chấp có thể giúp sàng lọc những người vay rủi ro cao, thường không sẵn lòng thế chấp
tài sản.
Việc đầu tư vốn sở hữu vốn dĩ nhiên cần có nhiều thông tin hơn so với đầu tư nợ. Như
lưu ý trên đây, nợ phát triển một phần lớn là để giúp cung ứng vốn cho những doanh nghiệp
nào mà người ta không dễ dàng thông hiểu tình trạng và triển vọng. Những nhà đầu tư nợ
(người cho vay) có thể nhìn vào một vài tỷ số tài chính và đòi hỏi thế chấp tài sản vật chất để
bảo vệ mình trước rủi ro vỡ nợ. Ngược lại, những nhà đầu tư vốn sở hữu, sở hữu những tài sản
còn lại của doanh nghiệp, và vì thế phải am hiểu toàn bộ những thị trường và cơ hội của doanh
nghiệp. Đây là một nhiệm vụ khó khăn. Các nhà đầu tư vốn sở hữu và các tổ chức bảo lãnh
phát hành đảm nhận một công việc sàng lọc phức tạp mà các công ty chào bán cổ phiếu cuối
cùng phải gánh chịu chi phí. Để một doanh nghiệp tiếp cận được với thị trường cổ phiếu,
thường phải có sự hỗ trợ đáng kể từ các tổ chức am hiểu thông tin (các nhà bảo lãnh phát hành
và các nhà đầu tư) bày tỏ niềm tin của họ vào triển vọng của doanh nghiệp.
Hơn nữa, quyết định bán cổ phiếu của một công ty cho công chúng có thể được hiểu
như là một tín hiệu ngoài dự kiến rằng công ty đang lo lắng về tương lai của mình. Nếu một
công ty đang mang nợ nhiều dự kiến tình trạng sa sút trong kinh doanh kinh doanh, thì kết cục
có thể sẽ là phá sản trừ khi công ty tăng cơ sở vốn sở hữu. Biết được điều này, các nhà đầu tư
cần phải nghi ngờ trước những công ty đang nôn nóng muốn bán cổ phiếu, cũng giống như
người mua ô tô cần nghi ngờ những người chủ đang nôn nóng muốn bán xe ô tô của họ. Đó là
lý do tại sao giá cổ phiếu thường giảm khi công ty công bố phát hành cổ phiếu mới, và cũng là
lý do tại sao ảnh hưởng đó đôi khi hết sức to lớn.
9
Đây là một nghịch lý lạ kỳ. Groucho Marx từng nói rằng ông sẽ không muốn tham gia
vào một câu lạc bộ nào mà muốn mời ông làm thành viên. Theo một cách tương tự, các nhà
đầu tư có lẽ có quyền nói rằng họ sẽ không muốn mua cổ phiếu của một công ty nào đó đang
muốn bán ra. Công ty am hiểu thông tin nhiều hơn so với nhà đầu tư, và một quyết định bán cổ
phiếu có thể phát ra tín hiệu về những vấn đề khó khăn ẩn giấu. Đó là một trong những ví dụ rõ
8
Stiglitz và Weiss (1981).
9
Higgins (1998), trang 205-209.
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Tài chính phát triển
Bài đọc
Các thị trường tài chính mới nổi
Ch. 5: Thông tin và kiểm soát
David O. Beim & Charles W. Calomiris 9 Biên dịch: Kim Chi
Hiệu đính: Tự Anh
ràng nhất của thế giới tài chính về thông tin bất cân xứng làm cản trở sự phát triển và thành quả
hoạt động của thị trường. Phần lớn thời gian và tại nhiều quốc gia, điều đó có nghĩa là những
nhà đầu tư bên ngoài sẽ tránh né cổ phiếu. Vấn đề thông tin cũng giải thích cho tình trạng
những nhà đầu tư danh mục nước ngoài thường bất ngờ lìa bỏ các thị trường tài chính mới nổi,
và giải thích cho số lượng đơn vị phát hành vốn sở hữu ít ỏi tại các thị trường này, cũng như
tình trạng kém phát triển của các thị trường cổ phiếu ở đó.
Các nhà đầu tư cổ phiếu và các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài có hành vi khá khác biệt
nhau. Họ thực hiện những cam kết dài hạn dựa vào sự am hiểu sâu xa hơn về các cơ hội và rủi
ro địa phương. Việc đầu tư của họ không có tính thanh khoản và họ không thể nhanh chóng
đảo ngược các quyết định của mình được. Hơn thế, các nhà đầu tư cổ phiếu và các nhà đầu tư
trực tiếp nước ngoài có xu hướng am hiểu thông tin, cho nên họ tiếp tục đầu tư ngay cả khi
đứng trước nghịch cảnh, không giống như những nhà đầu tư đại chúng và ít thông tin hơn. Họ
đỡ thất thường hơn vì họ thực hiện việc sàng lọc riêng trước khi đầu tư và vì họ nắm giữ sự
kiểm soát trực tiếp hơn đối với các dự án đầu tư của họ, điều này giúp hạn chế mức độ tranh
thủ lợi dụng của các giám đốc công ty sau khi họ đã mua cổ phiếu.
Sự giám sát của các nhà đầu tư
Công việc giám sát liên quan đến nhiệm vụ theo dõi “vận mệnh” của một dự án đầu tư sau khi
dự án đã được tiến hành. Điều này chẳng phải được thực hiện chỉ để thỏa mãn tính tò mò. Các
nhà đầu tư cần đảm bảo rằng công ty không hành động theo những cách thức phương hại đến
quyền lợi của nhà đầu tư.
Tại các quốc gia công nghiệp và đặc biệt tại Hoa Kỳ, nơi mà ban giám đốc công ty
thường tách biệt với các cổ đông phân tán rộng rãi, vấn đề giám sát cơ bản là làm thế nào bảo
đảm rằng các giám đốc công ty hành động vì quyền lợi của cổ đông. Đây là một dạng của vấn
đề người uỷ quyền – người thừa hành từng được nghiên cứu rộng rãi và được giải quyết tốt
nhất bằng sự kết hợp giữa luật cáo bạch (để cổ đông có thể tìm hiểu xem ban giám đốc đang
làm gì) và quyền của cổ đông được cưỡng chế thi hành hữu hiệu (để cổ đông có thể sa thải
những giám đốc có hành vi sai quấy).
Tuy nhiên, tại hầu hết các thị trường tài chính mới nổi, các cá nhân và gia đình giàu có
kiểm soát phần lớn các công ty và thường giám đốc điều hành là một thành viên trong gia đình.
Trong bối cảnh này, các xung đột kiểm soát quan trọng không phải là giữa ban giám đốc và các
cổ đông mà là giữa (1) các cổ đông nội bộ và bên ngoài và / hoặc (2) những người chủ vốn sở
hữu và các chủ nợ. Sau khi xem xét việc bảo vệ các cổ đông thiểu số trong chương trước, ở đây
chúng ta sẽ chuyển sang xem xét xung đột giữa vốn sở hữu và nợ. Suy cho cùng, nợ là hình
thức tài trợ chủ yếu tại các quốc gia đang phát triển. Giả định rằng các cổ đông kiểm soát ban
giám đốc và ban giám đốc hành động vì quyền lợi của các cổ đông, những người cho vay (ngân
hàng) cần phải giám sát để bảo vệ chính mình bằng cách nào?
Các ngân hàng, cũng như các cổ đông thiểu số, cần đề phòng tình trạng chiếm đoạt tài
sản công ty bởi ban giám đốc và / hoặc các cổ đông kiểm soát như đã mô tả trong chương
trước. Như chúng ta đã thấy ở Nga, cộng hoà Séc, và một số quốc gia khác trong quá trình
chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường, đây chỉ là những gì xảy ra với việc
tư nhân hoá tự phát. Rủi ro là ở chỗ ngân hàng sẽ cho vay để tài trợ cho các tài sản, rồi những
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Tài chính phát triển
Bài đọc
Các thị trường tài chính mới nổi
Ch. 5: Thông tin và kiểm soát
David O. Beim & Charles W. Calomiris 10 Biên dịch: Kim Chi
Hiệu đính: Tự Anh
tài sản này sau đó được chuyển ra khỏi doanh nghiệp, để lại những khoản nợ mất khả năng
thanh toán.
Phần đóng khung sau đây mô tả công ty Alphatec ở Thái Lan sẽ cho ta một ví dụ sinh
động về những sự việc sai trái. Trước tiên, các báo cáo tài chính của công ty Alphatec là ngụy
tạo. Doanh thu được xây dựng một cách giả tạo và sai lệch, và được phóng đại lên từ 6 đến 10
lần. Thay vì 1,6 tỷ USD lợi nhuận trong năm năm, công ty thật ra đã lỗ 700 triệu USD. Điều
này nói lên nhu cầu của ngân hàng (cũng như các cổ đông bên ngoài) cần phải có những thông
tin tài chính chính xác, được kiểm toán thỏa đáng.
Bài báo về công ty Alphatec cũng cho thấy nhu cầu phải kiểm soát hành vi của người
vay. Nhìn từ góc độ người cho vay, hành động nguy hại nhất là chuyển một lượng lớn tài sản
công ty từ Alphatec sang những công ty khác do ông Charn kiểm soát, bao gồm một số tài sản
dính líu đến đầu cơ đất đai. Ví dụ kinh điển về việc chiếm đoạt tài sản này có lẽ là hợp pháp
theo luật của Thái Lan, cho dù nó là một trường hợp lừa đảo rõ ràng đối với những người cung
ứng vốn tại các quốc gia có thông luật (common law). Xem ra các ngân hàng cũng có đại diện,
và có lẽ còn chi phối trong hội đồng quản trị, nhưng những người này hoặc không lưu ý đầy đủ
hoặc thiếu phương tiện để ngăn chặn tình trạng chiếm đoạt tài sản.
Cuối cùng, bài báo nói rằng công ty Alphatec đang tiến lên phía trước với một trong
những dự án mở rộng đầy hoài bão to lớn nhất của ngành khi nợ của công ty đang tăng vọt
vượt ra ngoài tầm kiểm soát. Chủ tịch hội đồng quản trị công ty, bà Waree, nguyên thống đốc
ngân hàng trung ương, nói bà đã cảnh báo ông Charn về rủi ro của việc mở rộng đó nhưng hội
đồng quản trị đã không ngăn lại. Tại sao?
Kế toán sáng tạo và việc quản trị nội bộ công ty ở Thái Lan
Luôn luôn là một khoản vay khác, luôn luôn là một doanh vụ khác. Đó là cách thức ông Charn
Uswachoke, thường được gọi là ông Chips, né tránh các ngân hàng đang bồn chồn lo lắng hồi
tháng hai, khi một nhóm ngân hàng hỏi ông tại sao công ty Alphatec Electronics PCL vi phạm
một số điều khoản nợ quốc tế. Mọi thứ sẽ được giải quyết ổn thỏa, công ty trụ cột của ngành
điện tử Thái Lan cam kết. Ông Charn nói với các ngân hàng cho vay rằng nhà bảo lãnh phát
hành Lehman Brothers Inc. chẳng bao lâu nữa sẽ vén màn công bố một vụ chào bán cổ phiếu
lần đầu cho công chúng trên Thị trường Chứng khoán New York của một công ty Alphatec
mới được cơ cấu lại. Để cứu vãn công ty bao bì bán dẫn đang sa lầy trong nợ nần này, nhà bảo
lãnh phát hành Lehman đề nghị với các ngân hàng huy động thêm 1 tỷ USD nợ mới cho các
doanh nghiệp của ông Charn.
Thế nhưng ngay cả khi các kế hoạch của Lehman Brothers Holdings Inc. được xúc tiến,
Alphatec cũng đứng trước nhiều khó khăn. Một đợt kiểm toán độc lập của Price Waterhouse
vào tháng bảy đã cho thấy rằng Alphatec, một thời là ngôi sao trên Thị trường Cổ phiếu Thái
Lan, đã phóng đại lợi nhuận thêm ít nhất là 164 triệu USD từ năm 1994 đến tháng tư năm nay
(1997), một thời kỳ mà báo cáo kiểm toán cho rằng công ty lẽ ra phải báo cáo “thua lỗ đáng
kể”. Những người lao động trước đây và hiện nay của công ty, vốn quen thuộc với những con
số thật sự của Alphatec, nói doanh thu đã được báo cáo tăng lên gấp 6 đến 10 lần so với mức
thực tế. Đơn vị kiểm toán Price Waterhouse cũng nhận thấy rằng công ty Alphatec đã chuyển
giao ít nhất 160 triệu USD nguồn tiền của công ty cho các công ty khác thuộc sự kiểm soát của
ông Charn, mà không có sự phê duyệt của hội đồng quản trị… Và Price Waterhouse phát hiện
ra rằng Alphatec duy trì hai hệ thống sổ sách kế toán rất khác biệt nhau.
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Tài chính phát triển
Bài đọc
Các thị trường tài chính mới nổi
Ch. 5: Thông tin và kiểm soát
David O. Beim & Charles W. Calomiris 11 Biên dịch: Kim Chi
Hiệu đính: Tự Anh
Cách thức những hoạt động đáng ngờ này đã làm cho một công ty công nghệ cao hàng đầu
của Thái Lan ngã qụy như thế nào là câu chuyện về sự mục nát kinh tế ở Thái Lan ngày nay.
Sự kiện nhiều công ty lớn của Hoa Kỳ trở thành nạn nhân của sự lừa đảo của Alphatec – từ
Texas Instrument Inc. cho tới Bankers Trust New York Corp. và Lehman – cho thấy Thái Lan
và Alphatec đã một thời quyến rũ người ta đến mức nào…
Một thời từng được đề cao như niềm hy vọng tràn trề nhất của Thái Lan để nhảy vào hàng
ngũ đẳng cấp cao của các nhà sản xuất công nghệ thế giới, Alphatec bây giờ chững lại như một
bài học đau thương về những mối nguy hiểm của hoạt động kinh doanh tại một đất nước mà
trách nhiệm giải trình của ban giám đốc trong điều kiện tốt nhất cũng chỉ có tính chất vá víu.
Tình trạng thiếu vắng rõ rệt các biện pháp kiểm soát công ty ở Alphatec - sự trà trộn nguồn vốn
giữa những công ty niêm yết và những công ty có cổ phần được nắm giữ trong phạm vi hẹp
được điều hành bởi cùng một gia đình, việc sử dụng nhiều hệ thống sổ sách kế toán khác nhau
và các phương pháp kế toán sai lệch, các hội đồng quản trị chỉ biết tán thành không cần suy
nghĩ và được trả lương cao - phản ánh những vấn đề ở các công ty Thái Lan khác từng đưa nền
kinh tế đất nước này đến bên bờ vực thẳm.
Trong suốt một thập niên êm đềm sau năm 1985, những khiếm khuyết như thế có thể được
che đậy bằng tín dụng dễ dàng và giá cổ phiếu tăng vọt. Nhưng bây giờ, ngày phán xét đã đến.
Paribas Asia Equity, một công ty môi giới chứng khoán khu vực, đã xây dựng lại các báo cáo
thu nhập của 20 công ty Thái Lan theo các tiêu chuẩn kế toán nghiêm ngặt hơn. Kết quả là:
khoảng 1,6 tỷ USD lợi nhuận báo cáo từ năm năm qua trở thành khoản thua lỗ luỹ kế hơn 700
triệu USD.
Trong trường hợp Alphatec, sổ sách tài chính thoạt đầu vẫn được kiểm toán hàng quý bởi chi
nhánh của KPMG Peat Marwick tại Thái Lan, công ty KPMG Peat Marwick Suthee Ltd., công
ty này từ chối đưa ra bình luận. Thị trường Cổ phiếu Thái Lan hiện đang chất vấn các nhà kiểm
toán của công ty về những điểm sai biệt vừa phát hiện được trong báo cáo kiểm toán của Price
Waterhouse.
Vào tháng năm, Alphatec đã ngưng thanh toán khoản nợ 450 triệu USD của họ. Vậy mà cho
tới gần đây, những người cho vay nói, công ty và ban quản trị đã ngăn cản những nỗ lực giải
quyết tình trạng sa lầy tài chính, chỉ uỷ thác cho Price Waterhouse kiểm toán sau khi nhận
được kết luận cuối cùng từ những người cho vay. Theo Leslies Merszei, cố vấn tài chính cao
cấp của ông Charn lúc bấy giờ, sau khi kết luận của Price Waterhouse được phổ biến trong nội
bộ, bảy bao đựng hồ sơ cắt vụn đã được phát hiện trong phòng tài chính của công ty Alphatec.
Ông Merszei đã từ chức ở Alphatec vào ngày 1 tháng 8…
Khi nợ của Alphatec phình to vượt ra ngoài tầm kiểm soát vào mùa đông vừa rồi, ông Charn
tung ra một trong những kế hoạch mở rộng đầy tham vọng trong ngành chip điện tử toàn cầu.
Dựa vào những nỗ lực tái tài trợ do Lehman và những đơn vị khác phát động, ông xoay xở để
tiếp tục xây dựng ba nhà máy trị giá 2,3 tỷ USD. Lần đầu tiên đối với Thái Lan, hai trong ba
nhà máy này, cùng hợp tác với Texas Instruments, dự định thực hiện một số qui trình tiên tiến
nhất trong điện tử vi mô: thực sự sản xuất vòng niêm silicon, vốn là phạm vi hoạt động của
những công ty công nghệ cao hạng nặng như Intel Corp, AMD và Micron Technologies Inc.
Kế hoạch mở rộng là chiến lược then chốt cho mục tiêu của ông Charn nhằm đạt được vị trí
vững chắc trên mọi nấc thang chế tạo chip điện tử đầy lợi nhuận. Theo thông lệ thực hành kinh
doanh của Thái Lan, ông thành lập một số công ty mới để triển khai những dự án này, độc lập
với công ty Alphatec đã niêm yết cổ phần đại chúng, và để cho các thành viên trong gia đình
điều hành. Các công ty này được tài trợ bằng nợ vay từ các ngân hàng Thái và nước ngoài, mà
ông Charn kỳ vọng sẽ hoàn trả bằng việc chào bán cổ phiếu trên thị trường cổ phiếu đang phất
lên của Thái Lan.
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Tài chính phát triển
Bài đọc
Các thị trường tài chính mới nổi
Ch. 5: Thông tin và kiểm soát
David O. Beim & Charles W. Calomiris 12 Biên dịch: Kim Chi
Hiệu đính: Tự Anh
Thế rồi khoảng một năm trước đây, giá cổ phiếu Thái Lan bắt đầu rơi mạnh trong một thời
gian dài, làm cho việc chào bán cổ phiếu lần đầu trở nên gần như không thể thực hiện nổi. Ông
Charn bị kẹt cứng.
Vậy mà những thông lệ thực hành tài chính đáng ngờ vẫn cứ tiếp tục. Theo lời ông Merszei,
từ tháng 1 đến tháng 4 năm nay, hơn 80 triệu USD của công ty Alphatec được chuyển giao cho
một công ty do ông Charn kiểm soát, đang xây dựng một khu công nghiệp cho các nhà máy
bán dẫn mới, mà không có sự phê duyệt của hội đồng quản trị. Sau đó, theo báo cáo của Price
Waterhouse, để dấu diếm tình trạng thua lỗ liên miên, Alphatec phóng đại thu nhập quí đầu
thêm khoảng 20 triệu USD.
Không có bằng chứng gì cho thấy bất kỳ thành viên quản trị nào của Alphatec, ngoài ông
Charn, biết về những điểm trái qui tắc kế toán của công ty. Nhưng, các nhà quan sát công
nghiệp Thái nói, sự kiện đó cũng đang bộc lộ. Đứng đầu là Chủ tịch Waree Havanonda, 69
tuổi, giảng viên quản trị và nguyên trợ lý thống đốc ngân hàng trung ương Thái Lan, hội đồng
quản trị chủ yếu bao gồm các nhà hoạt động ngân hàng, không ai trong số đó có kinh nghiệm
về các công ty điện tử tiên tiến.
Bà Waree, người gặp Charn lần đầu khi ông còn là sinh viên của bà ở trường kinh doanh, nói
“Tôi đã nhiều lần cảnh báo Charn là đừng mở rộng hoạt động nhanh quá. Ông ta nói ‘Chúng ta
có một cơ hội; chúng ta phải nắm bắt nó.’ Ông ta muốn trở thành ông hoàng trong ngành điện
tử.” Bà Waree phủ nhận việc Alphatec duy trì hai hệ thống sổ sách kế toán, nhưng thừa nhận
rằng “việc báo cáo sai có phát sinh” khi số liệu sản xuất được hợp nhất bởi phòng tài chính của
công ty Alphatec.
Thậm chí nếu một vài thành viên quản trị biết Alphatec cấp vốn cho các công ty khác thuộc
sự kiểm soát của ông Charn, người ta cũng không rõ liệu họ có phản đối hay không. Một lý do
là các ngân hàng chính đại diện trong hội đồng quản trị công ty cũng chính là những người
yểm trợ cho các công ty khác của ông Charn; những mối quan ngại về xung đột quyền lợi của
các thành viên hội đồng và trách nhiệm uỷ thác gần như không tồn tại ở Thái Lan, các giám
đốc điều hành nói. Và việc sử dụng tiền của công ty sở hữu đại chúng để xúc tiến các công ty
tư nhân là một thông lệ thực hành phổ biến ở Đông nam Á, nơi mà các tập đoàn công ty do gia
đình điều hành tuỳ ý trộn lẫn nguồn vốn.
Những điểm trái qui tắc kế toán lộ rõ vào tháng năm. Sau vài tháng ra sức tái cơ cấu
Alphatec để chào bán cổ phiếu lần đầu cho công chúng không có kết quả, Lehman Brothers
thay đổi chiến lược và phát động một đề xuất bán 300 triệu USD trái phiếu lãi suất cao. Ngày
11 tháng 5, một nhóm luật sư New York và các ngân hàng đầu tư, đứng đầu là lãnh đạo công
nghệ của Lehman, Jack Skydel, đến Bangkok để xem xét các con số cùng với nhân viên
Alphatec.
Mười lăm phút trước cuộc họp, ông Charn thả một quả bom trước mặt ông Merszei: nợ của
Alphatec tăng lên không chỉ 35 triệu USD, như ông Charn mới nêu lên gần đây, mà tăng thêm
những 100 triệu USD. Phần lớn sự gia tăng này là do việc chuyển giao tài chính sang cho các
công ty khác của ông Charn, ông Merszei nói ông Charn đã bảo như vậy.
Trong một lần gặp gỡ khác, ông Merszei và đồng nghiệp, Rebert Book, đã kéo riêng ông
Skydel thuộc nhà bảo lãnh phát hành Lehman ra một chỗ. Ông Book, cố vấn tài chính cho ông
Charn suốt một thời gian dài, kể lại: “Tôi bảo, ‘Công ty này không phải là một ứng viên cho
bất kỳ một thị trường nợ hay thị trường cổ phiếu nào trên thế giới. Thông lệ thực hành tài chính
ở đây không phù hợp với hệ thống giá trị phương Tây, hay bất kỳ một hệ thống giá trị nào. Tôi
rất tiếc là ông đã đến đây.’ Các chuyên gia New York bay về nước ngay tối hôm đó.
Ông Merszei kêu gọi một lệnh hoãn trả nợ cho các khoản nợ của Alphatec, sau đó thận trọng
tìm hiểu thêm. Cho dù các viên chức tài chính của Alphatec từ chối mở sổ sách cho ông xem,
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Tài chính phát triển
Bài đọc
Các thị trường tài chính mới nổi
Ch. 5: Thông tin và kiểm soát
David O. Beim & Charles W. Calomiris 13 Biên dịch: Kim Chi
Hiệu đính: Tự Anh
nhưng với sự giúp đỡ của các viên chức khác, ông đã tập hợp được một bức tranh đáng báo
động. Họ kết luận, chẳng có cách gì mà Alphatec, với các nhà máy hoạt động như thế, lại tạo ra
được 493 triệu doanh thu như công ty đã báo cáo vào năm 1996, hay có được chút lợi nhuận
nào. Họ tính toán, Alphatec ắt hẳn phải có những khoản thua lỗ lớn, ứng với doanh thu không
đến 80 triệu vào năm 1996.
Ông Merszei và các chủ nợ của Alphatec nói, để làm cho số liệu doanh thu khai khống
khổng lồ đó có giá trị đối với nhân viên kiểm toán KPMG, phòng tài chính công ty đã lập sổ
sách tính doanh thu là toàn bộ giá trị thị trường của từng con chíp mà công ty vận chuyển cho
khách hàng, thay vì lẽ ra chỉ là một tỷ lệ nhỏ của giá trị đó mà công ty Alphatec thật sự nhận
được cho công việc đóng gói và thử nghiệm chất bán dẫn do những công ty khác sản xuất ra.
Sau đó, trong quá trình kiểm toán, Price Waterhouse đã phát hiện ra những hoá đơn giả mà
Alphatec đã sử dụng để khai thông tín dụng thương mại tại các ngân hàng Bangkok. Chiêu lừa
bịp này thật vụng về: Hai trong số các hoá đơn giả, được lập với biểu trưng (logo) của công ty
nhưng lại in sai tên công ty là “Cypres Semiconductor Corp.” và “Phiilip International Inc.”
Vào giữa tháng 6, ông Merszei trình bày những phát hiện của mình trước hội đồng quản trị,
và hội đồng chất vấn ông Charn về những phát hiện đó. Thoạt tiên, ông ta phủ nhận tất cả, tố
cáo ông Merszei là câu kết với những người khác để đưa Alphatec vào chỗ vỡ nợ nhằm mua lại
công ty với giá rẻ mạt. Bà Waree, chủ tịch Alphatec, nói hội đồng quản trị thúc ép ông Charn
phải giải thích những gì đã xảy ra. “Ông ta thú nhận tiền đã được mang đi mua đất đai và cam
kết sẽ hoàn trả lại.”
Nguồn: The Wall Street Journal, ngày 8 tháng 9 năm 1997.
Các cổ đông có thể hưởng lợi từ việc chấp nhận rủi ro bằng tổn thất của những người
cho vay, vì các cổ đông được hưởng lợi ích của rủi ro gia tăng nếu việc kinh doanh thành công,
trong khi những người cho vay phải gánh chịu thua lỗ nếu việc kinh doanh thất bại. Điều này
đặc biệt đúng tại những thị trường tài chính mới nổi có luật phá sản yếu kém, nơi mà trong tình
huống kết quả kinh doanh tồi tệ, người chủ vốn sở hữu thường lảng tránh và thương thảo bất
tận, đồng thời không chi trả. Xu hướng gia tăng rủi ro bằng tổn thất của người cho vay là một
hình thức của rủi ro đạo đức (moral harzard - đôi khi còn gọi là vấn đề thay thế tài sản).
10
Như
vậy, những người cho vay cần phải giám sát người vay để bảo đảm rằng họ không chấp nhận
những rủi ro thái quá bằng tổn thất của người cho vay.
Kiểu rủi ro đạo đức này xuất hiện bất kỳ khi nào công ty vay mượn, và trở nên nghiêm
trọng khi vốn sở hữu bị thu hẹp chỉ còn rất ít hoặc chẳng còn gì cả. Hoàn toàn có thể là ông
Charn biết rằng Alphatec chẳng bao lâu nữa sẽ sụp đổ, nhưng vẫn tham gia vào kế hoạch phát
triển khổng lồ như một canh bạc tuyệt vọng, hy vọng rằng ván bài sẽ thắng và sẽ đưa công ty ra
khỏi hố sâu mà công ty đang sa vào. Khi vốn sở hữu không còn, các động cơ khuyến khích
hoàn toàn bị thiên lệch. Khía cạnh xấu của những rủi ro to lớn (tình huống kết quả kinh doanh
tồi tệ) không còn là yếu tố ngăn cản người ta chấp nhận rủi ro nữa, bởi vì nếu có thua lỗ thì
những người cho vay phải gánh chịu hoàn toàn, trong khi nếu thành công thì có thể khôi phục
được vốn sở hữu của công ty. Những “chiến lược phục hưng” này rất phổ biến trong các ngân
hàng, nơi có đòn bẩy tài chính cao và có thể thay đổi tổ hợp tài sản một cách nhanh chóng và
tự do hơn so với các công ty công nghiệp.
10
Tìm đọc chương 7 giải thích đầy đủ về rủi ro đạo đức và rủi ro thay thế tài sản khi vốn ngân hàng giảm sút hay
bị tiêu tan. Chúng ta thấy rằng đây có thể là một nguồn rủi ro chết người không chỉ đối với các ngân hàng mà còn
đối với tổng thể nền kinh tế.
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Tài chính phát triển
Bài đọc
Các thị trường tài chính mới nổi
Ch. 5: Thông tin và kiểm soát
David O. Beim & Charles W. Calomiris 14 Biên dịch: Kim Chi
Hiệu đính: Tự Anh
Trong chừng mực nào đó, những người cho vay có thể tự bảo vệ trước rủi ro thái quá
bằng cách cho vay ngắn hạn. Các chủ nợ ngắn hạn tương đối được bảo vệ trước tình trạng thay
thế tài sản vì họ có thể thu hồi được tiền về trong tương lai gần khi nợ đến hạn, hay chỉ tái tục
nợ với lãi suất cao hơn. Lẽ dĩ nhiên, điều này đòi hỏi chủ nợ phải là những người quan sát,
giám sát hành vi của doanh nghiệp, và trừng phạt tình trạng rủi ro cao hơn khi họ nhận thấy
điều đó.
Các điều khoản hạn chế trong các hợp đồng nợ cũng có thể giúp ích cho những người
cho vay. Những điều khoản này buộc ban giám đốc công ty không được thực hiện một số việc
nhất định mà có thể không công bằng đối với những người cho vay. Lấy ví dụ, các điều khoản
này có thể giới hạn số tiền mà các giám đốc được phép chi trả dưới dạng cổ tức; điều này ngăn
không cho chủ vốn sở hữu tước đoạt tài sản công ty bằng tổn thất của những người cho vay.
Tương tự, nếu nợ là nợ không có tài sản bảo đảm, các giám đốc phải cam kết không được dùng
bất kỳ tài sản nào để bảo đảm cho việc vay nợ mới (sẽ làm cho nợ mới trở thành nợ được ưu
tiên chi trả hơn so với nợ cũ) trừ khi những người cho vay không có tài sản bảo đảm tham gia
trong cùng một tài sản thế chấp; điều khoản này được gọi là điều khoản phủ nhận thế chấp.
Cuối cùng, các điều khoản thường ngăn không cho giám đốc gia tăng nợ vượt trên một tỷ lệ
nhất định của tài sản, hay ấn định một tỷ số thanh khoản tối thiểu cho các công ty vay mượn.
Nhưng các điều khoản sẽ không có tác dụng trừ khi chúng được giám sát và cưỡng chế
thi hành. Những nhóm người cho vay lớn phải có một đại diện chức năng, nhận báo cáo thường
xuyên và kiểm tra sự tuân thủ các điều khoản. Ngoài ra, những người cho vay phải có quyền
truy đòi pháp lý nếu người vay không tuân thủ các điều khoản. Trên các thị trường tài chính
phát triển, việc không tuân thủ một điều khoản cam kết là một biến cố vỡ nợ mà nếu không
được cứu vãn có thể dẫn tới đẩy nhanh việc thanh toán, thu giữ tài sản thế chấp và phá sản.
Nhưng trong nhiều khung pháp lý của các thị trường tài chính mới nổi, việc không tuân thủ các
điều khoản cam kết không được cưỡng chế như một biến cố vỡ nợ, khiến người cho vay không
có quyền truy đòi ngay cả khi họ có giám sát người vay.
Nếu người cho vay không thể giám sát người vay và cưỡng chế thi hành các điều khoản
cam kết, họ cần phải tính những mức lãi suất cao hơn đáng kể để đền bù cho khả năng một số
người vay, những người am hiểu về việc kinh doanh của mình hơn so với người cho vay, có
những hành vi sai trái. Đó là lý do khiến cho việc đồng ý thực hiện cáo bạch, chấp nhận những
điều khoản giới hạn và chấp nhận một mức độ giám sát nhất định cũng chính là vì quyền lợi
của người vay. Nói cách khác, việc giảm tình trạng bất cân xứng thông tin là vì quyền lợi của
mọi người. Cũng như vậy, thái độ sẵn lòng cáo bạch thông tin của người vay, đồng ý với các
điều khoản cam kết, và cho phép người vay giám sát, là một tín hiệu cho thấy ý định tốt cũng
như sự tự tin của người vay vào triển vọng của họ.
Vai trò của các ngân hàng
Giám sát thường là một quá trình hết sức tốn kém mà các cá nhân khó lòng tự mình thực hiện.
Do đó, lẽ tự nhiên sẽ ra đời các tổ chức tài chính nhằm thực hiện vai trò này đại diện cho nhiều
người cung ứng vốn. Một tài liệu có ảnh hưởng sâu xa trong kinh tế học tài chính đã hình dung
ra một “trạng thái bản nhiên” (“state of nature”) trong đó các nhà đầu tư kết hợp lại với nhau
và thành lập các ngân hàng để làm “các đại biểu giám sát” cho các hoạt động đầu tư của họ.
11
11
Diamond (1984).
Tài chính phát triển
Bài đọc
Các thị trường tài chính mới nổi
Ch. 5: Thông tin và kiểm soát
David O. Beim & Charles W. Calomiris 5 Biên dịch: Kim Chi
Hiệu đính: Tự Anh
làm cho việc thu thập thông tin về các quyết định của ban giám đốc trở nên dễ dàng hơn và ít
tốn kém hơn, làm tăng khả năng các giám đốc công ty sẽ hành động vì quyền lợi của cổ đông.
Tư liệu mới về những vấn đề thông tin trên các thị trường tài chính nhấn mạnh bốn đặc
điểm liên quan đến thông tin bất cân xứng đối với việc lập hợp đồng tài chính, đặc biệt phù
hợp tại các thị trường tài chính mới nổi:
1. Thông tin bất cân xứng làm cho thị trường có xu hướng thiên về nợ và ít sử dụng vốn
sở hữu đại chúng hơn. Quả thật, các hợp đồng nợ tồn tại chủ yếu là để khắc phục tình
trạng thông tin bất cân xứng. Nợ tạo ra những nghĩa vụ đơn giản, cố định, mà dòng
ngân lưu cam kết của nó sẽ không thay đổi bất kể công ty làm ăn khấm khá hay tệ hại
ra sao. Trên nguyên tắc, các quyền đòi nợ (debt claims) có thể được cưỡng chế thi
hành, cho dù chúng ta vẫn nhận thấy rằng điều này có khác biệt tuỳ theo cấu trúc luật
pháp của từng quốc gia. Nhưng gần như ở đâu cũng thế, những người cho vay nợ có
một vị thế mạnh hơn so với những người chủ vốn sở hữu đại chúng trong việc thụ
hưởng sinh lợi của họ trong một thị trường có thông tin không hoàn hảo. Chẳng phải
tình cờ mà các vấn đề vốn sở hữu đại chúng như một nguồn vốn mới cho các doanh
nghiệp có tầm quan trọng cao nhất ở Mỹ, nơi mà thông tin tài chính tràn ngập và được
truyền bá rộng rãi.
2. Tình trạng thông tin bất cân xứng làm cho các thị trường nợ có xu hướng thiên về các
ngân hàng và ít sử dụng những chứng khoán như trái phiếu, cổ phiếu, và thương phiếu.
Những người mua chứng khoán nợ cần cảm thấy rằng họ am hiểu thông tin hoặc có ai
đó, chẳng hạn như một cơ quan đánh giá thứ hạng tín dụng, có thể cung cấp thông tin
cho họ và chia xẻ các kết quả với công chúng đầu tư. Ngược lại, các ngân hàng tạo ra
những thông tin riêng của họ và vì thế họ là những nhà cung ứng nợ chiếm ưu thế khi
thông tin công cộng không đầy đủ. Chẳng phải ngẫu nhiên mà tại các thị trường tài
chính mới nổi, các ngân hàng đóng vai trò to lớn hơn nhiều so với trên những thị
trường phát triển hơn.
3. Tình trạng thông tin bất cân xứng làm cho nợ có xu hướng có thời hạn ngắn hoặc có xu
hướng thiên về các quyền hợp đồng giúp người cho vay có thể đẩy nhanh việc thanh
toán nếu một điều khoản hợp đồng bị vi phạm. Quyền chọn không tái tục một khoản nợ
đến hạn, hay đẩy nhanh việc thanh toán khoản nợ, đem lại cho những người cho vay
một tiếng nói liên tục đầy sức mạnh trong các giao dịch của con nợ sau khi hợp đồng
nợ đã được ký kết, điều này có thể ngăn không cho con nợ hành động theo những cách
thức làm hại đến quyền lợi của chủ nợ. Về phương diện này, nợ ngắn hạn thậm chí còn
hữu hiệu hơn so với nợ dài hạn với quyền đẩy nhanh việc thanh toán; quyền đẩy nhanh
việc thanh toán đòi hỏi phải có sự chấp thuận của toà án đối với quyền đòi nợ của chủ
nợ, trong khi quyết định không gia hạn nợ thì không cần đến sự chấp thuận đó.
3
4. Tình trạng thông tin bất cân xứng làm cho việc cho vay của ngân hàng có xu hướng
thiên về những khoản cho vay có tài sản bảo đảm hơn so với cho vay không có tài sản
bảo đảm. Theo nhiều cách, tài sản thế chấp thay thế cho những thông tin đáng tin cậy
về người vay, dĩ nhiên, ta giả định rằng cơ cấu pháp lý hỗ trợ cho việc cho vay có thế
3
Tìm đọc thảo luận chi tiết hơn về những vấn đề động cơ khuyến khích mà có thể hạn chế tính hấp dẫn của nợ dài
hạn trong ấn bản của Jensen và Meckling (1976) và Myers (1977).
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Tài chính phát triển
Bài đọc
Các thị trường tài chính mới nổi
Ch. 5: Thông tin và kiểm soát
David O. Beim & Charles W. Calomiris 6 Biên dịch: Kim Chi
Hiệu đính: Tự Anh
chấp. Ngay cả ở Hoa Kỳ, gần 70 phần trăm các khoản vay ngân hàng công nghiệp và
thương mại được thực hiện trên cơ sở có tài sản bảo đảm.
4
Ở châu Âu, con số này thậm
chí còn cao hơn; chúng ta đã thấy rằng phần lớn các bộ luật châu Âu mang lại sự bảo vệ
lớn lao nhất cho những người cho vay có tài sản bảo đảm. Ở các thị trường tài chính
mới nổi, việc làm cho hoạt động thế chấp trở nên khả thi về mặt pháp lý là một trong
những bước cải tiến mạnh mẽ nhất mà một quốc gia có thể thực hiện hướng tới việc
củng cố các thị trường tài chính. Bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng tài sản thế
chấp đi kèm một cách rõ ràng với những người vay yếu thế và những khoản cho vay
yếu thế.
5
Tài sản thế chấp giúp những người đi vay yếu thế và không được biết đến có
thể thu được những khoản vay mà bình thường họ không thể có được nếu không có sự
bảo đảm. Điều này làm cho những khoản vay có thế chấp trở nên đặc biệt phù hợp với
các thị trường tài chính mới nổi, nơi mà tỷ lệ những người đi vay yếu thế và mức độ bất
cân xứng thông tin thường cao hơn so với trên các thị trường phát triển.
Các thị trường tài chính mới nổi bộc lộ tất cả những đặc điểm trên đây với mức độ rõ
rệt cao hơn nhiều so với các thị trường tài chính phát triển; nghĩa là, các thị trường tài chính
mới nổi sử dụng nợ quá nhiều và thường có các thị trường cổ phiếu không phát triển. Trong
lĩnh vực cho vay, các ngân hàng thường chiếm ưu thế và thị trường trái phiếu (bond market)
kém phát triển. Về bản chất, nợ trên các thị trường tài chính mới nổi có xu hướng là nợ ngắn
hạn, và sử dụng sử dụng tài sản bảo đảm một cách tự do. Việc tập trung vào thông tin và kiểm
soát giúp chúng ta tìm hiểu lý do tại sao các thị trường tài chính mới nổi có những đặc điểm
như vậy. Điều này lại giúp ta hiểu được lý do tại sao các thị trường này thường rơi vào khủng
hoảng, vì việc sử dụng quá nhiều nợ có thể phóng đại ảnh hưởng của những cú sốc kinh tế, đặc
biệt khi đó là nợ ngắn hạn.
Sàng lọc và giám sát
Ta cần phân biệt giữa hai loại nhiệm vụ liên quan đến thông tin: sàng lọc và giám sát.
Sàng lọc và sự lựa chọn bất lợi
Việc sàng lọc là cần thiết trước khi thực hiện quyết định đầu tư. Đây là nền tảng của việc ra
quyết định khi người ta không thể dễ dàng quan sát được chất lượng đầu tư. Nếu người sử dụng
vốn hiểu biết về chất lượng của mình nhiều hơn so với người cung ứng vốn, làm thế nào người
cung ứng vốn có thể có được một chọn lựa phù hợp? Và sau khi đã chọn lựa rồi, làm thế nào
người cung ứng vốn có thể ấn định một mức giá thích hợp? Việc sàng lọc và định giá phụ
thuộc vào vấn đề chọn lựa bất lợi.
Lựa chọn bất lợi là một vấn đề hết sức tổng quát trong kinh tế học. Một ví dụ kinh điển
là thị trường xe ô tô đã qua sử dụng, mà trong đó bao gồm một số xe khá tốt cùng với một số
xe kém chất lượng; đây là ví dụ mà George Akerlof đã sử dụng trong một bài viết kinh điển về
tình trạng bất cân xứng thông tin.
6
Akerlof đưa ra câu hỏi tại sao một chiếc xe mới lại mất giá
nhiều đến thế chỉ ngay sau khi lái ra khỏi cửa hàng trưng bày. Câu trả lời của ông là bởi vì
người chủ sở hữu xe hiểu rõ chiếc xe của mình hơn ai khác, và chỉ những người nghi ngờ chất
lượng xe của họ mới có thể là những người mang bán nó đi; vì thế bất kỳ ai mua một chiếc xe
4
Berger và Udell (1990).
5
Tài liệu đã dẫn.
6
Akerlof (1970); tìm đọc thêm tài liệu của Myers và Majluf (1984).
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Tài chính phát triển
Bài đọc
Các thị trường tài chính mới nổi
Ch. 5: Thông tin và kiểm soát
David O. Beim & Charles W. Calomiris 7 Biên dịch: Kim Chi
Hiệu đính: Tự Anh
đã qua sử dụng, ngay cả một chiếc xe vẫn còn rất mới, đều phải giảm giá mua rất nhiều để tính
đến xác suất chiếc xe có chất lượng kém từ một người bán am hiểu về chiếc xe nhiều hơn so
với người mua.
Nói khái quát hơn, vấn đề chọn lựa bất lợi có hai ảnh hưởng: Nó có xu hướng làm hạ
giá của ô tô đã qua sử dụng hay bất kỳ một hàng hoá nào khác mà người bán am hiểu nhiều
hơn so với người mua, và trong một số trường hợp, nó có thể làm đóng cửa thị trường hoàn
toàn. Ảnh hưởng giá bất lợi hình thành trực tiếp từ nhu cầu của người mua muốn bảo vệ mình
trước những người bán am hiểu thông tin hơn. Ảnh hưởng đóng cửa thị trường có thể được lập
mô hình thông qua tưởng tượng rằng chất lượng của bất kỳ một dòng hàng hoá nào cũng đều
liên quan đến giá cả: Giá càng thấp thì xác suất hàng hoá chào bán là đồ tệ hại càng cao (tiền
nào của ấy), vì người bán những mặt hàng chất lượng cao không muốn bán khi giá giảm. Trong
những tình huống này, có thể sẽ không tồn tại một mức giá cân bằng thị trường nào.
Để minh họa sự lựa chọn bất lợi trên thị trường tín dụng, Akerlof sử dụng ví dụ về Ấn
Độ, một thị trường tài chính mới nổi, nơi mà những người cho vay tiền trong làng cho vay với
lãi suất cắt cổ 15, 25 hay thậm chí 50 phần trăm trong khi những ngân hàng lớn nhất tại các
thành phố trung tâm Ấn Độ có lãi suất cơ bản vào khoảng 6, 8, hay 10 phần trăm mà thôi.
7
Lý
do của mức chênh lệch lớn này là những người cho vay tiền là người cho vay tiềm năng duy
nhất am hiểu chất lượng của những người vay tiền trong làng, và thực sự những người cho vay
này cũng không thể phân biệt giữa những mức độ rủi ro cao và thấp.
Trong chừng mực mà người cho vay tiền phải tiêu tốn nguồn lực để nhận biết những
người cho vay có rủi ro thấp, họ phải bù đắp cho chi phí tìm hiểu thông tin này bằng cách tính
những mức lãi suất cho vay cao hơn. Do đó, lãi suất cao không nhất thiết là chỉ báo của lợi
nhuận độc quyền. Những người cho vay bên ngoài cộng đồng, không am hiểu thông tin, cố
gắng cạnh tranh với những người cho vay có nhiều thông tin hơn, cuối cùng sẽ có một tỷ lệ
người vay không đáng tin cậy nhiều hơn, và sẽ phải tính một mức lãi suất thậm chí cao hơn để
bù đắp cho tỷ lệ thiệt hại kỳ vọng cao hơn.
Vấn đề chọn lựa bất lợi cũng là cách giải thích phổ biến nhất cho việc phân bổ định
mức tín dụng. Ta hãy thay thế cho mức giá giảm của xe ô tô đã qua sử dụng trong ví dụ trên
bằng mức lãi suất tăng lên mà người vay phải trả. Những người vay có rủi ro cao sẽ sẵn lòng
trả lãi suất cao hơn so với những người vay có rủi ro thấp, cũng giống như người bán những
chiếc xe tệ hại sẽ sẵn lòng chấp nhận mức giá thấp hơn so với người bán xe tốt. Như vậy, vì lãi
suất tăng lên, cho nên tỷ lệ những người vay chất lượng kém được phục vụ sẽ tăng lên khi
những người vay chất lượng cao rời bỏ thị trường. Biết được điều này, người cho vay nhận ra
rằng ở một mức lãi suất đủ cao, sự gia tăng lãi suất thêm nữa sẽ làm cho lợi nhuận kỳ vọng của
người cho vay giảm xuống (nghĩa là ứng với mức lãi suất đó, sự gia tăng vỡ nợ do lãi suất tăng
sẽ nhiều hơn so với sự gia tăng thanh toán theo cam kết của những người không vỡ nợ). Như
vậy, người cho vay sẽ quyết định giới hạn lãi suất ở một mức độ tối đa nào đó nhằm đảm bảo
chất lượng bình quân cao trong tập hợp những người vay, cho dù tại mức lãi suất tối đa đó, cầu
của người vay đối với các khoản vay vẫn vượt quá cung. Trong trường hợp đó, những người
cho vay sẽ quyết định phân bổ định mức tín dụng, giới hạn số tiền mà bất kỳ người vay nào có
thể vay mượn để giải quyết tình trạng dư cầu (cầu vượt quá cung). Thông tin bất cân xứng có
nghĩa là người ta có thể tránh né những mức rủi ro cao, thay vì định giá chúng. Nó cũng có
7
Akerlof (1970), trang 498.
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Tài chính phát triển
Bài đọc
Các thị trường tài chính mới nổi
Ch. 5: Thông tin và kiểm soát
David O. Beim & Charles W. Calomiris 8 Biên dịch: Kim Chi
Hiệu đính: Tự Anh
nghĩa là những người vay chất lượng cao phải trả một mức đền bù cao hơn do sự hiện diện của
những người vay chất lượng kém.
8
Vì thế sự chọn lựa bất lợi có hai ảnh hưởng tiêu cực đối với thị trường nợ: Nó làm cho
nợ trở nên đắt đỏ hơn, và nó đóng cửa thị trường đối với những người vay trên một mức độ rủi
ro nhất định. Điều này tương ứng với hai đặc điểm mà chúng ta đã biết rõ của các thị trường nợ
thuộc các thị trường tài chính mới nổi: Lãi suất thực của họ thường cực kỳ cao, và thị trường bị
đóng cửa một cách định kỳ đối với tất cả những người vay hoặc đối với tất cả ngoại trừ những
người vay đã được biết rất rõ.
Những người vay chất lượng cao thường tìm cách tránh tình trạng phân bổ định mức tín
dụng và mức đền bù rủi ro bằng cách cố gắng phát ra tín hiệu rằng chất lượng của họ cao hơn
bình quân. Điều này dẫn đến sự tình nguyện cáo bạch thông tin cho người cho vay. Nó cũng
kích thích việc sử dụng tài sản thế chấp: người vay nào sẵn sàng thế chấp tài sản ắt phải tự tin
về khả năng trả nợ của mình. Việc thế chấp rất phổ biến tại các thị trường tài chính mới nổi
một phần do đó là một công cụ phát tín hiệu hết sức thuyết phục. Quả thật, bản thân việc đòi
hỏi thế chấp có thể giúp sàng lọc những người vay rủi ro cao, thường không sẵn lòng thế chấp
tài sản.
Việc đầu tư vốn sở hữu vốn dĩ nhiên cần có nhiều thông tin hơn so với đầu tư nợ. Như
lưu ý trên đây, nợ phát triển một phần lớn là để giúp cung ứng vốn cho những doanh nghiệp
nào mà người ta không dễ dàng thông hiểu tình trạng và triển vọng. Những nhà đầu tư nợ
(người cho vay) có thể nhìn vào một vài tỷ số tài chính và đòi hỏi thế chấp tài sản vật chất để
bảo vệ mình trước rủi ro vỡ nợ. Ngược lại, những nhà đầu tư vốn sở hữu, sở hữu những tài sản
còn lại của doanh nghiệp, và vì thế phải am hiểu toàn bộ những thị trường và cơ hội của doanh
nghiệp. Đây là một nhiệm vụ khó khăn. Các nhà đầu tư vốn sở hữu và các tổ chức bảo lãnh
phát hành đảm nhận một công việc sàng lọc phức tạp mà các công ty chào bán cổ phiếu cuối
cùng phải gánh chịu chi phí. Để một doanh nghiệp tiếp cận được với thị trường cổ phiếu,
thường phải có sự hỗ trợ đáng kể từ các tổ chức am hiểu thông tin (các nhà bảo lãnh phát hành
và các nhà đầu tư) bày tỏ niềm tin của họ vào triển vọng của doanh nghiệp.
Hơn nữa, quyết định bán cổ phiếu của một công ty cho công chúng có thể được hiểu
như là một tín hiệu ngoài dự kiến rằng công ty đang lo lắng về tương lai của mình. Nếu một
công ty đang mang nợ nhiều dự kiến tình trạng sa sút trong kinh doanh kinh doanh, thì kết cục
có thể sẽ là phá sản trừ khi công ty tăng cơ sở vốn sở hữu. Biết được điều này, các nhà đầu tư
cần phải nghi ngờ trước những công ty đang nôn nóng muốn bán cổ phiếu, cũng giống như
người mua ô tô cần nghi ngờ những người chủ đang nôn nóng muốn bán xe ô tô của họ. Đó là
lý do tại sao giá cổ phiếu thường giảm khi công ty công bố phát hành cổ phiếu mới, và cũng là
lý do tại sao ảnh hưởng đó đôi khi hết sức to lớn.
9
Đây là một nghịch lý lạ kỳ. Groucho Marx từng nói rằng ông sẽ không muốn tham gia
vào một câu lạc bộ nào mà muốn mời ông làm thành viên. Theo một cách tương tự, các nhà
đầu tư có lẽ có quyền nói rằng họ sẽ không muốn mua cổ phiếu của một công ty nào đó đang
muốn bán ra. Công ty am hiểu thông tin nhiều hơn so với nhà đầu tư, và một quyết định bán cổ
phiếu có thể phát ra tín hiệu về những vấn đề khó khăn ẩn giấu. Đó là một trong những ví dụ rõ
8
Stiglitz và Weiss (1981).
9
Higgins (1998), trang 205-209.
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Tài chính phát triển
Bài đọc
Các thị trường tài chính mới nổi
Ch. 5: Thông tin và kiểm soát
David O. Beim & Charles W. Calomiris 9 Biên dịch: Kim Chi
Hiệu đính: Tự Anh
ràng nhất của thế giới tài chính về thông tin bất cân xứng làm cản trở sự phát triển và thành quả
hoạt động của thị trường. Phần lớn thời gian và tại nhiều quốc gia, điều đó có nghĩa là những
nhà đầu tư bên ngoài sẽ tránh né cổ phiếu. Vấn đề thông tin cũng giải thích cho tình trạng
những nhà đầu tư danh mục nước ngoài thường bất ngờ lìa bỏ các thị trường tài chính mới nổi,
và giải thích cho số lượng đơn vị phát hành vốn sở hữu ít ỏi tại các thị trường này, cũng như
tình trạng kém phát triển của các thị trường cổ phiếu ở đó.
Các nhà đầu tư cổ phiếu và các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài có hành vi khá khác biệt
nhau. Họ thực hiện những cam kết dài hạn dựa vào sự am hiểu sâu xa hơn về các cơ hội và rủi
ro địa phương. Việc đầu tư của họ không có tính thanh khoản và họ không thể nhanh chóng
đảo ngược các quyết định của mình được. Hơn thế, các nhà đầu tư cổ phiếu và các nhà đầu tư
trực tiếp nước ngoài có xu hướng am hiểu thông tin, cho nên họ tiếp tục đầu tư ngay cả khi
đứng trước nghịch cảnh, không giống như những nhà đầu tư đại chúng và ít thông tin hơn. Họ
đỡ thất thường hơn vì họ thực hiện việc sàng lọc riêng trước khi đầu tư và vì họ nắm giữ sự
kiểm soát trực tiếp hơn đối với các dự án đầu tư của họ, điều này giúp hạn chế mức độ tranh
thủ lợi dụng của các giám đốc công ty sau khi họ đã mua cổ phiếu.
Sự giám sát của các nhà đầu tư
Công việc giám sát liên quan đến nhiệm vụ theo dõi “vận mệnh” của một dự án đầu tư sau khi
dự án đã được tiến hành. Điều này chẳng phải được thực hiện chỉ để thỏa mãn tính tò mò. Các
nhà đầu tư cần đảm bảo rằng công ty không hành động theo những cách thức phương hại đến
quyền lợi của nhà đầu tư.
Tại các quốc gia công nghiệp và đặc biệt tại Hoa Kỳ, nơi mà ban giám đốc công ty
thường tách biệt với các cổ đông phân tán rộng rãi, vấn đề giám sát cơ bản là làm thế nào bảo
đảm rằng các giám đốc công ty hành động vì quyền lợi của cổ đông. Đây là một dạng của vấn
đề người uỷ quyền – người thừa hành từng được nghiên cứu rộng rãi và được giải quyết tốt
nhất bằng sự kết hợp giữa luật cáo bạch (để cổ đông có thể tìm hiểu xem ban giám đốc đang
làm gì) và quyền của cổ đông được cưỡng chế thi hành hữu hiệu (để cổ đông có thể sa thải
những giám đốc có hành vi sai quấy).
Tuy nhiên, tại hầu hết các thị trường tài chính mới nổi, các cá nhân và gia đình giàu có
kiểm soát phần lớn các công ty và thường giám đốc điều hành là một thành viên trong gia đình.
Trong bối cảnh này, các xung đột kiểm soát quan trọng không phải là giữa ban giám đốc và các
cổ đông mà là giữa (1) các cổ đông nội bộ và bên ngoài và / hoặc (2) những người chủ vốn sở
hữu và các chủ nợ. Sau khi xem xét việc bảo vệ các cổ đông thiểu số trong chương trước, ở đây
chúng ta sẽ chuyển sang xem xét xung đột giữa vốn sở hữu và nợ. Suy cho cùng, nợ là hình
thức tài trợ chủ yếu tại các quốc gia đang phát triển. Giả định rằng các cổ đông kiểm soát ban
giám đốc và ban giám đốc hành động vì quyền lợi của các cổ đông, những người cho vay (ngân
hàng) cần phải giám sát để bảo vệ chính mình bằng cách nào?
Các ngân hàng, cũng như các cổ đông thiểu số, cần đề phòng tình trạng chiếm đoạt tài
sản công ty bởi ban giám đốc và / hoặc các cổ đông kiểm soát như đã mô tả trong chương
trước. Như chúng ta đã thấy ở Nga, cộng hoà Séc, và một số quốc gia khác trong quá trình
chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường, đây chỉ là những gì xảy ra với việc
tư nhân hoá tự phát. Rủi ro là ở chỗ ngân hàng sẽ cho vay để tài trợ cho các tài sản, rồi những
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Tài chính phát triển
Bài đọc
Các thị trường tài chính mới nổi
Ch. 5: Thông tin và kiểm soát
David O. Beim & Charles W. Calomiris 10 Biên dịch: Kim Chi
Hiệu đính: Tự Anh
tài sản này sau đó được chuyển ra khỏi doanh nghiệp, để lại những khoản nợ mất khả năng
thanh toán.
Phần đóng khung sau đây mô tả công ty Alphatec ở Thái Lan sẽ cho ta một ví dụ sinh
động về những sự việc sai trái. Trước tiên, các báo cáo tài chính của công ty Alphatec là ngụy
tạo. Doanh thu được xây dựng một cách giả tạo và sai lệch, và được phóng đại lên từ 6 đến 10
lần. Thay vì 1,6 tỷ USD lợi nhuận trong năm năm, công ty thật ra đã lỗ 700 triệu USD. Điều
này nói lên nhu cầu của ngân hàng (cũng như các cổ đông bên ngoài) cần phải có những thông
tin tài chính chính xác, được kiểm toán thỏa đáng.
Bài báo về công ty Alphatec cũng cho thấy nhu cầu phải kiểm soát hành vi của người
vay. Nhìn từ góc độ người cho vay, hành động nguy hại nhất là chuyển một lượng lớn tài sản
công ty từ Alphatec sang những công ty khác do ông Charn kiểm soát, bao gồm một số tài sản
dính líu đến đầu cơ đất đai. Ví dụ kinh điển về việc chiếm đoạt tài sản này có lẽ là hợp pháp
theo luật của Thái Lan, cho dù nó là một trường hợp lừa đảo rõ ràng đối với những người cung
ứng vốn tại các quốc gia có thông luật (common law). Xem ra các ngân hàng cũng có đại diện,
và có lẽ còn chi phối trong hội đồng quản trị, nhưng những người này hoặc không lưu ý đầy đủ
hoặc thiếu phương tiện để ngăn chặn tình trạng chiếm đoạt tài sản.
Cuối cùng, bài báo nói rằng công ty Alphatec đang tiến lên phía trước với một trong
những dự án mở rộng đầy hoài bão to lớn nhất của ngành khi nợ của công ty đang tăng vọt
vượt ra ngoài tầm kiểm soát. Chủ tịch hội đồng quản trị công ty, bà Waree, nguyên thống đốc
ngân hàng trung ương, nói bà đã cảnh báo ông Charn về rủi ro của việc mở rộng đó nhưng hội
đồng quản trị đã không ngăn lại. Tại sao?
Kế toán sáng tạo và việc quản trị nội bộ công ty ở Thái Lan
Luôn luôn là một khoản vay khác, luôn luôn là một doanh vụ khác. Đó là cách thức ông Charn
Uswachoke, thường được gọi là ông Chips, né tránh các ngân hàng đang bồn chồn lo lắng hồi
tháng hai, khi một nhóm ngân hàng hỏi ông tại sao công ty Alphatec Electronics PCL vi phạm
một số điều khoản nợ quốc tế. Mọi thứ sẽ được giải quyết ổn thỏa, công ty trụ cột của ngành
điện tử Thái Lan cam kết. Ông Charn nói với các ngân hàng cho vay rằng nhà bảo lãnh phát
hành Lehman Brothers Inc. chẳng bao lâu nữa sẽ vén màn công bố một vụ chào bán cổ phiếu
lần đầu cho công chúng trên Thị trường Chứng khoán New York của một công ty Alphatec
mới được cơ cấu lại. Để cứu vãn công ty bao bì bán dẫn đang sa lầy trong nợ nần này, nhà bảo
lãnh phát hành Lehman đề nghị với các ngân hàng huy động thêm 1 tỷ USD nợ mới cho các
doanh nghiệp của ông Charn.
Thế nhưng ngay cả khi các kế hoạch của Lehman Brothers Holdings Inc. được xúc tiến,
Alphatec cũng đứng trước nhiều khó khăn. Một đợt kiểm toán độc lập của Price Waterhouse
vào tháng bảy đã cho thấy rằng Alphatec, một thời là ngôi sao trên Thị trường Cổ phiếu Thái
Lan, đã phóng đại lợi nhuận thêm ít nhất là 164 triệu USD từ năm 1994 đến tháng tư năm nay
(1997), một thời kỳ mà báo cáo kiểm toán cho rằng công ty lẽ ra phải báo cáo “thua lỗ đáng
kể”. Những người lao động trước đây và hiện nay của công ty, vốn quen thuộc với những con
số thật sự của Alphatec, nói doanh thu đã được báo cáo tăng lên gấp 6 đến 10 lần so với mức
thực tế. Đơn vị kiểm toán Price Waterhouse cũng nhận thấy rằng công ty Alphatec đã chuyển
giao ít nhất 160 triệu USD nguồn tiền của công ty cho các công ty khác thuộc sự kiểm soát của
ông Charn, mà không có sự phê duyệt của hội đồng quản trị… Và Price Waterhouse phát hiện
ra rằng Alphatec duy trì hai hệ thống sổ sách kế toán rất khác biệt nhau.
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Tài chính phát triển
Bài đọc
Các thị trường tài chính mới nổi
Ch. 5: Thông tin và kiểm soát
David O. Beim & Charles W. Calomiris 11 Biên dịch: Kim Chi
Hiệu đính: Tự Anh
Cách thức những hoạt động đáng ngờ này đã làm cho một công ty công nghệ cao hàng đầu
của Thái Lan ngã qụy như thế nào là câu chuyện về sự mục nát kinh tế ở Thái Lan ngày nay.
Sự kiện nhiều công ty lớn của Hoa Kỳ trở thành nạn nhân của sự lừa đảo của Alphatec – từ
Texas Instrument Inc. cho tới Bankers Trust New York Corp. và Lehman – cho thấy Thái Lan
và Alphatec đã một thời quyến rũ người ta đến mức nào…
Một thời từng được đề cao như niềm hy vọng tràn trề nhất của Thái Lan để nhảy vào hàng
ngũ đẳng cấp cao của các nhà sản xuất công nghệ thế giới, Alphatec bây giờ chững lại như một
bài học đau thương về những mối nguy hiểm của hoạt động kinh doanh tại một đất nước mà
trách nhiệm giải trình của ban giám đốc trong điều kiện tốt nhất cũng chỉ có tính chất vá víu.
Tình trạng thiếu vắng rõ rệt các biện pháp kiểm soát công ty ở Alphatec - sự trà trộn nguồn vốn
giữa những công ty niêm yết và những công ty có cổ phần được nắm giữ trong phạm vi hẹp
được điều hành bởi cùng một gia đình, việc sử dụng nhiều hệ thống sổ sách kế toán khác nhau
và các phương pháp kế toán sai lệch, các hội đồng quản trị chỉ biết tán thành không cần suy
nghĩ và được trả lương cao - phản ánh những vấn đề ở các công ty Thái Lan khác từng đưa nền
kinh tế đất nước này đến bên bờ vực thẳm.
Trong suốt một thập niên êm đềm sau năm 1985, những khiếm khuyết như thế có thể được
che đậy bằng tín dụng dễ dàng và giá cổ phiếu tăng vọt. Nhưng bây giờ, ngày phán xét đã đến.
Paribas Asia Equity, một công ty môi giới chứng khoán khu vực, đã xây dựng lại các báo cáo
thu nhập của 20 công ty Thái Lan theo các tiêu chuẩn kế toán nghiêm ngặt hơn. Kết quả là:
khoảng 1,6 tỷ USD lợi nhuận báo cáo từ năm năm qua trở thành khoản thua lỗ luỹ kế hơn 700
triệu USD.
Trong trường hợp Alphatec, sổ sách tài chính thoạt đầu vẫn được kiểm toán hàng quý bởi chi
nhánh của KPMG Peat Marwick tại Thái Lan, công ty KPMG Peat Marwick Suthee Ltd., công
ty này từ chối đưa ra bình luận. Thị trường Cổ phiếu Thái Lan hiện đang chất vấn các nhà kiểm
toán của công ty về những điểm sai biệt vừa phát hiện được trong báo cáo kiểm toán của Price
Waterhouse.
Vào tháng năm, Alphatec đã ngưng thanh toán khoản nợ 450 triệu USD của họ. Vậy mà cho
tới gần đây, những người cho vay nói, công ty và ban quản trị đã ngăn cản những nỗ lực giải
quyết tình trạng sa lầy tài chính, chỉ uỷ thác cho Price Waterhouse kiểm toán sau khi nhận
được kết luận cuối cùng từ những người cho vay. Theo Leslies Merszei, cố vấn tài chính cao
cấp của ông Charn lúc bấy giờ, sau khi kết luận của Price Waterhouse được phổ biến trong nội
bộ, bảy bao đựng hồ sơ cắt vụn đã được phát hiện trong phòng tài chính của công ty Alphatec.
Ông Merszei đã từ chức ở Alphatec vào ngày 1 tháng 8…
Khi nợ của Alphatec phình to vượt ra ngoài tầm kiểm soát vào mùa đông vừa rồi, ông Charn
tung ra một trong những kế hoạch mở rộng đầy tham vọng trong ngành chip điện tử toàn cầu.
Dựa vào những nỗ lực tái tài trợ do Lehman và những đơn vị khác phát động, ông xoay xở để
tiếp tục xây dựng ba nhà máy trị giá 2,3 tỷ USD. Lần đầu tiên đối với Thái Lan, hai trong ba
nhà máy này, cùng hợp tác với Texas Instruments, dự định thực hiện một số qui trình tiên tiến
nhất trong điện tử vi mô: thực sự sản xuất vòng niêm silicon, vốn là phạm vi hoạt động của
những công ty công nghệ cao hạng nặng như Intel Corp, AMD và Micron Technologies Inc.
Kế hoạch mở rộng là chiến lược then chốt cho mục tiêu của ông Charn nhằm đạt được vị trí
vững chắc trên mọi nấc thang chế tạo chip điện tử đầy lợi nhuận. Theo thông lệ thực hành kinh
doanh của Thái Lan, ông thành lập một số công ty mới để triển khai những dự án này, độc lập
với công ty Alphatec đã niêm yết cổ phần đại chúng, và để cho các thành viên trong gia đình
điều hành. Các công ty này được tài trợ bằng nợ vay từ các ngân hàng Thái và nước ngoài, mà
ông Charn kỳ vọng sẽ hoàn trả bằng việc chào bán cổ phiếu trên thị trường cổ phiếu đang phất
lên của Thái Lan.
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Tài chính phát triển
Bài đọc
Các thị trường tài chính mới nổi
Ch. 5: Thông tin và kiểm soát
David O. Beim & Charles W. Calomiris 12 Biên dịch: Kim Chi
Hiệu đính: Tự Anh
Thế rồi khoảng một năm trước đây, giá cổ phiếu Thái Lan bắt đầu rơi mạnh trong một thời
gian dài, làm cho việc chào bán cổ phiếu lần đầu trở nên gần như không thể thực hiện nổi. Ông
Charn bị kẹt cứng.
Vậy mà những thông lệ thực hành tài chính đáng ngờ vẫn cứ tiếp tục. Theo lời ông Merszei,
từ tháng 1 đến tháng 4 năm nay, hơn 80 triệu USD của công ty Alphatec được chuyển giao cho
một công ty do ông Charn kiểm soát, đang xây dựng một khu công nghiệp cho các nhà máy
bán dẫn mới, mà không có sự phê duyệt của hội đồng quản trị. Sau đó, theo báo cáo của Price
Waterhouse, để dấu diếm tình trạng thua lỗ liên miên, Alphatec phóng đại thu nhập quí đầu
thêm khoảng 20 triệu USD.
Không có bằng chứng gì cho thấy bất kỳ thành viên quản trị nào của Alphatec, ngoài ông
Charn, biết về những điểm trái qui tắc kế toán của công ty. Nhưng, các nhà quan sát công
nghiệp Thái nói, sự kiện đó cũng đang bộc lộ. Đứng đầu là Chủ tịch Waree Havanonda, 69
tuổi, giảng viên quản trị và nguyên trợ lý thống đốc ngân hàng trung ương Thái Lan, hội đồng
quản trị chủ yếu bao gồm các nhà hoạt động ngân hàng, không ai trong số đó có kinh nghiệm
về các công ty điện tử tiên tiến.
Bà Waree, người gặp Charn lần đầu khi ông còn là sinh viên của bà ở trường kinh doanh, nói
“Tôi đã nhiều lần cảnh báo Charn là đừng mở rộng hoạt động nhanh quá. Ông ta nói ‘Chúng ta
có một cơ hội; chúng ta phải nắm bắt nó.’ Ông ta muốn trở thành ông hoàng trong ngành điện
tử.” Bà Waree phủ nhận việc Alphatec duy trì hai hệ thống sổ sách kế toán, nhưng thừa nhận
rằng “việc báo cáo sai có phát sinh” khi số liệu sản xuất được hợp nhất bởi phòng tài chính của
công ty Alphatec.
Thậm chí nếu một vài thành viên quản trị biết Alphatec cấp vốn cho các công ty khác thuộc
sự kiểm soát của ông Charn, người ta cũng không rõ liệu họ có phản đối hay không. Một lý do
là các ngân hàng chính đại diện trong hội đồng quản trị công ty cũng chính là những người
yểm trợ cho các công ty khác của ông Charn; những mối quan ngại về xung đột quyền lợi của
các thành viên hội đồng và trách nhiệm uỷ thác gần như không tồn tại ở Thái Lan, các giám
đốc điều hành nói. Và việc sử dụng tiền của công ty sở hữu đại chúng để xúc tiến các công ty
tư nhân là một thông lệ thực hành phổ biến ở Đông nam Á, nơi mà các tập đoàn công ty do gia
đình điều hành tuỳ ý trộn lẫn nguồn vốn.
Những điểm trái qui tắc kế toán lộ rõ vào tháng năm. Sau vài tháng ra sức tái cơ cấu
Alphatec để chào bán cổ phiếu lần đầu cho công chúng không có kết quả, Lehman Brothers
thay đổi chiến lược và phát động một đề xuất bán 300 triệu USD trái phiếu lãi suất cao. Ngày
11 tháng 5, một nhóm luật sư New York và các ngân hàng đầu tư, đứng đầu là lãnh đạo công
nghệ của Lehman, Jack Skydel, đến Bangkok để xem xét các con số cùng với nhân viên
Alphatec.
Mười lăm phút trước cuộc họp, ông Charn thả một quả bom trước mặt ông Merszei: nợ của
Alphatec tăng lên không chỉ 35 triệu USD, như ông Charn mới nêu lên gần đây, mà tăng thêm
những 100 triệu USD. Phần lớn sự gia tăng này là do việc chuyển giao tài chính sang cho các
công ty khác của ông Charn, ông Merszei nói ông Charn đã bảo như vậy.
Trong một lần gặp gỡ khác, ông Merszei và đồng nghiệp, Rebert Book, đã kéo riêng ông
Skydel thuộc nhà bảo lãnh phát hành Lehman ra một chỗ. Ông Book, cố vấn tài chính cho ông
Charn suốt một thời gian dài, kể lại: “Tôi bảo, ‘Công ty này không phải là một ứng viên cho
bất kỳ một thị trường nợ hay thị trường cổ phiếu nào trên thế giới. Thông lệ thực hành tài chính
ở đây không phù hợp với hệ thống giá trị phương Tây, hay bất kỳ một hệ thống giá trị nào. Tôi
rất tiếc là ông đã đến đây.’ Các chuyên gia New York bay về nước ngay tối hôm đó.
Ông Merszei kêu gọi một lệnh hoãn trả nợ cho các khoản nợ của Alphatec, sau đó thận trọng
tìm hiểu thêm. Cho dù các viên chức tài chính của Alphatec từ chối mở sổ sách cho ông xem,
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Tài chính phát triển
Bài đọc
Các thị trường tài chính mới nổi
Ch. 5: Thông tin và kiểm soát
David O. Beim & Charles W. Calomiris 13 Biên dịch: Kim Chi
Hiệu đính: Tự Anh
nhưng với sự giúp đỡ của các viên chức khác, ông đã tập hợp được một bức tranh đáng báo
động. Họ kết luận, chẳng có cách gì mà Alphatec, với các nhà máy hoạt động như thế, lại tạo ra
được 493 triệu doanh thu như công ty đã báo cáo vào năm 1996, hay có được chút lợi nhuận
nào. Họ tính toán, Alphatec ắt hẳn phải có những khoản thua lỗ lớn, ứng với doanh thu không
đến 80 triệu vào năm 1996.
Ông Merszei và các chủ nợ của Alphatec nói, để làm cho số liệu doanh thu khai khống
khổng lồ đó có giá trị đối với nhân viên kiểm toán KPMG, phòng tài chính công ty đã lập sổ
sách tính doanh thu là toàn bộ giá trị thị trường của từng con chíp mà công ty vận chuyển cho
khách hàng, thay vì lẽ ra chỉ là một tỷ lệ nhỏ của giá trị đó mà công ty Alphatec thật sự nhận
được cho công việc đóng gói và thử nghiệm chất bán dẫn do những công ty khác sản xuất ra.
Sau đó, trong quá trình kiểm toán, Price Waterhouse đã phát hiện ra những hoá đơn giả mà
Alphatec đã sử dụng để khai thông tín dụng thương mại tại các ngân hàng Bangkok. Chiêu lừa
bịp này thật vụng về: Hai trong số các hoá đơn giả, được lập với biểu trưng (logo) của công ty
nhưng lại in sai tên công ty là “Cypres Semiconductor Corp.” và “Phiilip International Inc.”
Vào giữa tháng 6, ông Merszei trình bày những phát hiện của mình trước hội đồng quản trị,
và hội đồng chất vấn ông Charn về những phát hiện đó. Thoạt tiên, ông ta phủ nhận tất cả, tố
cáo ông Merszei là câu kết với những người khác để đưa Alphatec vào chỗ vỡ nợ nhằm mua lại
công ty với giá rẻ mạt. Bà Waree, chủ tịch Alphatec, nói hội đồng quản trị thúc ép ông Charn
phải giải thích những gì đã xảy ra. “Ông ta thú nhận tiền đã được mang đi mua đất đai và cam
kết sẽ hoàn trả lại.”
Nguồn: The Wall Street Journal, ngày 8 tháng 9 năm 1997.
Các cổ đông có thể hưởng lợi từ việc chấp nhận rủi ro bằng tổn thất của những người
cho vay, vì các cổ đông được hưởng lợi ích của rủi ro gia tăng nếu việc kinh doanh thành công,
trong khi những người cho vay phải gánh chịu thua lỗ nếu việc kinh doanh thất bại. Điều này
đặc biệt đúng tại những thị trường tài chính mới nổi có luật phá sản yếu kém, nơi mà trong tình
huống kết quả kinh doanh tồi tệ, người chủ vốn sở hữu thường lảng tránh và thương thảo bất
tận, đồng thời không chi trả. Xu hướng gia tăng rủi ro bằng tổn thất của người cho vay là một
hình thức của rủi ro đạo đức (moral harzard - đôi khi còn gọi là vấn đề thay thế tài sản).
10
Như
vậy, những người cho vay cần phải giám sát người vay để bảo đảm rằng họ không chấp nhận
những rủi ro thái quá bằng tổn thất của người cho vay.
Kiểu rủi ro đạo đức này xuất hiện bất kỳ khi nào công ty vay mượn, và trở nên nghiêm
trọng khi vốn sở hữu bị thu hẹp chỉ còn rất ít hoặc chẳng còn gì cả. Hoàn toàn có thể là ông
Charn biết rằng Alphatec chẳng bao lâu nữa sẽ sụp đổ, nhưng vẫn tham gia vào kế hoạch phát
triển khổng lồ như một canh bạc tuyệt vọng, hy vọng rằng ván bài sẽ thắng và sẽ đưa công ty ra
khỏi hố sâu mà công ty đang sa vào. Khi vốn sở hữu không còn, các động cơ khuyến khích
hoàn toàn bị thiên lệch. Khía cạnh xấu của những rủi ro to lớn (tình huống kết quả kinh doanh
tồi tệ) không còn là yếu tố ngăn cản người ta chấp nhận rủi ro nữa, bởi vì nếu có thua lỗ thì
những người cho vay phải gánh chịu hoàn toàn, trong khi nếu thành công thì có thể khôi phục
được vốn sở hữu của công ty. Những “chiến lược phục hưng” này rất phổ biến trong các ngân
hàng, nơi có đòn bẩy tài chính cao và có thể thay đổi tổ hợp tài sản một cách nhanh chóng và
tự do hơn so với các công ty công nghiệp.
10
Tìm đọc chương 7 giải thích đầy đủ về rủi ro đạo đức và rủi ro thay thế tài sản khi vốn ngân hàng giảm sút hay
bị tiêu tan. Chúng ta thấy rằng đây có thể là một nguồn rủi ro chết người không chỉ đối với các ngân hàng mà còn
đối với tổng thể nền kinh tế.
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Tài chính phát triển
Bài đọc
Các thị trường tài chính mới nổi
Ch. 5: Thông tin và kiểm soát
David O. Beim & Charles W. Calomiris 14 Biên dịch: Kim Chi
Hiệu đính: Tự Anh
Trong chừng mực nào đó, những người cho vay có thể tự bảo vệ trước rủi ro thái quá
bằng cách cho vay ngắn hạn. Các chủ nợ ngắn hạn tương đối được bảo vệ trước tình trạng thay
thế tài sản vì họ có thể thu hồi được tiền về trong tương lai gần khi nợ đến hạn, hay chỉ tái tục
nợ với lãi suất cao hơn. Lẽ dĩ nhiên, điều này đòi hỏi chủ nợ phải là những người quan sát,
giám sát hành vi của doanh nghiệp, và trừng phạt tình trạng rủi ro cao hơn khi họ nhận thấy
điều đó.
Các điều khoản hạn chế trong các hợp đồng nợ cũng có thể giúp ích cho những người
cho vay. Những điều khoản này buộc ban giám đốc công ty không được thực hiện một số việc
nhất định mà có thể không công bằng đối với những người cho vay. Lấy ví dụ, các điều khoản
này có thể giới hạn số tiền mà các giám đốc được phép chi trả dưới dạng cổ tức; điều này ngăn
không cho chủ vốn sở hữu tước đoạt tài sản công ty bằng tổn thất của những người cho vay.
Tương tự, nếu nợ là nợ không có tài sản bảo đảm, các giám đốc phải cam kết không được dùng
bất kỳ tài sản nào để bảo đảm cho việc vay nợ mới (sẽ làm cho nợ mới trở thành nợ được ưu
tiên chi trả hơn so với nợ cũ) trừ khi những người cho vay không có tài sản bảo đảm tham gia
trong cùng một tài sản thế chấp; điều khoản này được gọi là điều khoản phủ nhận thế chấp.
Cuối cùng, các điều khoản thường ngăn không cho giám đốc gia tăng nợ vượt trên một tỷ lệ
nhất định của tài sản, hay ấn định một tỷ số thanh khoản tối thiểu cho các công ty vay mượn.
Nhưng các điều khoản sẽ không có tác dụng trừ khi chúng được giám sát và cưỡng chế
thi hành. Những nhóm người cho vay lớn phải có một đại diện chức năng, nhận báo cáo thường
xuyên và kiểm tra sự tuân thủ các điều khoản. Ngoài ra, những người cho vay phải có quyền
truy đòi pháp lý nếu người vay không tuân thủ các điều khoản. Trên các thị trường tài chính
phát triển, việc không tuân thủ một điều khoản cam kết là một biến cố vỡ nợ mà nếu không
được cứu vãn có thể dẫn tới đẩy nhanh việc thanh toán, thu giữ tài sản thế chấp và phá sản.
Nhưng trong nhiều khung pháp lý của các thị trường tài chính mới nổi, việc không tuân thủ các
điều khoản cam kết không được cưỡng chế như một biến cố vỡ nợ, khiến người cho vay không
có quyền truy đòi ngay cả khi họ có giám sát người vay.
Nếu người cho vay không thể giám sát người vay và cưỡng chế thi hành các điều khoản
cam kết, họ cần phải tính những mức lãi suất cao hơn đáng kể để đền bù cho khả năng một số
người vay, những người am hiểu về việc kinh doanh của mình hơn so với người cho vay, có
những hành vi sai trái. Đó là lý do khiến cho việc đồng ý thực hiện cáo bạch, chấp nhận những
điều khoản giới hạn và chấp nhận một mức độ giám sát nhất định cũng chính là vì quyền lợi
của người vay. Nói cách khác, việc giảm tình trạng bất cân xứng thông tin là vì quyền lợi của
mọi người. Cũng như vậy, thái độ sẵn lòng cáo bạch thông tin của người vay, đồng ý với các
điều khoản cam kết, và cho phép người vay giám sát, là một tín hiệu cho thấy ý định tốt cũng
như sự tự tin của người vay vào triển vọng của họ.
Vai trò của các ngân hàng
Giám sát thường là một quá trình hết sức tốn kém mà các cá nhân khó lòng tự mình thực hiện.
Do đó, lẽ tự nhiên sẽ ra đời các tổ chức tài chính nhằm thực hiện vai trò này đại diện cho nhiều
người cung ứng vốn. Một tài liệu có ảnh hưởng sâu xa trong kinh tế học tài chính đã hình dung
ra một “trạng thái bản nhiên” (“state of nature”) trong đó các nhà đầu tư kết hợp lại với nhau
và thành lập các ngân hàng để làm “các đại biểu giám sát” cho các hoạt động đầu tư của họ.
11
11
Diamond (1984).
Nghị định 117/2003/NĐ-CP về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan Nhà nước
CHÍNH PHỦ
********
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********
Số: 117/2003/NĐ-CP Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2003
NGHỊ ĐỊNH
CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 117/2003/NĐ-CP NGÀY 10 THÁNG 10 NĂM 2003 VỀ VIỆC TUYỂN DỤNG, SỬ DỤNG VÀ
QUẢN LÝ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TRONG CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 26 tháng 02 năm 1998 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của
Pháp lệnh Cán bộ, công chức ngày 29 tháng 4 năm 2003;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ,
NGHỊ ĐỊNH:
Chương 1:
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Nghị định này quy định việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước, lực
lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là công chức).
Điều 2. Đối tượng điều chỉnh
Công chức nói tại Nghị định này là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
được quy định tại điểm b, điểm c, điểm e khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh Cán bộ, công chức, làm việc trong các cơ
quan nhà nước, lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội sau đây:
1. Văn phòng Quốc hội;
2. Văn phòng Chủ tịch nước;
3. Các cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;
4. Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp;
5. Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài;
6. Đơn vị thuộc Quân đội Nhân dân và Công an Nhân dân;
7. Bộ máy giúp việc thuộc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện.
Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. "Ngạch công chức" là chức danh công chức được phân theo ngành, thể hiện cấp độ về chuyên môn nghiệp vụ;
2. "Bậc" là khái niệm chỉ thang giá trị trong mỗi ngạch công chức, ứng với mỗi bậc có một hệ số tiền lương;
3. "Nâng ngạch" là nâng từ ngạch thấp lên ngạch cao hơn trong cùng một ngành chuyên môn nghiệp vụ;
4. "Chuyển ngạch" là chuyển từ ngạch này sang ngạch khác có cùng cấp độ về chuyên môn nghiệp vụ (ngạch tương
đương);
5. "Tuyển dụng" là việc tuyển người vào làm việc trong biên chế của cơ quan nhà nước thông qua thi hoặc xét tuyển;
6. "Bổ nhiệm vào ngạch" là việc quyết định bổ nhiệm người có đủ tiêu chuẩn vào một ngạch công chức nhất định;
7. "Cơ quan sử dụng công chức" là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý hành chính, chuyên môn nghiệp vụ đối
với công chức;
8. "Cơ quan có thẩm quyền quản lý công chức" là cơ quan được giao thẩm quyền tuyển dụng và quản lý công chức;
9. "Cơ quan có thẩm quyền quản lý ngạch công chức" là cơ quan được giao thẩm quyền quản lý các ngạch công
chức chuyên ngành;
10. "Tập sự" là việc người được tuyển dụng tập làm việc theo chức trách, nhiệm vụ của ngạch sẽ được bổ nhiệm;
Điều 4. Phân loại công chức
Công chức nói tại Nghị định này được phân loại như sau:
1. Phân loại theo trình độ đào tạo:
a) Công chức loại A là người được bổ nhiệm vào ngạch yêu cầu trình độ đào tạo chuyên môn giáo dục đại học và
sau đại học;
b) Công chức loại B là người được bổ nhiệm vào ngạch yêu cầu trình độ đào tạo chuyên môn giáo dục nghề nghiệp;
c) Công chức loại C là người được bổ nhiệm vào ngạch yêu cầu trình độ đào tạo chuyên môn dưới giáo dục nghề
nghiệp.
2. Phân loại theo ngạch công chức:
a) Công chức ngạch chuyên viên cao cấp và tương đương trở lên;
b) Công chức ngạch chuyên viên chính và tương đương;
c) Công chức ngạch chuyên viên và tương đương;
d) Công chức ngạch cán sự và tương đương;
đ) Công chức ngạch nhân viên và tương đương.
3. Phân loại theo vị trí công tác:
a) Công chức lãnh đạo, chỉ huy;
b) Công chức chuyên môn, nghiệp vụ.
Việc phân cấp quản lý công chức phải căn cứ vào việc phân loại công chức quy định tại Điều này.
Chương 2:
TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC
Điều 5. Điều kiện đăng ký dự tuyển công chức
1. Người đăng ký dự tuyển vào công chức phải bảo đảm những điều kiện sau đây:
a) Là công dân Việt Nam, có địa chỉ thường trú tại Việt Nam;
b) Tuổi của người dự tuyển từ đủ 18 tuổi đến 40 tuổi. Trường hợp người dự tuyển là sĩ quan, quân nhân chuyên
nghiệp, viên chức trong các đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp nhà nước thì tuổi dự tuyển có thể cao hơn nhưng
không quá 45 tuổi;
c) Có đơn dự tuyển; có lý lịch rõ ràng; có văn bằng, chứng chỉ đào tạo phù hợp với yêu cầu của ngạch dự tuyển;
d) Đủ sức khoẻ để đảm nhận nhiệm vụ, công vụ;
đ) Không trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành án phạt tù, cải tạo không giam giữ, quản chế,
đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục.
2. Những người dự tuyển vào công chức quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh sửa đổi, bổ
sung một số điều của Pháp lệnh Cán bộ, công chức ngày 29 tháng 4 năm 2003 phải qua thực hiện chế độ công
chức dự bị.
3. Ngoài các quy định tại khoản 1 Điều này, căn cứ vào tính chất và đặc điểm chuyên môn nghiệp vụ của ngạch
tuyển dụng, cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng có thể bổ sung thêm một số điều kiện đối với người dự tuyển.
Điều 6. Tuyển dụng công chức
1. Việc tuyển dụng công chức phải thông qua thi tuyển.
2. Người tình nguyện làm việc từ năm năm trở lên ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo hoặc để đáp
ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ở vùng dân tộc ít người thì việc tuyển dụng có thể thực hiện thông
qua xét tuyển.
Điều 7. Ưu tiên trong thi tuyển
Các trường hợp sau đây được ưu tiên trong thi tuyển:
1. Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động, thương binh được cộng 30 điểm vào tổng kết quả thi tuyển;
2. Con liệt sĩ, con thương binh, con bệnh binh, người có học vị tiến sĩ đúng chuyên ngành đào tạo, phù hợp với nhu
cầu tuyển dụng được cộng 20 điểm vào tổng kết quả thi tuyển;
3. Những người có học vị thạc sĩ đúng chuyên ngành đào tạo phù hợp với nhu cầu tuyển dụng; những người tốt
nghiệp loại giỏi và xuất sắc ở các bậc đào tạo chuyên môn phù hợp với nhu cầu tuyển dụng; người đã hoàn thành
nghĩa vụ quân sự, đội viên thanh niên xung phong, đội viên trí thức trẻ tình nguyện phục vụ nông thôn, miền núi từ
hai năm trở lên đã hoàn thành nhiệm vụ được cộng 10 điểm vào tổng kết quả thi tuyển.
Điều 8. Ưu tiên trong xét tuyển
Những người cam kết tình nguyện làm việc từ năm năm trở lên ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới,
hải đảo được xét tuyển theo thứ tự ưu tiên sau đây:
1. Người dân tộc thiểu số, người cư trú tại nơi tự nguyện làm việc;
2. Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động;
3. Thương binh;
4. Con liệt sĩ;
5. Con thương binh, con bệnh binh;
6. Người có học vị tiến sĩ đúng chuyên ngành đào tạo phù hợp với nhu cầu tuyển dụng;
7. Người có học vị thạc sĩ đúng chuyên ngành đào tạo, phù hợp với nhu cầu tuyển dụng; người tốt nghiệp loại giỏi
và xuất sắc ở các bậc đào tạo chuyên môn phù hợp với nhu cầu tuyển dụng; người đã hoàn thành nghĩa vụ quân
sự, đội viên thanh niên xung phong, đội viên đội trí thức trẻ tình nguyện phục vụ nông thôn, miền núi từ hai năm trở
lên đã hoàn thành nhiệm vụ.
Điều 9. Căn cứ tuyển dụng
Việc tuyển dụng công chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí công tác và theo chỉ tiêu biên chế được giao.
Điều 10. Thông báo tuyển dụng
Chậm nhất là 30 ngày trước ngày tổ chức tuyển dụng, cơ quan có thẩm quyền quản lý công chức phải thông báo
công khai về tiêu chuẩn, điều kiện, số lượng cần tuyển trên các phương tiện thông tin đại chúng để mọi người biết
và đăng ký dự tuyển.
Điều 11. Hội đồng tuyển dụng
1. Việc tuyển dụng công chức do Hội đồng thi tuyển khi tổ chức thi tuyển và Hội đồng xét tuyển khi tổ chức xét tuyển
(sau đây gọi chung là Hội đồng tuyển dụng) thực hiện. Trường hợp số người đăng ký dự tuyển cao hơn nhiều so với
chỉ tiêu được tuyển, Hội đồng tuyển dụng có thể tổ chức sơ tuyển.
2. Hội đồng tuyển dụng do người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền quản lý công chức ra quyết định thành lập, có
05 hoặc 07 thành viên.
3. Hội đồng tuyển dụng bao gồm:
a) Chủ tịch Hội đồng là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền quản lý công
chức;
b) Phó Chủ tịch Hội đồng là người đứng đầu cơ quan tổ chức cán bộ của cơ quan có thẩm quyền quản lý công
chức;
c) Các ủy viên Hội đồng là đại diện lãnh đạo các cơ quan, tổ chức, đơn vị chuyên ngành của cơ quan có thẩm quyền
quản lý công chức;
d) Uỷ viên kiêm Thư ký Hội đồng là công chức phụ trách công tác tuyển dụng.
4. Giúp việc cho Hội đồng tuyển dụng có Ban coi thi, Ban chấm thi.
Điều 12. Nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng tuyển dụng
Hội đồng tuyển dụng làm việc theo nguyên tắc tập thể, biểu quyết theo đa số, có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1. Thông báo công khai kế hoạch tổ chức tuyển dụng; thể lệ, quy chế; tiêu chuẩn và điều kiện dự tuyển; môn thi,
hình thức, thời gian và địa điểm thi;
2. Tổ chức việc ra đề thi, thành lập Ban coi thi, Ban chấm thi;
3. Tiếp nhận và xét hồ sơ dự tuyển; tổ chức sơ tuyển (nếu có); thông báo danh sách những người đủ điều kiện và
tiêu chuẩn dự tuyển;
4. Tổ chức thi tuyển hoặc xét tuyển theo đúng quy chế; báo cáo kết quả tuyển dụng lên cơ quan có thẩm quyền để
xem xét và ra quyết định công nhận kết quả; công bố kết quả tuyển dụng;
5. Giải quyết khiếu nại, tố cáo của người dự tuyển.
Điều 13. Cách tính điểm trong kỳ thi tuyển
1. Mỗi phần thi được chấm theo thang điểm 100.
2. Người trúng tuyển trong kỳ thi tuyển là người phải thi đủ các môn thi, có số điểm của mỗi phần thi đạt từ 50 điểm
trở lên và tính từ người có tổng số điểm cao nhất cho đến hết chỉ tiêu được tuyển.
3. Người được ưu tiên tuyển dụng quy định tại Điều 7 Nghị định này, được cộng thêm điểm ưu tiên vào tổng số
điểm thi, nếu người dự thi thuộc nhiều diện ưu tiên thì chỉ được cộng một điểm ưu tiên cao nhất.
4. Trường hợp nhiều người có tổng số điểm bằng nhau ở chỉ tiêu cuối cùng được tuyển thì Hội đồng thi tuyển quyết
định tổ chức thi tiếp để chọn người có điểm cao nhất trúng tuyển.
Điều 14. Nguyên tắc xác định người trúng tuyển trong kỳ xét tuyển
Người trúng tuyển trong kỳ xét tuyển là người đủ tiêu chuẩn và điều kiện dự tuyển, được Hội đồng xét tuyển căn cứ
vào quy định tại Điều 5 và Điều 8 Nghị định này để xem xét và nhất trí đề nghị cơ quan có thẩm quyền ra quyết định
tuyển dụng.
Điều 15. Thời hạn ra quyết định tuyển dụng và nhận việc
1. Trong thời hạn chậm nhất 30 ngày, kể từ ngày công bố kết quả tuyển dụng, cơ quan có thẩm quyền quản lý công
chức ra quyết định tuyển dụng.
2. Trong thời hạn chậm nhất là 30 ngày, kể từ ngày có quyết định tuyển dụng, người được tuyển dụng phải đến cơ
quan nhận việc, trừ trường hợp quyết định tuyển dụng có quy định thời hạn khác.
3. Trường hợp người được tuyển dụng có lý do chính đáng mà không thể nhận việc đúng thời hạn thì phải làm đơn
xin gia hạn và được cơ quan sử dụng công chức đồng ý. Thời gian được gia hạn không quá 30 ngày.
4. Trường hợp người có quyết định tuyển dụng đến nhận việc chậm quá thời hạn nói trên và không có lý do chính
đáng thì cơ quan có thẩm quyền quản lý công chức ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyển dụng.
Điều 16. Tập sự
1. Người được tuyển dụng vào công chức quy định tại Nghị định này phải thực hiện chế độ tập sự.
2. Thời gian tập sự đối với các ngạch công chức được quy định như sau:
a) 12 tháng đối với ngạch chuyên viên và tương đương;
ưb) 06 tháng đối với ngạch cán sự và tương đương;
c) 03 tháng đối với ngạch nhân viên và tương đương.
3. Thời gian tập sự đối với công chức dự bị được tính trong thời gian thực hiện chế độ công chức dự bị.
4. Những người đang công tác tại các doanh nghiệp nhà nước hoặc những người quy định tại các điểm a, d, đ, g và
điểm h khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh Cán bộ, công chức khi được điều động hoặc tuyển dụng về làm việc tại các
cơ quan nhà nước quy định tại Điều 2 Nghị định này thực hiện chế độ tập sự theo hướng dẫn của Bộ Nội vụ.
Điều 17. Hướng dẫn tập sự
Cơ quan sử dụng công chức có trách nhiệm:
1. Hướng dẫn cho người tập sự nắm vững chức năng, nhiệm vụ, nội quy, quy chế của cơ quan; mối quan hệ giữa
các tổ chức trong cơ quan, với các cơ quan liên quan và tập làm các chức trách, nhiệm vụ của ngạch sẽ được bổ
nhiệm;
2. Cử một công chức cùng ngạch hoặc ngạch trên, có năng lực và kinh nghiệm về nghiệp vụ hướng dẫn người tập
sự. Mỗi công chức chỉ hướng dẫn mỗi lần một người tập sự.
Điều 18. Chế độ, chính sách đối với người tập sự và người hướng dẫn tập sự
Người tập sự và người hướng dẫn tập sự được hưởng chế độ, chính sách sau đây:
1. Trong thời gian tập sự, người tập sự được hưởng 85% bậc lương khởi điểm bậc 1 của ngạch tuyển dụng; trường
hợp người tập sự có học vị thạc sĩ phù hợp với yêu cầu tuyển dụng thì được hưởng 85% lương bậc 2 của ngạch
tuyển dụng; người tập sự có học vị tiến sĩ phù hợp với yêu cầu tuyển dụng thì được hưởng 85% lương bậc 3 của
ngạch tuyển dụng.
2. Những người sau đây trong thời gian tập sự được hưởng 100% lương và phụ cấp (nếu có) của ngạch tuyển
dụng:
a) Người được tuyển dụng làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo;
b) Người được tuyển dụng làm việc trong các ngành, nghề độc hại nguy hiểm;
c) Người được tuyển dụng là người đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, đội viên thanh niên xung phong, đội viên trí
thức trẻ tình nguyện phục vụ nông thôn, miền núi từ hai năm trở lên đã hoàn thành nhiệm vụ.
3. Công chức được cơ quan phân công hướng dẫn tập sự được hưởng phụ cấp trách nhiệm bằng 30% mức lương
tối thiểu trong thời gian hướng dẫn tập sự.
4. Thời gian tập sự không được tính vào thời gian xét nâng lương theo thâm niên.
Điều 19. Bổ nhiệm vào ngạch công chức
1. Việc bổ nhiệm vào ngạch công chức được cơ quan có thẩm quyền ra quyết định bổ nhiệm theo nguyên tắc sau
đây:
a) Làm công việc nào thì bổ nhiệm vào ngạch công chức đó;
b) Người được bổ nhiệm phải đủ tiêu chuẩn quy định của ngạch.
2. Việc bổ nhiệm vào ngạch đối với người thực hiện chế độ tập sự:
a) Khi hết thời gian tập sự, người tập sự phải làm báo cáo kết quả tập sự; người hướng dẫn tập sự phải có bản
nhận xét, đánh giá kết quả đối với người tập sự gửi cơ quan sử dụng công chức;
b) Người đứng đầu cơ quan sử dụng công chức đánh giá phẩm chất đạo đức và kết quả công việc của người tập
sự, nếu người tập sự đạt yêu cầu của ngạch tập sự thì đề nghị cơ quan có thẩm quyền quản lý công chức ra quyết
định bổ nhiệm vào ngạch công chức.
Điều 20. Huỷ bỏ quyết định tuyển dụng
1. Huỷ bỏ quyết định tuyển dụng trong các trường hợp sau đây:
a) Người tập sự không hoàn thành nhiệm vụ;
b) Người tập sự bị xử lý kỷ luật từ cảnh cáo trở lên.
2. Người đứng đầu cơ quan sử dụng công chức đề nghị cơ quan có thẩm quyền quản lý công chức ra quyết định
bằng văn bản huỷ bỏ quyết định tuyển dụng đối với các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Người tập sự bị huỷ bỏ quyết định tuyển dụng thì được cơ quan sử dụng công chức trợ cấp 01 tháng lương và
phụ cấp (nếu có) đang được hưởng và tiền tàu xe về nơi thường trú.
Chương 3:
SỬ DỤNG CÔNG CHỨC
MỤC 1: BỐ TRÍ, PHÂN CÔNG CÔNG TÁC, CHUYỂN NGẠCH, NÂNG NGẠCH
Điều 21. Bố trí, phân công công tác
1. Người đứng đầu cơ quan sử dụng công chức chịu trách nhiệm bố trí, phân công, giao nhiệm vụ cho công chức,
bảo đảm các điều kiện cần thiết để công chức thi hành nhiệm vụ, thực hiện các chế độ, chính sách đối với công
chức.
2. Khi thực hiện việc bố trí, phân công công tác cho công chức phải bảo đảm phù hợp giữa nhiệm vụ được giao với
ngạch công chức được bổ nhiệm, công chức ở ngạch nào thì bố trí công việc phù hợp với ngạch đó.
3. Công chức chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành nhiệm vụ, công vụ của mình; công chức giữ chức vụ
lãnh đạo còn phải chịu trách nhiệm về việc thi hành nhiệm vụ, công vụ của công chức thuộc quyền quản lý theo quy
định của pháp luật.
Điều 22. Chuyển ngạch
1. Công chức được phân công nhiệm vụ mới không phù hợp với ngạch công chức đang giữ thì phải chuyển ngạch
cho phù hợp với vị trí và chuyên môn nghiệp vụ được giao.
2. Công chức được chuyển ngạch phải đáp ứng đúng tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ của ngạch được chuyển và
phù hợp với cơ cấu ngạch công chức của cơ quan.
3. Cơ quan sử dụng công chức khi chuyển ngạch cho công chức phải thành lập Hội đồng kiểm tra để sát hạch về
trình độ, năng lực của công chức. Nếu công chức đáp ứng đủ tiêu chuẩn nghiệp vụ của ngạch mới, thì cơ quan sử
dụng công chức ra quyết định bổ nhiệm theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền quản lý công chức
bổ nhiệm.
4. Hội đồng kiểm tra có 05 hoặc 07 thành viên, bao gồm:
a) Chủ tịch Hội đồng là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan;
b) Phó Chủ tịch Hội đồng là người đứng đầu bộ phận tổ chức cán bộ cơ quan;
c) Các ủy viên Hội đồng là lãnh đạo bộ phận chuyên môn, một số công chức có năng lực, trình độ nghiệp vụ ở cùng
ngạch hoặc ngạch cao hơn (Chủ tịch Hội đồng phân công một trong số các Uỷ viên kiêm Thư ký Hội đồng).
5. Hội đồng kiểm tra có nhiệm vụ:
a) Xem xét các văn bằng, chứng chỉ đào tạo, bồi dưỡng theo yêu cầu của ngạch mới, văn bản đánh giá nhận xét
quá trình công tác của cơ quan cũ;
b) Phỏng vấn công chức chuyển ngạch các vấn đề về chính trị, xã hội, chuyên môn;
c) Kiểm tra công chức chuyển ngạch soạn thảo văn bản quản lý theo yêu cầu nhiệm vụ của ngạch;
d) Hội đồng kiểm tra họp đánh giá kết quả; nếu xét thấy công chức đạt yêu cầu thì đề nghị cơ quan có thẩm quyền
quản lý công chức bổ nhiệm vào ngạch.
6. Khi xét chuyển ngạch không được kết hợp nâng ngạch, nâng bậc lương.
Điều 23. Nâng ngạch, nâng bậc lương
1. Công chức có đủ tiêu chuẩn, điều kiện, vị trí công tác phù hợp với ngạch và còn ngạch trên trong cùng ngành
chuyên môn thì có thể được nâng ngạch. Việc nâng ngạch cho công chức phải thông qua kỳ thi nâng ngạch theo
quy định. Công chức lập thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ thì được xem xét để nâng ngạch.
2. Công chức có đủ tiêu chuẩn, thời hạn và còn bậc trong ngạch thì được xem xét để nâng bậc lương. Công chức
lập thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ thì được xem xét để nâng bậc lương trước thời hạn theo
quy định của Chính phủ.
3. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, công vụ nếu công chức đạt hiệu quả công tác cao và có triển vọng phát triển
thì được Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương ra quyết định nâng ngạch hoặc nâng bậc lương trước thời hạn theo phân cấp.
Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn việc nâng ngạch và nâng bậc lương trước thời hạn quy định tại Điều này.
Điều 24. Cử công chức dự thi nâng ngạch
1. Việc xét cử công chức dự thi nâng ngạch do Hội đồng sơ tuyển của cơ quan thực hiện trên cơ sở nhu cầu ngạch
công chức của cơ quan, vị trí công tác của công chức, phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực, khả năng phát triển,
kết quả hoàn thành nhiệm vụ của công chức. Thành phần Hội đồng sơ tuyển như thành phần của Hội đồng kiểm tra
khi chuyển ngạch quy định tại khoản 4 Điều 22 của Nghị định này.
2. Công chức tham gia thi nâng ngạch phải đạt tiêu chuẩn nghiệp vụ của ngạch dự thi, có đủ văn bằng, chứng chỉ
đào tạo, bồi dưỡng, đạt hệ số lương tối thiểu quy định đối với từng ngạch dự thi và các điều kiện cần thiết khác theo
quy định, đồng thời phải được cơ quan có thẩm quyền quản lý công chức cử tham gia kỳ thi.
Điều 25. Tổ chức thi nâng ngạch
Hàng năm, cơ quan có thẩm quyền quản lý công chức căn cứ vào cơ cấu ngạch công chức, xây dựng kế hoạch, chỉ
tiêu thi nâng ngạch gửi Bộ Nội vụ để thống nhất kế hoạch và chỉ tiêu dự thi.
Điều 26. Hội đồng thi nâng ngạch
1. Khi tổ chức thi nâng ngạch, cơ quan có thẩm quyền tổ chức thi phải thành lập Hội đồng thi nâng ngạch có 05 hoặc
07 thành viên, bao gồm:
a) Chủ tịch Hội đồng là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tổ chức thi nâng
ngạch;
b) Phó Chủ tịch Hội đồng là người phụ trách công tác quản lý cán bộ, công chức của cơ quan được giao quyền tổ
chức thi nâng ngạch công chức;
c) Các ủy viên Hội đồng là đại diện lãnh đạo các đơn vị chuyên ngành của cơ quan được giao quyền tổ chức thi
nâng ngạch công chức;
d) Uỷ viên kiêm Thư ký Hội đồng là người phụ trách lĩnh vực tuyển dụng và nâng ngạch của cơ quan được giao
quyền tổ chức thi nâng ngạch công chức.
2. Giúp việc Hội đồng nâng ngạch có Ban coi thi, Ban chấm thi.
Điều 27. Nhiệm vụ và quyền hạn Hội đồng thi nâng ngạch
Hội đồng thi nâng ngạch hoạt động theo nguyên tắc tập thể, biểu quyết theo đa số và có nhiệm vụ, quyền hạn sau:
1. Thông báo kế hoạch thi nâng ngạch; thể lệ, quy chế thi; tiêu chuẩn và điều kiện dự thi; hồ sơ của người dự thi;
môn thi, hình thức thi, thời gian, địa điểm;
2. Tổ chức việc ra đề thi; thành lập Ban coi thi, Ban chấm thi;
3. Tiếp nhận và xét hồ sơ dự thi; thông báo danh sách những người đủ điều kiện và tiêu chuẩn dự thi;
4. Chỉ đạo và tổ chức thi theo đúng quy chế; báo cáo kết quả thi lên cơ quan có thẩm quyền để xem xét và ra quyết
định công nhận kết quả kỳ thi;
5. Giải quyết khiếu nại, tố cáo của người dự thi.
Điều 28. Cách tính điểm và xác định trúng tuyển
1. Mỗi phần thi được chấm theo thang điểm 100.
2. Người trúng tuyển trong kỳ thi là người phải thi đủ các môn thi, có số điểm của mỗi phần thi đạt từ 55 điểm trở
lên.
Điều 29. Chứng nhận ngạch và bổ nhiệm vào ngạch công chức
1. Căn cứ vào kết quả kỳ thi, chậm nhất là 30 ngày, kể từ ngày có kết quả thi, cơ quan có thẩm quyền quản lý ngạch
công chức cấp giấy chứng nhận ngạch cho công chức đạt kết quả kỳ thi.
2. Căn cứ vào giấy chứng nhận ngạch, cơ quan có thẩm quyền quản lý công chức ra quyết định bổ nhiệm ngạch và
xếp lương cho công chức vào ngạch dự thi theo quy định.
MỤC 2: ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG
Điều 30. Đào tạo bồi dưỡng công chức
1. Cơ quan có thẩm quyền quản lý công chức có trách nhiệm xây dựng quy hoạch, kế hoạch và tổ chức việc đào
tạo, bồi dưỡng để tạo nguồn và nâng cao trình độ, năng lực của công chức.
2. Cơ quan sử dụng công chức phải tạo điều kiện để công chức được tham gia đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng
lực theo tiêu chuẩn chức danh chuyên môn nghiệp vụ của ngạch công chức và theo kế hoạch đào tạo bồi dưỡng.
MỤC 3: ĐIỀU ĐỘNG, BỔ NHIỆM CHỨC VỤ LÃNH ĐẠO, TỪ CHỨC, MIỄN NHIỆM, LUÂN CHUYỂN, BIỆT PHÁI
Điều 31. Điều động
1. Việc điều động công chức phải căn cứ vào nhu cầu công tác của cơ quan và trình độ, năng lực của công chức.
2. Khi điều động công chức sang vị trí công tác có chuyên môn nghiệp vụ khác, cơ quan sử dụng và quản lý công
chức phải đề nghị cấp có thẩm quyền quyết định chuyển ngạch công chức sang ngạch công chức tương đương phù
hợp.
3. Những cán bộ, công chức thuộc đối tượng quy định tại các điểm a, d, đ, g khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh sửa đổi,
bổ sung một số điều của Pháp lệnh Cán bộ, công chức ngày 29 tháng 4 năm 2003 nếu được cơ quan có thẩm
quyền điều động về làm việc tại các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ
trang, thì khi bổ nhiệm vào ngạch công chức phải căn cứ vào vị trí công tác và tiêu chuẩn nghiệp vụ của ngạch công
chức. Trình tự thủ tục bổ nhiệm vào ngạch thực hiện như việc chuyển ngạch quy định tại Điều 22 Nghị định này.
Điều 32. Bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo
1. Việc bổ nhiệm công chức giữ chức vụ lãnh đạo được thực hiện căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ của cơ quan, tiêu
chuẩn, điều kiện của vị trí lãnh đạo, theo thẩm quyền và trình tự thủ tục quy định về bổ nhiệm cán bộ, công chức
lãnh đạo.
2. Công chức giữ chức vụ lãnh đạo được bổ nhiệm có thời hạn, khi hết thời hạn giữ chức vụ phải được xem xét để
bổ nhiệm lại hoặc không bổ nhiệm lại.
3. Công chức được bố trí sang công tác khác hoặc được bổ nhiệm chức vụ mới thì đương nhiên thôi giữ chức vụ
đang đảm nhiệm.
Điều 33. Miễn nhiệm chức vụ lãnh đạo
Công chức giữ chức vụ lãnh đạo được cấp có thẩm quyền xem xét cho miễn nhiệm và bố trí công tác khác không
chờ hết thời hạn bổ nhiệm trong các trường hợp sau đây:
1. Do nhu cầu công tác;
2. Do sức khoẻ không bảo đảm;
3. Do không hoàn thành nhiệm vụ;
4. Do vi phạm kỷ luật nhưng chưa đến mức bị thi hành kỷ luật bằng hình thức cách chức.
Điều 34. Từ chức
1. Công chức giữ chức vụ lãnh đạo xin từ chức, phải làm đơn gửi người đứng đầu cơ quan sử dụng công chức.
Người đứng đầu cơ quan sử dụng công chức phải báo cáo cơ quan có thẩm quyền quản lý công chức xem xét,
quyết định.
2. Trong thời hạn 01 tháng, kể từ khi nhận được đơn từ chức, cơ quan có thẩm quyền quản lý công chức phải xem
xét để quyết định hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền quyết định.
3. Khi đơn từ chức chưa được chấp thuận thì công chức giữ chức vụ lãnh đạo vẫn phải tiếp tục thực hiện nhiệm vụ,
chức trách được giao.
4. Công chức giữ chức vụ lãnh đạo sau khi từ chức được bố trí công tác khác.
Điều 35. Luân chuyển
1. Việc luân chuyển công chức được thực hiện trong các trường hợp sau đây:
a) Thực hiện việc tăng cường, bổ sung cho cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự
nghiệp về số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức để bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao;
b) Thực hiện việc luân chuyển cán bộ, công chức giữa trung ương và địa phương, giữa các cơ quan, các ngành, các
lĩnh vực theo quy hoạch.
2. Cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý thuộc đối tượng quy định tại các điểm a, d, đ, g khoản 1 Điều 1
của Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Cán bộ, công chức ngày 29 tháng 4 năm 2003, được cơ
quan có thẩm quyền quyết định luân chuyển về giữ chức vụ lãnh đạo tại các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ
chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang, khi bổ nhiệm vào ngạch công chức phải căn cứ vào vị trí công tác và tiêu
chuẩn nghiệp vụ của ngạch công chức. Trình tự, thủ tục bổ nhiệm vào ngạch thực hiện như việc chuyển ngạch quy
định tại Điều 22 Nghị định này.
3. Công chức được luân chuyển về làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo ngoài việc áp dụng
các chính sách ưu đãi còn được hưởng một số chính sách khuyến khích khác theo quy định chung của Nhà nước.
Điều 36. Biệt phái
1. Căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, công vụ, cơ quan có thẩm quyền quản lý công chức cử công chức biệt phái đến
làm việc có thời hạn ở một cơ quan, tổ chức, đơn vị khác. Thời hạn cử biệt phái mỗi lần không quá ba năm.
2. Việc cử biệt phái công chức được thực hiện trong các trường hợp sau đây:
a) Do có những nhiệm vụ đột xuất, cấp bách mà chưa thể thực hiện việc điều động công chức;
b) Do có những công việc chỉ cần giải quyết trong một thời gian nhất định.
3. Công chức được cử biệt phái chịu sự phân công công tác của cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi được cử đến. Cơ
quan cử công chức biệt phái có trách nhiệm trả lương và bảo đảm các quyền lợi khác của công chức biệt phái.
4. Công chức được cử biệt phái đến vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo được hưởng các chính sách ưu
đãi theo quy định chung của Nhà nước.
MỤC 4: ĐÁNH GIÁ CÔNG CHỨC
Điều 37. Mục đích
Đánh giá công chức để làm rõ năng lực, trình độ, kết quả công tác, phẩm chất đạo đức làm căn cứ để bố trí, sử
dụng, bổ nhiệm, đề bạt, đào tạo, bồi dưỡng và thực hiện chính sách đối với công chức.
Điều 38. Căn cứ và trình tự đánh giá công chức
1. Khi đánh giá công chức, cơ quan sử dụng công chức phải căn cứ vào nhiệm vụ được phân công, kết quả hoàn
thành nhiệm vụ và phẩm chất đạo đức của công chức.
2. Việc đánh giá công chức được tổ chức hàng năm và thực hiện vào cuối năm theo trình tự sau: công chức tự nhận
xét công tác; tập thể nơi công chức làm việc tham gia góp ý và ghi phiếu phân loại; sau khi tham khảo ý kiến nhận
xét, phân loại của tập thể, người đứng đầu cơ quan đánh giá và quyết định xếp loại công chức; thông báo ý kiến
đánh giá đến từng công chức.
3. Công chức có quyền được trình bày, bảo lưu ý kiến tự đánh giá nhưng phải chấp hành ý kiến kết luận của cơ
quan có thẩm quyền.
4. Việc đánh giá công chức biệt phái do cơ quan sử dụng công chức thực hiện. Văn bản đánh giá công chức biệt
phái được gửi về cơ quan cử biệt phái để lưu vào hồ sơ công chức.
5. Tài liệu đánh giá công chức được lưu giữ trong hồ sơ công chức.
Điều 39. Đánh giá công chức lãnh đạo
Việc đánh giá công chức giữ chức vụ lãnh đạo được thực hiện theo phân cấp quản lý. Ngoài những căn cứ nêu tại
Điều 38 Nghị định này, khi đánh giá công chức lãnh đạo còn phải căn cứ vào kết quả hoạt động của cơ quan, đơn vị
và trách nhiệm của công chức giữ chức vụ lãnh đạo.
Chương 4:
QUẢN LÝ CÔNG CHỨC
Điều 40. Nội dung quản lý công chức
1. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, điều lệ, quy chế, phân cấp quản lý về công chức.
2. Lập quy hoạch, kế hoạch xây dựng và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức.
3. Quy định chức danh và tiêu chuẩn công chức.
4. Quyết định biên chế công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương; quy định định mức biên
chế hành chính thuộc ủy ban nhân dân.
5. Tổ chức thực hiện việc quản lý, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng công chức.
6. Ban hành Quy chế tuyển dụng, nâng ngạch; chế độ tập sự.
7. Đánh giá công chức.
8. Chỉ đạo, tổ chức thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật đối với
công chức.
9. Thực hiện chế độ báo cáo và thống kê công chức.
10. Thanh tra, kiểm tra việc thi hành quy định của pháp luật về công chức.
11. Chỉ đạo, tổ chức giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với công chức.
Điều 41. Nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ Nội vụ
Bộ Nội vụ là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công chức, có nhiệm vụ và quyền
hạn sau đây:
1. Xây dựng dự án luật, pháp lệnh về công chức để Chính phủ trình Quốc hội, ủy ban Thường vụ Quốc hội;
2. Xây dựng trình Chính phủ: phê duyệt quy hoạch, kế hoạch xây dựng đội ngũ công chức; đề án phân công, phân
cấp quản lý công chức và tổng biên chế hành chính nhà nước; kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức; chế
độ tiền lương và các chính sách, chế độ đãi ngộ khác đối với công chức; chế độ công chức dự bị, chế độ tập sự và
các văn bản pháp quy về quản lý công chức;
3. Xây dựng trình Chính phủ đề án về sử dụng, đánh giá, điều động, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển, khen
thưởng, kỷ luật công chức và cơ cấu ngạch công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước;
4. Xây dựng trình Chính phủ quy định định mức biên chế hành chính thuộc ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương;
5. Quyết định việc giao chỉ tiêu biên chế hành chính cho các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ theo
ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ;
6. Ban hành các quy định về chức danh, tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức; ban hành Quy chế tuyển dụng,
Quy chế nâng ngạch công chức;
7. Quản lý về số lượng, chất lượng, bổ nhiệm ngạch, xếp lương và nâng bậc lương các ngạch công chức cao cấp;
tổ chức thi nâng ngạch chuyên viên cao cấp và chuyên viên chính cho công chức; kiểm tra, giám sát các kỳ thi tuyển
và thi nâng ngạch do các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương tổ chức; cấp giấy chứng nhận ngạch chuyên viên cao cấp và ngạch công chức chuyên ngành
tương đương với ngạch chuyên viên cao cấp;
8. Quy định về lập hồ sơ, quản lý hồ sơ; số hiệu công chức; phiếu công chức; thẻ và chế độ đeo thẻ của công chức;
9. Tổ chức thống kê đội ngũ công chức trong cả nước;
10. Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của Nhà nước về công chức trong các cơ quan hành chính nhà
nước ở trung ương và địa phương;
11. Giải quyết các khiếu nại, tố cáo đối với công chức theo phân cấp và theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố
cáo.
Điều 42. Nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (sau đây gọi tắt là Bộ) có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1. Quản lý về số lượng, chất lượng, tuyển dụng, sử dụng, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, đánh giá, xếp lương và
nâng bậc lương đối với công chức từ ngạch chuyên viên chính và tương đương trở xuống;
2. Tổ chức việc tuyển dụng và đào tạo bồi dưỡng công chức do Bộ trực tiếp quản lý;
3. Tổ chức tuyển dụng, quản lý và sử dụng công chức dự bị theo quy định của pháp luật;
4. Giao chỉ tiêu biên chế đối với các cơ quan hành chính nhà nước do Bộ trực tiếp quản lý;
5. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ quản lý ngạch công chức chuyên ngành quy định tại Điều 44 Nghị định
này đối với các ngạch công chức chuyên ngành do Bộ quản lý;
6. Tổ chức thi nâng ngạch đối với các ngạch công chức tương đương ngạch chuyên viên trở xuống theo quy định;
7. Tổ chức thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ chính sách đãi ngộ khác đối với công chức thuộc Bộ;
8. Thực hiện công tác khen thưởng, kỷ luật đối với công chức hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền khen thưởng, kỷ luật
theo quy định;
9. Tổ chức thống kê và báo cáo thống kê công chức theo các quy định;
10. Hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra việc thi hành các quy định của Nhà nước đối với công chức thuộc phạm vi quản
lý của Bộ, ngành;
11. Giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với công chức theo phân cấp và theo theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố
cáo.
Điều 43. Phân công cơ quan quản lý ngạch công chức chuyên ngành
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ sau đây được phân công quản lý các ngạch công chức chuyên ngành:
1. Bộ Nội vụ quản lý các ngạch công chức chuyên ngành hành chính, cơ yếu;
2. Bộ Tài chính quản lý các ngạch công chức chuyên ngành kế toán, thuế, kiểm toán, hải quan, dự trữ;
3. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quản lý ngạch công chức chuyên ngành ngân hàng;
4. Thanh tra Nhà nước quản lý ngạch công chức chuyên ngành thanh tra;
5. Bộ Tư pháp quản lý ngạch công chức chuyên ngành tư pháp;
6. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý các ngạch công chức chuyên ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và
thuỷ lợi;
7. Bộ Bưu chính, Viễn thông quản lý ngạch công chức chuyên ngành bưu chính, viễn thông.
Điều 44. Nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ quản lý ngạch công chức chuyên ngành
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ quản lý các ngạch công chức chuyên ngành có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1. Xây dựng tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức chuyên ngành để Bộ Nội vụ thống nhất ban hành;
2. Quy định nội dung thi tuyển, thi nâng ngạch các ngạch công chức chuyên ngành;
3. Xây dựng chế độ, chính sách đối với công chức chuyên ngành để Bộ Nội vụ trình Chính phủ;
4. Quy định nội dung, chương trình, phương thức và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng công chức các ngạch công chức
chuyên ngành;
5. Tổ chức thi nâng ngạch và cấp giấy chứng nhận ngạch đối với các ngạch công chức chuyên ngành tương đương
ngạch chuyên viên chính được giao quản lý;
6. Phối hợp với Bộ Nội vụ tổ chức thi nâng ngạch đối với các ngạch công chức chuyên ngành tương đương ngạch
chuyên viên cao cấp được giao quản lý.
Điều 45. Nhiệm vụ và quyền hạn của ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) có nhiệm vụ
và quyền hạn sau đây:
1. Quản lý về số lượng, chất lượng, tuyển dụng, sử dụng, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, đánh giá, xếp lương và
nâng bậc lương đối với công chức từ ngạch chuyên viên chính và tương đương trở xuống;
2. Quyết định chỉ tiêu biên chế các cơ quan hành chính thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
3. Tổ chức việc tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng công chức theo quy định;
4. Tổ chức thi tuyển, sử dụng và quản lý công chức dự bị theo quy định;
5. Tổ chức việc thi nâng lên ngạch cán sự, chuyên viên và các ngạch tương đương khác theo quy định;
6. Tổ chức thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ chính sách đãi ngộ khác đối với công chức thuộc ủy ban nhân
dân cấp tỉnh;
********
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********
Số: 117/2003/NĐ-CP Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2003
NGHỊ ĐỊNH
CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 117/2003/NĐ-CP NGÀY 10 THÁNG 10 NĂM 2003 VỀ VIỆC TUYỂN DỤNG, SỬ DỤNG VÀ
QUẢN LÝ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TRONG CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 26 tháng 02 năm 1998 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của
Pháp lệnh Cán bộ, công chức ngày 29 tháng 4 năm 2003;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ,
NGHỊ ĐỊNH:
Chương 1:
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Nghị định này quy định việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước, lực
lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là công chức).
Điều 2. Đối tượng điều chỉnh
Công chức nói tại Nghị định này là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
được quy định tại điểm b, điểm c, điểm e khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh Cán bộ, công chức, làm việc trong các cơ
quan nhà nước, lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội sau đây:
1. Văn phòng Quốc hội;
2. Văn phòng Chủ tịch nước;
3. Các cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;
4. Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp;
5. Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài;
6. Đơn vị thuộc Quân đội Nhân dân và Công an Nhân dân;
7. Bộ máy giúp việc thuộc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện.
Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. "Ngạch công chức" là chức danh công chức được phân theo ngành, thể hiện cấp độ về chuyên môn nghiệp vụ;
2. "Bậc" là khái niệm chỉ thang giá trị trong mỗi ngạch công chức, ứng với mỗi bậc có một hệ số tiền lương;
3. "Nâng ngạch" là nâng từ ngạch thấp lên ngạch cao hơn trong cùng một ngành chuyên môn nghiệp vụ;
4. "Chuyển ngạch" là chuyển từ ngạch này sang ngạch khác có cùng cấp độ về chuyên môn nghiệp vụ (ngạch tương
đương);
5. "Tuyển dụng" là việc tuyển người vào làm việc trong biên chế của cơ quan nhà nước thông qua thi hoặc xét tuyển;
6. "Bổ nhiệm vào ngạch" là việc quyết định bổ nhiệm người có đủ tiêu chuẩn vào một ngạch công chức nhất định;
7. "Cơ quan sử dụng công chức" là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý hành chính, chuyên môn nghiệp vụ đối
với công chức;
8. "Cơ quan có thẩm quyền quản lý công chức" là cơ quan được giao thẩm quyền tuyển dụng và quản lý công chức;
9. "Cơ quan có thẩm quyền quản lý ngạch công chức" là cơ quan được giao thẩm quyền quản lý các ngạch công
chức chuyên ngành;
10. "Tập sự" là việc người được tuyển dụng tập làm việc theo chức trách, nhiệm vụ của ngạch sẽ được bổ nhiệm;
Điều 4. Phân loại công chức
Công chức nói tại Nghị định này được phân loại như sau:
1. Phân loại theo trình độ đào tạo:
a) Công chức loại A là người được bổ nhiệm vào ngạch yêu cầu trình độ đào tạo chuyên môn giáo dục đại học và
sau đại học;
b) Công chức loại B là người được bổ nhiệm vào ngạch yêu cầu trình độ đào tạo chuyên môn giáo dục nghề nghiệp;
c) Công chức loại C là người được bổ nhiệm vào ngạch yêu cầu trình độ đào tạo chuyên môn dưới giáo dục nghề
nghiệp.
2. Phân loại theo ngạch công chức:
a) Công chức ngạch chuyên viên cao cấp và tương đương trở lên;
b) Công chức ngạch chuyên viên chính và tương đương;
c) Công chức ngạch chuyên viên và tương đương;
d) Công chức ngạch cán sự và tương đương;
đ) Công chức ngạch nhân viên và tương đương.
3. Phân loại theo vị trí công tác:
a) Công chức lãnh đạo, chỉ huy;
b) Công chức chuyên môn, nghiệp vụ.
Việc phân cấp quản lý công chức phải căn cứ vào việc phân loại công chức quy định tại Điều này.
Chương 2:
TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC
Điều 5. Điều kiện đăng ký dự tuyển công chức
1. Người đăng ký dự tuyển vào công chức phải bảo đảm những điều kiện sau đây:
a) Là công dân Việt Nam, có địa chỉ thường trú tại Việt Nam;
b) Tuổi của người dự tuyển từ đủ 18 tuổi đến 40 tuổi. Trường hợp người dự tuyển là sĩ quan, quân nhân chuyên
nghiệp, viên chức trong các đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp nhà nước thì tuổi dự tuyển có thể cao hơn nhưng
không quá 45 tuổi;
c) Có đơn dự tuyển; có lý lịch rõ ràng; có văn bằng, chứng chỉ đào tạo phù hợp với yêu cầu của ngạch dự tuyển;
d) Đủ sức khoẻ để đảm nhận nhiệm vụ, công vụ;
đ) Không trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành án phạt tù, cải tạo không giam giữ, quản chế,
đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục.
2. Những người dự tuyển vào công chức quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh sửa đổi, bổ
sung một số điều của Pháp lệnh Cán bộ, công chức ngày 29 tháng 4 năm 2003 phải qua thực hiện chế độ công
chức dự bị.
3. Ngoài các quy định tại khoản 1 Điều này, căn cứ vào tính chất và đặc điểm chuyên môn nghiệp vụ của ngạch
tuyển dụng, cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng có thể bổ sung thêm một số điều kiện đối với người dự tuyển.
Điều 6. Tuyển dụng công chức
1. Việc tuyển dụng công chức phải thông qua thi tuyển.
2. Người tình nguyện làm việc từ năm năm trở lên ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo hoặc để đáp
ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ở vùng dân tộc ít người thì việc tuyển dụng có thể thực hiện thông
qua xét tuyển.
Điều 7. Ưu tiên trong thi tuyển
Các trường hợp sau đây được ưu tiên trong thi tuyển:
1. Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động, thương binh được cộng 30 điểm vào tổng kết quả thi tuyển;
2. Con liệt sĩ, con thương binh, con bệnh binh, người có học vị tiến sĩ đúng chuyên ngành đào tạo, phù hợp với nhu
cầu tuyển dụng được cộng 20 điểm vào tổng kết quả thi tuyển;
3. Những người có học vị thạc sĩ đúng chuyên ngành đào tạo phù hợp với nhu cầu tuyển dụng; những người tốt
nghiệp loại giỏi và xuất sắc ở các bậc đào tạo chuyên môn phù hợp với nhu cầu tuyển dụng; người đã hoàn thành
nghĩa vụ quân sự, đội viên thanh niên xung phong, đội viên trí thức trẻ tình nguyện phục vụ nông thôn, miền núi từ
hai năm trở lên đã hoàn thành nhiệm vụ được cộng 10 điểm vào tổng kết quả thi tuyển.
Điều 8. Ưu tiên trong xét tuyển
Những người cam kết tình nguyện làm việc từ năm năm trở lên ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới,
hải đảo được xét tuyển theo thứ tự ưu tiên sau đây:
1. Người dân tộc thiểu số, người cư trú tại nơi tự nguyện làm việc;
2. Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động;
3. Thương binh;
4. Con liệt sĩ;
5. Con thương binh, con bệnh binh;
6. Người có học vị tiến sĩ đúng chuyên ngành đào tạo phù hợp với nhu cầu tuyển dụng;
7. Người có học vị thạc sĩ đúng chuyên ngành đào tạo, phù hợp với nhu cầu tuyển dụng; người tốt nghiệp loại giỏi
và xuất sắc ở các bậc đào tạo chuyên môn phù hợp với nhu cầu tuyển dụng; người đã hoàn thành nghĩa vụ quân
sự, đội viên thanh niên xung phong, đội viên đội trí thức trẻ tình nguyện phục vụ nông thôn, miền núi từ hai năm trở
lên đã hoàn thành nhiệm vụ.
Điều 9. Căn cứ tuyển dụng
Việc tuyển dụng công chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí công tác và theo chỉ tiêu biên chế được giao.
Điều 10. Thông báo tuyển dụng
Chậm nhất là 30 ngày trước ngày tổ chức tuyển dụng, cơ quan có thẩm quyền quản lý công chức phải thông báo
công khai về tiêu chuẩn, điều kiện, số lượng cần tuyển trên các phương tiện thông tin đại chúng để mọi người biết
và đăng ký dự tuyển.
Điều 11. Hội đồng tuyển dụng
1. Việc tuyển dụng công chức do Hội đồng thi tuyển khi tổ chức thi tuyển và Hội đồng xét tuyển khi tổ chức xét tuyển
(sau đây gọi chung là Hội đồng tuyển dụng) thực hiện. Trường hợp số người đăng ký dự tuyển cao hơn nhiều so với
chỉ tiêu được tuyển, Hội đồng tuyển dụng có thể tổ chức sơ tuyển.
2. Hội đồng tuyển dụng do người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền quản lý công chức ra quyết định thành lập, có
05 hoặc 07 thành viên.
3. Hội đồng tuyển dụng bao gồm:
a) Chủ tịch Hội đồng là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền quản lý công
chức;
b) Phó Chủ tịch Hội đồng là người đứng đầu cơ quan tổ chức cán bộ của cơ quan có thẩm quyền quản lý công
chức;
c) Các ủy viên Hội đồng là đại diện lãnh đạo các cơ quan, tổ chức, đơn vị chuyên ngành của cơ quan có thẩm quyền
quản lý công chức;
d) Uỷ viên kiêm Thư ký Hội đồng là công chức phụ trách công tác tuyển dụng.
4. Giúp việc cho Hội đồng tuyển dụng có Ban coi thi, Ban chấm thi.
Điều 12. Nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng tuyển dụng
Hội đồng tuyển dụng làm việc theo nguyên tắc tập thể, biểu quyết theo đa số, có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1. Thông báo công khai kế hoạch tổ chức tuyển dụng; thể lệ, quy chế; tiêu chuẩn và điều kiện dự tuyển; môn thi,
hình thức, thời gian và địa điểm thi;
2. Tổ chức việc ra đề thi, thành lập Ban coi thi, Ban chấm thi;
3. Tiếp nhận và xét hồ sơ dự tuyển; tổ chức sơ tuyển (nếu có); thông báo danh sách những người đủ điều kiện và
tiêu chuẩn dự tuyển;
4. Tổ chức thi tuyển hoặc xét tuyển theo đúng quy chế; báo cáo kết quả tuyển dụng lên cơ quan có thẩm quyền để
xem xét và ra quyết định công nhận kết quả; công bố kết quả tuyển dụng;
5. Giải quyết khiếu nại, tố cáo của người dự tuyển.
Điều 13. Cách tính điểm trong kỳ thi tuyển
1. Mỗi phần thi được chấm theo thang điểm 100.
2. Người trúng tuyển trong kỳ thi tuyển là người phải thi đủ các môn thi, có số điểm của mỗi phần thi đạt từ 50 điểm
trở lên và tính từ người có tổng số điểm cao nhất cho đến hết chỉ tiêu được tuyển.
3. Người được ưu tiên tuyển dụng quy định tại Điều 7 Nghị định này, được cộng thêm điểm ưu tiên vào tổng số
điểm thi, nếu người dự thi thuộc nhiều diện ưu tiên thì chỉ được cộng một điểm ưu tiên cao nhất.
4. Trường hợp nhiều người có tổng số điểm bằng nhau ở chỉ tiêu cuối cùng được tuyển thì Hội đồng thi tuyển quyết
định tổ chức thi tiếp để chọn người có điểm cao nhất trúng tuyển.
Điều 14. Nguyên tắc xác định người trúng tuyển trong kỳ xét tuyển
Người trúng tuyển trong kỳ xét tuyển là người đủ tiêu chuẩn và điều kiện dự tuyển, được Hội đồng xét tuyển căn cứ
vào quy định tại Điều 5 và Điều 8 Nghị định này để xem xét và nhất trí đề nghị cơ quan có thẩm quyền ra quyết định
tuyển dụng.
Điều 15. Thời hạn ra quyết định tuyển dụng và nhận việc
1. Trong thời hạn chậm nhất 30 ngày, kể từ ngày công bố kết quả tuyển dụng, cơ quan có thẩm quyền quản lý công
chức ra quyết định tuyển dụng.
2. Trong thời hạn chậm nhất là 30 ngày, kể từ ngày có quyết định tuyển dụng, người được tuyển dụng phải đến cơ
quan nhận việc, trừ trường hợp quyết định tuyển dụng có quy định thời hạn khác.
3. Trường hợp người được tuyển dụng có lý do chính đáng mà không thể nhận việc đúng thời hạn thì phải làm đơn
xin gia hạn và được cơ quan sử dụng công chức đồng ý. Thời gian được gia hạn không quá 30 ngày.
4. Trường hợp người có quyết định tuyển dụng đến nhận việc chậm quá thời hạn nói trên và không có lý do chính
đáng thì cơ quan có thẩm quyền quản lý công chức ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyển dụng.
Điều 16. Tập sự
1. Người được tuyển dụng vào công chức quy định tại Nghị định này phải thực hiện chế độ tập sự.
2. Thời gian tập sự đối với các ngạch công chức được quy định như sau:
a) 12 tháng đối với ngạch chuyên viên và tương đương;
ưb) 06 tháng đối với ngạch cán sự và tương đương;
c) 03 tháng đối với ngạch nhân viên và tương đương.
3. Thời gian tập sự đối với công chức dự bị được tính trong thời gian thực hiện chế độ công chức dự bị.
4. Những người đang công tác tại các doanh nghiệp nhà nước hoặc những người quy định tại các điểm a, d, đ, g và
điểm h khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh Cán bộ, công chức khi được điều động hoặc tuyển dụng về làm việc tại các
cơ quan nhà nước quy định tại Điều 2 Nghị định này thực hiện chế độ tập sự theo hướng dẫn của Bộ Nội vụ.
Điều 17. Hướng dẫn tập sự
Cơ quan sử dụng công chức có trách nhiệm:
1. Hướng dẫn cho người tập sự nắm vững chức năng, nhiệm vụ, nội quy, quy chế của cơ quan; mối quan hệ giữa
các tổ chức trong cơ quan, với các cơ quan liên quan và tập làm các chức trách, nhiệm vụ của ngạch sẽ được bổ
nhiệm;
2. Cử một công chức cùng ngạch hoặc ngạch trên, có năng lực và kinh nghiệm về nghiệp vụ hướng dẫn người tập
sự. Mỗi công chức chỉ hướng dẫn mỗi lần một người tập sự.
Điều 18. Chế độ, chính sách đối với người tập sự và người hướng dẫn tập sự
Người tập sự và người hướng dẫn tập sự được hưởng chế độ, chính sách sau đây:
1. Trong thời gian tập sự, người tập sự được hưởng 85% bậc lương khởi điểm bậc 1 của ngạch tuyển dụng; trường
hợp người tập sự có học vị thạc sĩ phù hợp với yêu cầu tuyển dụng thì được hưởng 85% lương bậc 2 của ngạch
tuyển dụng; người tập sự có học vị tiến sĩ phù hợp với yêu cầu tuyển dụng thì được hưởng 85% lương bậc 3 của
ngạch tuyển dụng.
2. Những người sau đây trong thời gian tập sự được hưởng 100% lương và phụ cấp (nếu có) của ngạch tuyển
dụng:
a) Người được tuyển dụng làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo;
b) Người được tuyển dụng làm việc trong các ngành, nghề độc hại nguy hiểm;
c) Người được tuyển dụng là người đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, đội viên thanh niên xung phong, đội viên trí
thức trẻ tình nguyện phục vụ nông thôn, miền núi từ hai năm trở lên đã hoàn thành nhiệm vụ.
3. Công chức được cơ quan phân công hướng dẫn tập sự được hưởng phụ cấp trách nhiệm bằng 30% mức lương
tối thiểu trong thời gian hướng dẫn tập sự.
4. Thời gian tập sự không được tính vào thời gian xét nâng lương theo thâm niên.
Điều 19. Bổ nhiệm vào ngạch công chức
1. Việc bổ nhiệm vào ngạch công chức được cơ quan có thẩm quyền ra quyết định bổ nhiệm theo nguyên tắc sau
đây:
a) Làm công việc nào thì bổ nhiệm vào ngạch công chức đó;
b) Người được bổ nhiệm phải đủ tiêu chuẩn quy định của ngạch.
2. Việc bổ nhiệm vào ngạch đối với người thực hiện chế độ tập sự:
a) Khi hết thời gian tập sự, người tập sự phải làm báo cáo kết quả tập sự; người hướng dẫn tập sự phải có bản
nhận xét, đánh giá kết quả đối với người tập sự gửi cơ quan sử dụng công chức;
b) Người đứng đầu cơ quan sử dụng công chức đánh giá phẩm chất đạo đức và kết quả công việc của người tập
sự, nếu người tập sự đạt yêu cầu của ngạch tập sự thì đề nghị cơ quan có thẩm quyền quản lý công chức ra quyết
định bổ nhiệm vào ngạch công chức.
Điều 20. Huỷ bỏ quyết định tuyển dụng
1. Huỷ bỏ quyết định tuyển dụng trong các trường hợp sau đây:
a) Người tập sự không hoàn thành nhiệm vụ;
b) Người tập sự bị xử lý kỷ luật từ cảnh cáo trở lên.
2. Người đứng đầu cơ quan sử dụng công chức đề nghị cơ quan có thẩm quyền quản lý công chức ra quyết định
bằng văn bản huỷ bỏ quyết định tuyển dụng đối với các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Người tập sự bị huỷ bỏ quyết định tuyển dụng thì được cơ quan sử dụng công chức trợ cấp 01 tháng lương và
phụ cấp (nếu có) đang được hưởng và tiền tàu xe về nơi thường trú.
Chương 3:
SỬ DỤNG CÔNG CHỨC
MỤC 1: BỐ TRÍ, PHÂN CÔNG CÔNG TÁC, CHUYỂN NGẠCH, NÂNG NGẠCH
Điều 21. Bố trí, phân công công tác
1. Người đứng đầu cơ quan sử dụng công chức chịu trách nhiệm bố trí, phân công, giao nhiệm vụ cho công chức,
bảo đảm các điều kiện cần thiết để công chức thi hành nhiệm vụ, thực hiện các chế độ, chính sách đối với công
chức.
2. Khi thực hiện việc bố trí, phân công công tác cho công chức phải bảo đảm phù hợp giữa nhiệm vụ được giao với
ngạch công chức được bổ nhiệm, công chức ở ngạch nào thì bố trí công việc phù hợp với ngạch đó.
3. Công chức chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành nhiệm vụ, công vụ của mình; công chức giữ chức vụ
lãnh đạo còn phải chịu trách nhiệm về việc thi hành nhiệm vụ, công vụ của công chức thuộc quyền quản lý theo quy
định của pháp luật.
Điều 22. Chuyển ngạch
1. Công chức được phân công nhiệm vụ mới không phù hợp với ngạch công chức đang giữ thì phải chuyển ngạch
cho phù hợp với vị trí và chuyên môn nghiệp vụ được giao.
2. Công chức được chuyển ngạch phải đáp ứng đúng tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ của ngạch được chuyển và
phù hợp với cơ cấu ngạch công chức của cơ quan.
3. Cơ quan sử dụng công chức khi chuyển ngạch cho công chức phải thành lập Hội đồng kiểm tra để sát hạch về
trình độ, năng lực của công chức. Nếu công chức đáp ứng đủ tiêu chuẩn nghiệp vụ của ngạch mới, thì cơ quan sử
dụng công chức ra quyết định bổ nhiệm theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền quản lý công chức
bổ nhiệm.
4. Hội đồng kiểm tra có 05 hoặc 07 thành viên, bao gồm:
a) Chủ tịch Hội đồng là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan;
b) Phó Chủ tịch Hội đồng là người đứng đầu bộ phận tổ chức cán bộ cơ quan;
c) Các ủy viên Hội đồng là lãnh đạo bộ phận chuyên môn, một số công chức có năng lực, trình độ nghiệp vụ ở cùng
ngạch hoặc ngạch cao hơn (Chủ tịch Hội đồng phân công một trong số các Uỷ viên kiêm Thư ký Hội đồng).
5. Hội đồng kiểm tra có nhiệm vụ:
a) Xem xét các văn bằng, chứng chỉ đào tạo, bồi dưỡng theo yêu cầu của ngạch mới, văn bản đánh giá nhận xét
quá trình công tác của cơ quan cũ;
b) Phỏng vấn công chức chuyển ngạch các vấn đề về chính trị, xã hội, chuyên môn;
c) Kiểm tra công chức chuyển ngạch soạn thảo văn bản quản lý theo yêu cầu nhiệm vụ của ngạch;
d) Hội đồng kiểm tra họp đánh giá kết quả; nếu xét thấy công chức đạt yêu cầu thì đề nghị cơ quan có thẩm quyền
quản lý công chức bổ nhiệm vào ngạch.
6. Khi xét chuyển ngạch không được kết hợp nâng ngạch, nâng bậc lương.
Điều 23. Nâng ngạch, nâng bậc lương
1. Công chức có đủ tiêu chuẩn, điều kiện, vị trí công tác phù hợp với ngạch và còn ngạch trên trong cùng ngành
chuyên môn thì có thể được nâng ngạch. Việc nâng ngạch cho công chức phải thông qua kỳ thi nâng ngạch theo
quy định. Công chức lập thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ thì được xem xét để nâng ngạch.
2. Công chức có đủ tiêu chuẩn, thời hạn và còn bậc trong ngạch thì được xem xét để nâng bậc lương. Công chức
lập thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ thì được xem xét để nâng bậc lương trước thời hạn theo
quy định của Chính phủ.
3. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, công vụ nếu công chức đạt hiệu quả công tác cao và có triển vọng phát triển
thì được Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương ra quyết định nâng ngạch hoặc nâng bậc lương trước thời hạn theo phân cấp.
Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn việc nâng ngạch và nâng bậc lương trước thời hạn quy định tại Điều này.
Điều 24. Cử công chức dự thi nâng ngạch
1. Việc xét cử công chức dự thi nâng ngạch do Hội đồng sơ tuyển của cơ quan thực hiện trên cơ sở nhu cầu ngạch
công chức của cơ quan, vị trí công tác của công chức, phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực, khả năng phát triển,
kết quả hoàn thành nhiệm vụ của công chức. Thành phần Hội đồng sơ tuyển như thành phần của Hội đồng kiểm tra
khi chuyển ngạch quy định tại khoản 4 Điều 22 của Nghị định này.
2. Công chức tham gia thi nâng ngạch phải đạt tiêu chuẩn nghiệp vụ của ngạch dự thi, có đủ văn bằng, chứng chỉ
đào tạo, bồi dưỡng, đạt hệ số lương tối thiểu quy định đối với từng ngạch dự thi và các điều kiện cần thiết khác theo
quy định, đồng thời phải được cơ quan có thẩm quyền quản lý công chức cử tham gia kỳ thi.
Điều 25. Tổ chức thi nâng ngạch
Hàng năm, cơ quan có thẩm quyền quản lý công chức căn cứ vào cơ cấu ngạch công chức, xây dựng kế hoạch, chỉ
tiêu thi nâng ngạch gửi Bộ Nội vụ để thống nhất kế hoạch và chỉ tiêu dự thi.
Điều 26. Hội đồng thi nâng ngạch
1. Khi tổ chức thi nâng ngạch, cơ quan có thẩm quyền tổ chức thi phải thành lập Hội đồng thi nâng ngạch có 05 hoặc
07 thành viên, bao gồm:
a) Chủ tịch Hội đồng là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tổ chức thi nâng
ngạch;
b) Phó Chủ tịch Hội đồng là người phụ trách công tác quản lý cán bộ, công chức của cơ quan được giao quyền tổ
chức thi nâng ngạch công chức;
c) Các ủy viên Hội đồng là đại diện lãnh đạo các đơn vị chuyên ngành của cơ quan được giao quyền tổ chức thi
nâng ngạch công chức;
d) Uỷ viên kiêm Thư ký Hội đồng là người phụ trách lĩnh vực tuyển dụng và nâng ngạch của cơ quan được giao
quyền tổ chức thi nâng ngạch công chức.
2. Giúp việc Hội đồng nâng ngạch có Ban coi thi, Ban chấm thi.
Điều 27. Nhiệm vụ và quyền hạn Hội đồng thi nâng ngạch
Hội đồng thi nâng ngạch hoạt động theo nguyên tắc tập thể, biểu quyết theo đa số và có nhiệm vụ, quyền hạn sau:
1. Thông báo kế hoạch thi nâng ngạch; thể lệ, quy chế thi; tiêu chuẩn và điều kiện dự thi; hồ sơ của người dự thi;
môn thi, hình thức thi, thời gian, địa điểm;
2. Tổ chức việc ra đề thi; thành lập Ban coi thi, Ban chấm thi;
3. Tiếp nhận và xét hồ sơ dự thi; thông báo danh sách những người đủ điều kiện và tiêu chuẩn dự thi;
4. Chỉ đạo và tổ chức thi theo đúng quy chế; báo cáo kết quả thi lên cơ quan có thẩm quyền để xem xét và ra quyết
định công nhận kết quả kỳ thi;
5. Giải quyết khiếu nại, tố cáo của người dự thi.
Điều 28. Cách tính điểm và xác định trúng tuyển
1. Mỗi phần thi được chấm theo thang điểm 100.
2. Người trúng tuyển trong kỳ thi là người phải thi đủ các môn thi, có số điểm của mỗi phần thi đạt từ 55 điểm trở
lên.
Điều 29. Chứng nhận ngạch và bổ nhiệm vào ngạch công chức
1. Căn cứ vào kết quả kỳ thi, chậm nhất là 30 ngày, kể từ ngày có kết quả thi, cơ quan có thẩm quyền quản lý ngạch
công chức cấp giấy chứng nhận ngạch cho công chức đạt kết quả kỳ thi.
2. Căn cứ vào giấy chứng nhận ngạch, cơ quan có thẩm quyền quản lý công chức ra quyết định bổ nhiệm ngạch và
xếp lương cho công chức vào ngạch dự thi theo quy định.
MỤC 2: ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG
Điều 30. Đào tạo bồi dưỡng công chức
1. Cơ quan có thẩm quyền quản lý công chức có trách nhiệm xây dựng quy hoạch, kế hoạch và tổ chức việc đào
tạo, bồi dưỡng để tạo nguồn và nâng cao trình độ, năng lực của công chức.
2. Cơ quan sử dụng công chức phải tạo điều kiện để công chức được tham gia đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng
lực theo tiêu chuẩn chức danh chuyên môn nghiệp vụ của ngạch công chức và theo kế hoạch đào tạo bồi dưỡng.
MỤC 3: ĐIỀU ĐỘNG, BỔ NHIỆM CHỨC VỤ LÃNH ĐẠO, TỪ CHỨC, MIỄN NHIỆM, LUÂN CHUYỂN, BIỆT PHÁI
Điều 31. Điều động
1. Việc điều động công chức phải căn cứ vào nhu cầu công tác của cơ quan và trình độ, năng lực của công chức.
2. Khi điều động công chức sang vị trí công tác có chuyên môn nghiệp vụ khác, cơ quan sử dụng và quản lý công
chức phải đề nghị cấp có thẩm quyền quyết định chuyển ngạch công chức sang ngạch công chức tương đương phù
hợp.
3. Những cán bộ, công chức thuộc đối tượng quy định tại các điểm a, d, đ, g khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh sửa đổi,
bổ sung một số điều của Pháp lệnh Cán bộ, công chức ngày 29 tháng 4 năm 2003 nếu được cơ quan có thẩm
quyền điều động về làm việc tại các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ
trang, thì khi bổ nhiệm vào ngạch công chức phải căn cứ vào vị trí công tác và tiêu chuẩn nghiệp vụ của ngạch công
chức. Trình tự thủ tục bổ nhiệm vào ngạch thực hiện như việc chuyển ngạch quy định tại Điều 22 Nghị định này.
Điều 32. Bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo
1. Việc bổ nhiệm công chức giữ chức vụ lãnh đạo được thực hiện căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ của cơ quan, tiêu
chuẩn, điều kiện của vị trí lãnh đạo, theo thẩm quyền và trình tự thủ tục quy định về bổ nhiệm cán bộ, công chức
lãnh đạo.
2. Công chức giữ chức vụ lãnh đạo được bổ nhiệm có thời hạn, khi hết thời hạn giữ chức vụ phải được xem xét để
bổ nhiệm lại hoặc không bổ nhiệm lại.
3. Công chức được bố trí sang công tác khác hoặc được bổ nhiệm chức vụ mới thì đương nhiên thôi giữ chức vụ
đang đảm nhiệm.
Điều 33. Miễn nhiệm chức vụ lãnh đạo
Công chức giữ chức vụ lãnh đạo được cấp có thẩm quyền xem xét cho miễn nhiệm và bố trí công tác khác không
chờ hết thời hạn bổ nhiệm trong các trường hợp sau đây:
1. Do nhu cầu công tác;
2. Do sức khoẻ không bảo đảm;
3. Do không hoàn thành nhiệm vụ;
4. Do vi phạm kỷ luật nhưng chưa đến mức bị thi hành kỷ luật bằng hình thức cách chức.
Điều 34. Từ chức
1. Công chức giữ chức vụ lãnh đạo xin từ chức, phải làm đơn gửi người đứng đầu cơ quan sử dụng công chức.
Người đứng đầu cơ quan sử dụng công chức phải báo cáo cơ quan có thẩm quyền quản lý công chức xem xét,
quyết định.
2. Trong thời hạn 01 tháng, kể từ khi nhận được đơn từ chức, cơ quan có thẩm quyền quản lý công chức phải xem
xét để quyết định hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền quyết định.
3. Khi đơn từ chức chưa được chấp thuận thì công chức giữ chức vụ lãnh đạo vẫn phải tiếp tục thực hiện nhiệm vụ,
chức trách được giao.
4. Công chức giữ chức vụ lãnh đạo sau khi từ chức được bố trí công tác khác.
Điều 35. Luân chuyển
1. Việc luân chuyển công chức được thực hiện trong các trường hợp sau đây:
a) Thực hiện việc tăng cường, bổ sung cho cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự
nghiệp về số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức để bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao;
b) Thực hiện việc luân chuyển cán bộ, công chức giữa trung ương và địa phương, giữa các cơ quan, các ngành, các
lĩnh vực theo quy hoạch.
2. Cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý thuộc đối tượng quy định tại các điểm a, d, đ, g khoản 1 Điều 1
của Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Cán bộ, công chức ngày 29 tháng 4 năm 2003, được cơ
quan có thẩm quyền quyết định luân chuyển về giữ chức vụ lãnh đạo tại các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ
chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang, khi bổ nhiệm vào ngạch công chức phải căn cứ vào vị trí công tác và tiêu
chuẩn nghiệp vụ của ngạch công chức. Trình tự, thủ tục bổ nhiệm vào ngạch thực hiện như việc chuyển ngạch quy
định tại Điều 22 Nghị định này.
3. Công chức được luân chuyển về làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo ngoài việc áp dụng
các chính sách ưu đãi còn được hưởng một số chính sách khuyến khích khác theo quy định chung của Nhà nước.
Điều 36. Biệt phái
1. Căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, công vụ, cơ quan có thẩm quyền quản lý công chức cử công chức biệt phái đến
làm việc có thời hạn ở một cơ quan, tổ chức, đơn vị khác. Thời hạn cử biệt phái mỗi lần không quá ba năm.
2. Việc cử biệt phái công chức được thực hiện trong các trường hợp sau đây:
a) Do có những nhiệm vụ đột xuất, cấp bách mà chưa thể thực hiện việc điều động công chức;
b) Do có những công việc chỉ cần giải quyết trong một thời gian nhất định.
3. Công chức được cử biệt phái chịu sự phân công công tác của cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi được cử đến. Cơ
quan cử công chức biệt phái có trách nhiệm trả lương và bảo đảm các quyền lợi khác của công chức biệt phái.
4. Công chức được cử biệt phái đến vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo được hưởng các chính sách ưu
đãi theo quy định chung của Nhà nước.
MỤC 4: ĐÁNH GIÁ CÔNG CHỨC
Điều 37. Mục đích
Đánh giá công chức để làm rõ năng lực, trình độ, kết quả công tác, phẩm chất đạo đức làm căn cứ để bố trí, sử
dụng, bổ nhiệm, đề bạt, đào tạo, bồi dưỡng và thực hiện chính sách đối với công chức.
Điều 38. Căn cứ và trình tự đánh giá công chức
1. Khi đánh giá công chức, cơ quan sử dụng công chức phải căn cứ vào nhiệm vụ được phân công, kết quả hoàn
thành nhiệm vụ và phẩm chất đạo đức của công chức.
2. Việc đánh giá công chức được tổ chức hàng năm và thực hiện vào cuối năm theo trình tự sau: công chức tự nhận
xét công tác; tập thể nơi công chức làm việc tham gia góp ý và ghi phiếu phân loại; sau khi tham khảo ý kiến nhận
xét, phân loại của tập thể, người đứng đầu cơ quan đánh giá và quyết định xếp loại công chức; thông báo ý kiến
đánh giá đến từng công chức.
3. Công chức có quyền được trình bày, bảo lưu ý kiến tự đánh giá nhưng phải chấp hành ý kiến kết luận của cơ
quan có thẩm quyền.
4. Việc đánh giá công chức biệt phái do cơ quan sử dụng công chức thực hiện. Văn bản đánh giá công chức biệt
phái được gửi về cơ quan cử biệt phái để lưu vào hồ sơ công chức.
5. Tài liệu đánh giá công chức được lưu giữ trong hồ sơ công chức.
Điều 39. Đánh giá công chức lãnh đạo
Việc đánh giá công chức giữ chức vụ lãnh đạo được thực hiện theo phân cấp quản lý. Ngoài những căn cứ nêu tại
Điều 38 Nghị định này, khi đánh giá công chức lãnh đạo còn phải căn cứ vào kết quả hoạt động của cơ quan, đơn vị
và trách nhiệm của công chức giữ chức vụ lãnh đạo.
Chương 4:
QUẢN LÝ CÔNG CHỨC
Điều 40. Nội dung quản lý công chức
1. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, điều lệ, quy chế, phân cấp quản lý về công chức.
2. Lập quy hoạch, kế hoạch xây dựng và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức.
3. Quy định chức danh và tiêu chuẩn công chức.
4. Quyết định biên chế công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương; quy định định mức biên
chế hành chính thuộc ủy ban nhân dân.
5. Tổ chức thực hiện việc quản lý, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng công chức.
6. Ban hành Quy chế tuyển dụng, nâng ngạch; chế độ tập sự.
7. Đánh giá công chức.
8. Chỉ đạo, tổ chức thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật đối với
công chức.
9. Thực hiện chế độ báo cáo và thống kê công chức.
10. Thanh tra, kiểm tra việc thi hành quy định của pháp luật về công chức.
11. Chỉ đạo, tổ chức giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với công chức.
Điều 41. Nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ Nội vụ
Bộ Nội vụ là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công chức, có nhiệm vụ và quyền
hạn sau đây:
1. Xây dựng dự án luật, pháp lệnh về công chức để Chính phủ trình Quốc hội, ủy ban Thường vụ Quốc hội;
2. Xây dựng trình Chính phủ: phê duyệt quy hoạch, kế hoạch xây dựng đội ngũ công chức; đề án phân công, phân
cấp quản lý công chức và tổng biên chế hành chính nhà nước; kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức; chế
độ tiền lương và các chính sách, chế độ đãi ngộ khác đối với công chức; chế độ công chức dự bị, chế độ tập sự và
các văn bản pháp quy về quản lý công chức;
3. Xây dựng trình Chính phủ đề án về sử dụng, đánh giá, điều động, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển, khen
thưởng, kỷ luật công chức và cơ cấu ngạch công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước;
4. Xây dựng trình Chính phủ quy định định mức biên chế hành chính thuộc ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương;
5. Quyết định việc giao chỉ tiêu biên chế hành chính cho các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ theo
ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ;
6. Ban hành các quy định về chức danh, tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức; ban hành Quy chế tuyển dụng,
Quy chế nâng ngạch công chức;
7. Quản lý về số lượng, chất lượng, bổ nhiệm ngạch, xếp lương và nâng bậc lương các ngạch công chức cao cấp;
tổ chức thi nâng ngạch chuyên viên cao cấp và chuyên viên chính cho công chức; kiểm tra, giám sát các kỳ thi tuyển
và thi nâng ngạch do các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương tổ chức; cấp giấy chứng nhận ngạch chuyên viên cao cấp và ngạch công chức chuyên ngành
tương đương với ngạch chuyên viên cao cấp;
8. Quy định về lập hồ sơ, quản lý hồ sơ; số hiệu công chức; phiếu công chức; thẻ và chế độ đeo thẻ của công chức;
9. Tổ chức thống kê đội ngũ công chức trong cả nước;
10. Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của Nhà nước về công chức trong các cơ quan hành chính nhà
nước ở trung ương và địa phương;
11. Giải quyết các khiếu nại, tố cáo đối với công chức theo phân cấp và theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố
cáo.
Điều 42. Nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (sau đây gọi tắt là Bộ) có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1. Quản lý về số lượng, chất lượng, tuyển dụng, sử dụng, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, đánh giá, xếp lương và
nâng bậc lương đối với công chức từ ngạch chuyên viên chính và tương đương trở xuống;
2. Tổ chức việc tuyển dụng và đào tạo bồi dưỡng công chức do Bộ trực tiếp quản lý;
3. Tổ chức tuyển dụng, quản lý và sử dụng công chức dự bị theo quy định của pháp luật;
4. Giao chỉ tiêu biên chế đối với các cơ quan hành chính nhà nước do Bộ trực tiếp quản lý;
5. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ quản lý ngạch công chức chuyên ngành quy định tại Điều 44 Nghị định
này đối với các ngạch công chức chuyên ngành do Bộ quản lý;
6. Tổ chức thi nâng ngạch đối với các ngạch công chức tương đương ngạch chuyên viên trở xuống theo quy định;
7. Tổ chức thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ chính sách đãi ngộ khác đối với công chức thuộc Bộ;
8. Thực hiện công tác khen thưởng, kỷ luật đối với công chức hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền khen thưởng, kỷ luật
theo quy định;
9. Tổ chức thống kê và báo cáo thống kê công chức theo các quy định;
10. Hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra việc thi hành các quy định của Nhà nước đối với công chức thuộc phạm vi quản
lý của Bộ, ngành;
11. Giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với công chức theo phân cấp và theo theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố
cáo.
Điều 43. Phân công cơ quan quản lý ngạch công chức chuyên ngành
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ sau đây được phân công quản lý các ngạch công chức chuyên ngành:
1. Bộ Nội vụ quản lý các ngạch công chức chuyên ngành hành chính, cơ yếu;
2. Bộ Tài chính quản lý các ngạch công chức chuyên ngành kế toán, thuế, kiểm toán, hải quan, dự trữ;
3. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quản lý ngạch công chức chuyên ngành ngân hàng;
4. Thanh tra Nhà nước quản lý ngạch công chức chuyên ngành thanh tra;
5. Bộ Tư pháp quản lý ngạch công chức chuyên ngành tư pháp;
6. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý các ngạch công chức chuyên ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và
thuỷ lợi;
7. Bộ Bưu chính, Viễn thông quản lý ngạch công chức chuyên ngành bưu chính, viễn thông.
Điều 44. Nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ quản lý ngạch công chức chuyên ngành
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ quản lý các ngạch công chức chuyên ngành có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1. Xây dựng tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức chuyên ngành để Bộ Nội vụ thống nhất ban hành;
2. Quy định nội dung thi tuyển, thi nâng ngạch các ngạch công chức chuyên ngành;
3. Xây dựng chế độ, chính sách đối với công chức chuyên ngành để Bộ Nội vụ trình Chính phủ;
4. Quy định nội dung, chương trình, phương thức và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng công chức các ngạch công chức
chuyên ngành;
5. Tổ chức thi nâng ngạch và cấp giấy chứng nhận ngạch đối với các ngạch công chức chuyên ngành tương đương
ngạch chuyên viên chính được giao quản lý;
6. Phối hợp với Bộ Nội vụ tổ chức thi nâng ngạch đối với các ngạch công chức chuyên ngành tương đương ngạch
chuyên viên cao cấp được giao quản lý.
Điều 45. Nhiệm vụ và quyền hạn của ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) có nhiệm vụ
và quyền hạn sau đây:
1. Quản lý về số lượng, chất lượng, tuyển dụng, sử dụng, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, đánh giá, xếp lương và
nâng bậc lương đối với công chức từ ngạch chuyên viên chính và tương đương trở xuống;
2. Quyết định chỉ tiêu biên chế các cơ quan hành chính thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
3. Tổ chức việc tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng công chức theo quy định;
4. Tổ chức thi tuyển, sử dụng và quản lý công chức dự bị theo quy định;
5. Tổ chức việc thi nâng lên ngạch cán sự, chuyên viên và các ngạch tương đương khác theo quy định;
6. Tổ chức thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ chính sách đãi ngộ khác đối với công chức thuộc ủy ban nhân
dân cấp tỉnh;
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)