Thứ Năm, 27 tháng 2, 2014

Tài liệu Đề tài " Những công cụ chính sách Ngoại thương của Nhật Bản.Bài học kinh nghiệm đối với Ngoại thương Việt Nam" docx

CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG CỤ CỦA CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG
Chính sách ngoại thương là một bộ phận cấu thành quan trọng trong chính sách
đối ngoại của mỗi quốc gia. Đây là một hệ thống các nguyên tắc và các biện pháp
kinh tế, hành chính, pháp luật thích hợp mà nhà nước áp dụng để đạt được
nhữngmục tiêu xác định trong lĩnh vực ngoại thương. Bản chất của chính sách ngoại
thương thể hiện bản chất của chế độ xã hội và do chế độ xã hội quyết định, vì vậy nó
luôn được điều chỉnh một cách mềm dẻo để phù hợp với từng thời kỳ phát triển.
Mặc dù được điều chỉnh liên tục nhưng chính sách ngoại thương vẫn phải luôn luôn
đảm bảo mục tiêu : tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước mở
rộng thị trường ra nước ngoài nhằm tăng nhanh qui mô xuất khẩu, tăng khả năng
cạnh tranh trên thị trường thế giới trong khi vẫn bảo vệ được thị trường nội địa, hạn
chế được những cạnh tranh bất lợi từ bên ngoài.
Có rất nhiều hình thức và công cụ trong chính sách ngoại thương nói chung
và mỗi quốc gia sẽ tự chọn lựa cho mình một công cụ phù hợp nhất. Tuy nhiên,
trong các công cụ của chính sách ngoại thương, hầu hết các quốc gia đều chọn thuế
quan và các biện pháp phi thuế quan làm công cụ mũi nhọn. Điều này chứng tỏ rằng
thuế quan và các biện pháp phi thuế quan có những ưu thế mà những công cụ khác
khó có thể so sánh được. Đây chính là đặc điểm mà chúng ta nên nghiên cứu.
I. CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ.
Khái niệm:
Chính sách ngoại thương là một hệ thống nguyên tắc, biện pháp kinh tế, hành chính
và pháp luật liên quan đến hoạt động ngoại thương mà Nhà nước áp dụng để thực
hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của một đất nước trong một thời kỳ nhất định.
Chính sách ngoại thương là một bộ phận cấu thành của chính sách kinh tế nói chung
và chính sách kinh tế đối ngoại nói chung của Nhà nước.
Mục tiêu cơ bản của chính sách ngoại thương là hướng tới việc sử dụng và
phân bổ có hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước trong quá trình phát triển
kinh tế xã hội. Chính sách ngoại thương vùa thể hiện chính tất mở của nền kinh tế,
vừa thể hiện sự phân biệt đối xử đối với các nhà sản xuất, kinh doanh nước ngoài
theo nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi.
2.Nhiệm vụ và vai trò của chính sách ngoại thương.
Nhiệm vụ chủ yếu của chính sách Ngoại thương là tạo điều kiện thuận lợi
nhất nhất cho các doanh nghiệp mở rộng buôn bán với nước ngoài, cũng như thông
qua đàm phán quốc tế để đạt được mở rộng thị trường hợp pháp cho các doanh
nghiệp. Đồng thời chính sách ngoại thương còn phải góp phần bảo hộ hợp lý sản
xuất nội địa , hạn chế cạnh tranh bất lợi cho các doanh nghiệp trong nước.
Chính sách ngoại thương bao gồm các bộ phận cấu thành như: chính sách thị
trường, chính sách sản phẩm, chính sách thuế quan, biện pháp cấm đoán, kiểm soát
hạn chế nhập khẩu và khuyến khích xuất khẩu.
Việc ban hành các chính sách ngoại thương làm giảm bớt sự bất trắc bằng cách tạo
ra một thể chế tương đối ổn định cho công cuộc kinh doanh của doanh nghiệp, để
khi họ muốn lập một công ty, muốn bán một hàng hoá, muốn vay tiền thì hộ biết
mình phải làm gì, hoặc có thể học được cách thực thi việc đó. Doanh nhân phải biết
tôn trọng các chính sách của các nước khác, nếu họ muốn kinh doanh ở nước ngoài.
nhưng sự ổn định của các chính sách ngoại thương không phủ nhận một thực tế là
chúng luôn thay đổi. Và sự thay đổi của chính sách ngoại thương là một qúa trình tất
yếu. chính sách ngoại thương tác động đến chiều hướng phát triển của nền kinh tế,
đến công thương nghiệp thông qua ảnh hưởng của chúng đến các chi phí troa đổi và
sản xuất. Vì vậy tác động của chính sách ngoại thương đến nền kinh tế , dến chính
sự phát triển ngoại thương theo chiều hướng nào phụ thuộc vào chính sách đó có
quan tâm đến lợi ích của doanh nhân và người tiêu dùng hay không. Do đó chính
sách ngoại thương phải bắt đầu từ lợi ích của các nhà kinh doanh, của giới tiêu
dùng. Tuy nhiên các chính sách ngoại thương sẽ hận chếmột số lựa chọn của nhà
sản xuất và tiêu dùng. Đảm bảo sự hài hoà lợi ích của doanh nghiệp, của người tiêu
dùng và quốc gia trong hoạt động ngoại thương là mục tiêu quan trọnh của chính
sách ngoại thương. Tuy là bộ phận hợp thành của chính sách kinh tế nói chung của
nhà nước trong mỗi thời kỳ nhất định nhưng chính sách ngọai thương có những đặc
điểm riêng. Đó là:
+ Việc ban hành chính sách ngoại thương là công việc nội bộ của mỗi quốc gia,
phải xuất phát từ lợi ích nước mình nhưng không được gây tổn hại đến lợi ích nước
khác.
+ Chính sách ngoại thương làm cầu nối liên kết kinh tế trong nước với kinh tế thế
giới, tạo điều kiện cho một quốc gia hội nhập về kinh tế với các nền kinh tế khu vực
và quốc tế theo những bước đi có hiệu quả.
+ Chính sách ngoại thương có nhiệm vụ cân bằng cán cân thanh toán thu chi. Các
hoạt động ngoại thương không chỉ đơn thuần tác động đến sự phát triển vầ cân đối
nền kinh tế quốc dân mà còn có nhiệm vụ đặc thù là cân bằng cán cân thanh toán
quốc tế.
II CÁC CÔNG CỤ CHỦ YẾU CỦA CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG.
1. THUẾ QUAN
1.1. Khái niệm
Là loại thuế lấy vật phẩm xuất nhập qua biên giới quốc gia hay quá cảnh làm đối
tượng thu thuế, tạo thành khoản thu nhập thuế của nhà nước do hải quan thực hiện.
Một số hiệp định quốc tế đã đưa ra định nghĩa rõ ràng hơn về thuế quan là “ Thuế
thu theo tỷ suất thuế kê rõ trong biểu thuế xuất khẩu, nhập khẩu”. khái niệm này
mmột mặt tách đối tượng nghiên cứu với thuế trong nước, mặt khác tách biệt thuế
quan với các loại thuế khác thu được từ xuất khẩu, nhập khẩu như thuế chống phá
giá, thuế trả đũa các loại thuế như vậy chuyên thu với hàng nhập khẩu không gắn
với thuế quan.
1.2. Vai trò của thuế quan
Thuế là một công cụ quan trọng mà bất kỳ nhà nước nào cũng sử dụng để hoàn
thành chức năng của mình. Mục đích đánh thuế của mỗi quốc gia, ở vào các thời kỳ
khác nhau không giống nhau. Trong xã hội phong kiến, thu thuế chủ yếu là tăng thu
nhập tài chính quốc gia. Bước sang thời kỳ tư bản chủ nghĩa, thuế quan không chỉ là
nguồn thu tài chính mà còn là công cụ thực hiện chính sách ngoại thương của các
nước. Tuy nhiên, trong tất cả các nền kinh tế xã hội, thuế đều có vai trò như sau:
1.2.1. Tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước
Trong nguồn thu ngân sách của các quốc gia, thông thường gồm các khoản thu
như : thuế, phí và các khoản vay cho ngân sách chính phủ. Trong các khoản thu đó,
có thể nói rằng thuế bao giờ cũng là khoản thu chủ yếu cho ngân sách nhà nước.
Suốt thời kỳ dài của lịch sử từ sau khi thuế quan ra đời, nhìn chung mục đích thu
thuế là để cho giai cấp thống trị hoặc thu nhập tài chính quốc gia hoặc cung đình.
Sau khi kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển, do sự cạnh tranh gay gắt của thị trường,
để bảo vệ sản xuất và phát triển kinh tế của mình, các nước lợi dụng thuế quan làm
phương tiện bảo vệ bảo hộ, từ đó xuất hiện thuế quan bảo hộ nhưng thuế quan tài
chính vẫn là nguồn thu nhập tài chính của quốc gia.
Từ kinh nghiệm của các nước, có hai vấn đề có tính nguyên tắc cần chú ý trong
chính sách thuế quan để có thể tạo nguồn thu dồi dào cho ngân sách là :
+ Đối với nhà nước, thuế suất phải đem đến một năng suất thu tối đa mà lại
không gây cản trở, thậm trí còn kích thích sự phát triển kinh tế xã hội. Thuế không
được triệt tiêu thuế mà trái lại thuế phải nuôi thuế.
+ Đối với người chịu thuế, thuế suất cần phải hạ, làm sao để người chịu thuế bớt
cảm thấy gáng nặng của thuế.
1.2.2. Thuế là công cụ quản lý và điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế quốc dân
Khi kinh tế phát triển, chính phủ có thể gia tăng thuế để làm cán cân thu nhập
nghiêng về phía nhà nước, hạn chế thu nhập có thể sử dụng, tăng tích luỹ nhà nước,
tạo ra một nguồn nhất định dự phòng khi kinh tế bị suy thoái hay gặp những điều
kiện bất lợi. Nói cách khác, chính phủ sẽ giảm thuế khi nền kinh tế đang khó khăn.
Để phù hợp với chính sách của chính phủ trong từng giai đoạn, thuế được sử
dụng như một biện pháp điều chỉnh lại cơ cấu sản xuất thông qua các mức thuế suất
phân biệt đối với từng sản phẩm, dịch vụ hoặc giữa các ngành sản xuất kinh doanh
khác nhau, có chính sách ưu đãi thuế đối với một số mặt hàng, ngành hàng.
1.2.3. Bảo hộ và thúc đẩy sản xuất nội địa phát triển :
Để bảo hộ sản xuất trong nước, một trong những biện pháp hữu hiệu mà chính
phủ các nước hay sử dụng là đánh thuế cao vào hàng nhập khẩu để làm tăng giá
thành hàng hoá nhập khẩu, dẫn đến giảm mức cạnh tranh với sản phẩm trong nước.
Thuế quan bảo hộ nói chung là bảo hộ cho công nghiệp nội địa còn yếu kém và hàng
hoá mẫn cảm cạnh tranh. Tỷ lệ thuế quan bảo hộ về lý thuyết sẽ không thấp hơn
mức chênh lệch giữa giá trong nước và giá nhập khẩu. Nhưng trong thực tế thì tỷ lệ
thuế cao hay thấp còn phụ thuộc vào tình hình cung cầu cũng như điều kiện thay đổi
cung cầu gây ảnh hưởng đến giá cả hàng nhập khẩu.
1.2.4. Thực hiện phân biệt đối xử trong quan hệ thương mại :
Có thể nói, thuế quan là biện pháp hay sử dụng để thực hiện phân biệt đối xử
giữa các nước trong quan hệ thương mại. Các nước có thể thực hiện thuế ưu đãi đối
với hàng hoá nhập khẩu từ nước có thoả thuận áp dụng chính sách tối huệ quốc hoặc
những thoả thuận ưu đãi riêng và áp dụng thuế trả đũa đối với hàng hoá nhập khẩu
từ nước có thực hiện các biện pháp bán phá giá, trợ giá của chính phủ hoặc từ
những nước có sự phân biệt đối xử với hàng hoá của nước mình.
1.2.5. Góp phần điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trong phân phối:
Trong nền kinh tế tập trung, tình trạng phân cực giàu nghèo là khó có thể
tránh khỏi. Tình trạng này không chỉ nói lên mức sống bị phân biệt mà còn liên quan
đến đạo đức, công bằng xã hội. Vì vậy sự can thiệp, điều tiết của chính phủ rất quan
trọng, trong đó thuế là một công cụ hữu ích. Thông qua thuế, chính phủ có thể thực
hiện điều tiết thu nhập bằng cách đánh thuế cao đối với những công ty, cá nhân có
thu nhập cao và đánh cao vào những hàng hoá dịch vụ cao cấp mà đối tượng phục
vụ chủ yếu là tầng lớp có thu nhập cao và ngược lại.
Có thể nói thuế đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong chính sách ngoại thương
của mọi quốc gia. Trong xu hướng đưa hoạt động ngoại thương và thương mại quốc
tế vào môi trường tự do cạnh tranh, các quốc gia đều cố gắng giảm dần mức thuế
quan xuống, tiến tới xoá bỏ các rào cản thương mại. Hiệp định chung về thuế quan
và thương mại (GATT) đã đề xướng tự do thương mại, huỷ bỏ hoặc cắt giảm các rào
cản thương mại. Trong 7 vòng đàm phán (1948-1994) các thành viên GATT đã đạt
được thoả thuận giảm thuế cho 89.900 hạng mục hàng hoá. Tỷ lệ thuế quan nói
chung đã giảm đi nhiều, theo hiệp định Urugoay (kết quả của vòng đàm phán thứ 8
của GATT), mức thuế quan trung bình giảm 40%. Khi đó mức thuế nói chung ở các
nước công nghiệp phát triển còn khoảng không quá 5%, trừ hàng dệt và may mặc,
mức trung bình khoảng 10-40% chủ yếu là đối với hàng nhập khẩu từ các nước đang
phát triển. Mức thuế quan trung bình ở các nước Đông Á chỉ còn từ 5-15%, Nam Á
10-60%, Mỹ Latinh, Trung Đông, Châu Phi 10-25%.
1.3.Phân loại thuế quan:
1.3.1. Phân loại theo mục đích đánh thuế :
- Thuế tài chính (còn gọi là Thuế ngân sách) : là thuế đánh vào hàng hoá để
tăng thu cho ngân sách nhà nước.
- Thuế quan bảo hộ : là mức thuế suất cao đánh vào hàng nhập khẩu, làm cho
giá cả hàng nhập khẩu cao hơn so với giá hàng trong nước và bị suy giảm sức cạnh
tranh, tạo điều kiện phát triển sản xuất trong nước.
1.3.2. Phân loại theo đối tượng chịu thuế :
- Thuế xuất khẩu : chủ yếu đánh vào những mặt hàng mà nhà nước hạn chế
xuất khẩu ra nước ngoài. Những mặt hàng xuất khẩu này sau khi chịu thuế sẽ bị hạn
chế khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới do những bất lợi về giá cả.
- Thuế nhập khẩu : đánh vào hàng nhập khẩu, thực hiện đồng thời cả hai chức
năng về tài chính và bảo hộ.
- Thuế quá cảnh : là loại thuế đánh vào hàng hoá khi đi qua biên giới hay lãnh thổ
của một quốc gia.
1.3.3. Phân loại theo phương pháp tính thuế :
- Thuế tính theo giá : là loại thuế tính theo tỷ lệ phần trăm so với trị giá của lô hàng.
- Thuế tính theo lượng : là loại thuế tính ổn định theo số lượng hoặc trọng lượng của
lô hàng.
- Thuế hốn hợp : là loại thuế kết hợp cả tính theo giá và tính theo lượng.
1.3.4. Phân loại theo mức tính thuế :
- Thuế suất ưu đãi : áp dụng đối với hàng hoá có xuất xứ từ những nước hay những
khu vực hợp tác kinh tế trên cơ sơ ký kết các thoả thuận dành cho nhau những ưu
đãi về thuế quan.
- Mức thuế phổ thông : là mức thuế áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu từ những
nước hoặc khu vực không có thoả thuận dành cho nhau ưu đãi về thuế quan.
- Mức thuế tự vệ : là mức thuế do chính phủ quyết định áp dụng trong từng trường
hợp cụ thể. Ví dụ : khi hàng hoá nước ngoài được bán phá giá trong thị trường nước
mình hoặc hàng hoá nhập khẩu từ một nước có chính sách bảo hộ, trợ giá cho hàng
xuất khẩu.
2. CÁC BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN
2.1. Khái niệm :
Phi thuế quan là những biện pháp ngoài thuế quan làm cản trở tự do thương mại.
Trước kia các nước thường hay sử dụng biện pháp phi thuế quan với mục đích chủ
yếu là để bảo hộ sản xuất trong nước, nhưng hiện nay cùng với xu thế quốc tế hoá
ngày càng mở rộng, biện pháp này dần dần được xoá bỏ và thay thế bằng các biện
pháp thuế quan.
2.2 Vai trò của phi thuế quan :
Phi thuế quan cũng thường được sử dụng với những mục đích tương đối giống thuế
quan. Tuy nhiên, theo thời gian, đi đôi với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế
là sự phát sinh nhiều vấn đề và vai trò của phi thuế quan đã được mở rộng, gây ảnh
hưởng gián tiếp đến những quan hệ khác. Một trường hợp điển hình là nó được sử
dụng như là một trong những biện pháp hiệu quả để bảo vệ môi trường - một vấn đề
được coi là vấn đề toàn cầu hiện nay. Vấn đề này cũng ảnh hưởng đến chính sách
ngoại thương giữa các nước, đặc biệt là quan hệ giữa các nước phát triển và các
nước đang phát triển, liên quan đến việc chuyển vốn và công nghệ.
Theo nguyên tắc lợi thế so sánh, ngoại thương sẽ tạo ra lợi nhuận cho cả nước xuất
khẩu và nước nhập khẩu, nhưng đối với những nguồn tài nguyên thiên nhiên như
nước, không khí, đất đai mà mọi người nghĩ là vô tận thì không thể phản ánh được
chi phí môi trường vì chi phí để bảo vệ, làm sạch hầu như không thể hiện.
GATT thừa nhận những trường hợp ngoại lệ của việc tự do hoá ngoại thương như
đưa ra những biện pháp qui định để bảo vệ sức khoẻ con người, tài nguyên thiên
nhiên nhưng vấn đề bảo vệ môi trường cũng không được qui định một cách rõ ràng.
Trên thực tế, các nước vẫn đưa ra những biện pháp khác nhau để bảo vệ môi trường
đối với hoạt động ngoại thương, trong đó tích cực sử dụng các biện pháp phi thuế
quan như đặt ra những tiêu chuẩn về vệ sinh đối với mặt hàng lương thực thực
phẩm, tiêu chuẩn về kỹ thuật đối với mặt hàng máy móc thiết bị
2.3. Các biện pháp phi thuế quan.
2.3.1 Hạn ngạch nhập khẩu.
Hạn ngạch nhập khẩu là giới hạn về khối lượng hoặc giá trị đối với những
hàng hoá nhất định được phép mang từ nước ngoài vào trong một thời gian nhất
định, thường là một năm. Trên thực tế việc quản lý các hạn ngạch về giá trị khó thực
hiện vì thế các hạn ngạch về số lượng được áp dụng một cách phổ biến. Nhà nước
quy định hạn ngạnh nhập khẩu là để bảo hộ sản xuất trong nước, bảo vệ tài nguyên
và cải thiện cán cân thanh. toán.
2.3.2 Hạn chế xuất khẩu tự nguyện (VER).
Hạn chế xuất khẩu tự nguyện là một biến tướng của hạn chế nhập khẩu, là
thoả thuận theo đó một nước đồng ý hạn chế xuất khẩu của mình sang nước khác đối
với một mặt hàng xác định với một mức tối đa. Các thoả thuận này tự nguyện chỉ ở
mức độ nước xuất khẩu muốn tránh một mối đe dọa lớn hơn đối với ngoại thương
của mình và do đó chọn biện pháp ít thiệt hại hơn đối với ngoại thương của mình và
do đó chọn biện pháp ít thiệt hại hơn.
Nói cách khác, hạn chế xuất khẩu tự nguyện được đưa ra theo yêu cầu của
nước nhập khẩu và được nước xuất khẩu chấp nhận nhằm ngăn chặn những mối đe
dọa và những hạn chế đối với ngoại thương nước mình.
2.3.3 Giấy phép nhập khẩu.
Giấy phép nhập khẩu hàng hoá là một biện pháp quản lý nhập khẩu của Nhà
nước. Nó đòi hỏi khi nhập khẩu hàng hoá phải có giấy phép của cơ quan quản lý
Nhà nước. Trong hiệp định về thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu của WTO, giấy phép
nhập khẩu được coi là thủ tục hành chính của chế độ giấy phép nhập khẩu, yêu cầu
các nhà nhập khẩu phải đệ trình đơn hoặc các tài liệu khác cho cơ quan quản lý hành
chính có liên quan như là một số điều kiện để nhập khẩu.
Giấy phép nhập khẩu có hai loại thường gặp: Giấy phép tự động và giấy phép
không tự động. Với loại giấy phép thứ nhất: Người nhập khẩu xin phép nhập khẩu
thì cấp gay không cần đòi hỏi gì cả. Với loại giấy phép thứ hai: nmgười nhập khẩu
bị ràng buộc bởi các hạn chế nhập khẩu.
Giấy phép nhập khẩu ngày nay ít được sử dụng hơn so với trước. Mặc dù vậy,
hệ thống giấy phép này vẫn cần để quản lý nhập khẩu một số mặt hàng.
2.3.4 Chế độ hạn ngạch thuế
Chế độ hạn ngạch thuế là chế độ trong đó quy định áp dụng dụng mức thuế
thấp hơn hoặc bằng không (0%) đối với những hàng hoá được nhập khẩu theo đúng
số lượng quy định, nhằm bảo đảm cung cấp với giá hợp lý cho người tiêu dùng. Khi
hàng hoá nhập khẩu vượt quá số lượng quy định thì sẽ áp dụng mức thuế cao (thuế
lần 2) để bảo vệ các nhà sản xuất trong nước.
Chế độ hạn ngạch nhập khẩu thuế được thiết lập dựa trên quan điểm đảm bảo
hài hoà mục tiêu bảo vệ người tiêu dùng và mục tiêu bảo hộ người sản xuất nội địa.
Vì vậy, Chính phủ thường nghiên cứu kỹ càng việc áp dụng chế độ hạn ngạch thuế
đối với từng mặt hàng trên cơ sở xem xét cung cầu, thực trạng sản xuất trong nước
để đề ra mức thuế olần một, lần hai và thời hạn áp dụng nhằm thúc đẩy tự do hoá
ngoại thương.
Như vậy chế độ hạn ngạch nhập khẩu, nhà nhập khẩu chỉ được phép nhập
khẩu trong phạm vi số lượng quy định., Còn trong chế độ hạn ngạch thuế, nhà nhập
khẩu vẫn có thể nhập khẩu vượt quá số lượng quy định nhưng phải nộp thuế theo
mức thuế quy định (mức thuế lần 2) đối với phần vượt đó.
Theo quy định của GATT/ WTO, các nước thành viên không được sử dụng chế độ
hạn ngạch thuế với điều kiện không có sự phân biệt đối sử với tùng nước.
2.3.5 Các biện pháp mang tính hành chính – kỹ thuật hạn chế nhập khẩu.
Đây là nhóm biện pháp nhằm gián tiếp ngăn cản, giám sát hàng xuất, nhập
khẩu ra nước ngoài và từ nước ngoài vào. Các biện pháp hành chính kỹ thuật rất
phong phú và đa dạng. Tuỳ thuộc vào chiến lược phát triển kinh tế, mỗi quốc gia
đưa ra những biện pháp hành chính kỹ thuật khác nhau để kiểm soát hàng hoá xuất
khâủ, nhập khẩu.
CHƯƠNG II
CÁC BIỆN PHÁP THUẾ QUAN VÀ PHI THUẾ QUAN TRONG CHÍNH
SÁCH NGOẠI THƯƠNG CỦA NHẬT BẢN
Như chúng ta đã biết Nhật Bản là một quần đảo với diện tích là 372.815 km2. Mặc
dù diện tích lớn hơn diện tích nước ta (khoảng 15%), song Nhật Bản lại là một nước
nghèo tài nguyên thiên nhiên. Rừng núi chiếm 2/3 diện tích cả nước, diện tích đất
trồng trọt được chỉ chiếm 15%. Khoáng sản và các tài nguyên thiên nhiên khác hầu
như không có gì ngoài đá vôi và khí sunfua. Đối với các nguyên liệu cơ bản như
đồng, chì, kẽm, nhôm Nhật Bản đều phải phụ thuộc vào nhập khẩu từ nước ngoài.
Thêm vào đó lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề nền kinh tế đất nước. Tài nguyên
duy nhất của Nhật Bản để phục hồi kinh tế đó là con người.
Trong điều kiện khó khăn như thế, Nhật Bản đã biết phát huy lợi thế của mình để
mở rộng hoạt động thương mại quốc tế, coi ngoại thương là nhiệm vụ sống còn của
đất nước. Vì vậy, chính sách ngoại thương , cụ thể là chính sách xuất khẩu và nhập
khẩu của Chính phủ trong lĩnh vực ngoại thương hết sức quan trọng.
Trong chương này chúng ta sẽ lần lượt xem xét nghiên cứu các chính sách thuế quan
và sự phát triển của ngoại thương Nhật bản trong những năm gần đây.
I. CHÍNH SÁCH THUẾ QUAN CỦA NHẬT BẢN
1. Các loại thuế
1.1. Thuế theo giá : Là loại thuế đánh theo tỷ lệ giá hàng hoá nhập khẩu, do đó số
tiền thuế biến động theo sự thay đổi của giá hàng nhập khẩu. Trong trường hợp giá
hàng nhập khẩu thấp thì tiền thuế thấp và chức năng bảo hộ sản xuất trong nước
không rõ ràng. Bên cạnh đó, thuế theo giá cũng có nhược điểm là cơ quan tính thuế
sẽ gặp khó khăn trong việc xác định chính xác giá hàng nhập khẩu để đánh thuế.
1.2. Thuế theo lượng : Là loại thuế đánh vào hàng hoá dựa trên số lượng, dung tích,
trọng lượng hàng nhập khẩu, do đó mức thuế sẽ không phụ thuộc vào giá cả hàng
hoá nhập khẩu. Theo phương pháp này, có thể tính toán số tiền thu thuế một cách
đơn giản, nhưng khi giá hàng hoá biến động thì sẽ phát sinh sự không công bằng
trong việc chịu thuế giữa các đối tượng bị đánh thuế.
1.3. Thuế giá chênh lệch : Là loại thuế đánh vào hàng hoá dựa vào mức chêch lệch
giữa giá hàng nhập khẩu và giá tiêu chuẩn do nhà nước qui định. Áp dụng loại thuế
này sẽ không bị thất thu trong trường hợp giá hàng nhập khẩu thấp hơn mức giá tiêu
chuẩn. Hiện nay, Nhật Bản đang áp dụng loại thuế này đối với lợn, thịt lợn và các
mặt hàng chế biến từ thịt lợn.
1.4. Thuế theo mùa : Là loại thuế mà mức thuế áp dụng sẽ khác nhau tuỳ thuộc vào
từng thời kỳ nhập khẩu. Chẳng hạn, trong thời kỳ hàng hoá sản xuất trong nước
đang mùa thu hoạch thì người ta sẽ đánh thuế cao vào hàng hoá nhập khẩu có sức
cạnh tranh với hàng hoá đó để bảo hộ hàng hoá sản xuất trong nước. Nhưng khi
chuyển sang các mùa khác thì người ta lại đánh thuế thấp để có thể đáp ứng nhu cầu
của người tiêu dùng. Ở Nhật Bản thường hay áp dụng phương pháp tính thuế này
đối với các loại trái cây sản xuất trong nước có chi phí cao, không trồng được quanh
năm và rất khó cạnh tranh với các loại trái cây nhập khẩu giá rẻ như chuối, cam
1.5. Các loại thuế khác :
* Thuế lựa chọn : áp dụng đối với những hàng hoá đồng loại, số lượng lớn. Người ta
qui định cả 2 cách tính thuế theo giá và thuế theo lượng và có thể chọn một trong hai
cách tính theo số tiền thuế cao hay thấp.
* Thuế hỗn hợp : là tổng hợp cách tính thuế theo giá và thuế theo lượng, cũng áp
dụng đối với hàng hoá đồng loại số lượng lớn.
* Chế độ hạn ngạch thuế : là chế độ áp dụng mức thuế suất thấp hoặc bằng 0 khi
hàng hoá nằm trong một số lượng qui định nhưng khi số lượng vượt quá mức qui
định thì sẽ áp dụng mức thuế cao đối với phần vượt đó.
Mỗi cách tính thuế đều có ưu điểm và nhược điểm. Tuỳ thuộc vào tình hình sản xuất
trong nước, tính chất của hàng hoá mà chọn cách tính thuế phù hợp để vừa có thể
đảm bảo tiền thu thuế cao vừa thực hiện chức năng bảo hộ sản xuất trong nước mà
vẫn không ảnh hưởng nhiều đến tiêu dùng.
Biểu đồ 1: Các loại thuế

Nguồn: Nihon no kanzei, NXB Zaikeiyohosha- 1998
CIF
Thuế
Thu theo giá ế
CIF+ Thu ế
Thuế
Thu giá chênh l chế ệ
CIF+ Thu ế
CIF
Thuế
Thu theo l ng ế ượ
CIF+ Thu ế M c thu ứ ế
Thu theo ế
mùa
Th i k không ờ ỳ
v o và ụ
Th i k v o ờ ỳ à
v thu ho ch ụ ạCIF+ Thu ế
Thu l a ch nế ự ọ
Thu ế
CIF
Thu theo giáế
Thu theo ế
l ngượ
CIF + Thuế
Thu l n 1ế ầ
Ch h n ếđộ ạ
ng ch Thu l n 2ạ ế ầ
S l ng ố ượ
S l ng ố ượ
h n ng chạ ạ
Thu h n h pế ỗ ợ
CIF+ Thu ế
Thu theo ế
l ngượ
CIF
Thuế
Thu theo giáế
2. Các loại mức thuế
Nhật Bản có hai loại mức thuế quốc định qui định trong luật và mức thuế hiệp định
trong các hiệp ước.
2.1. Mức thuế quốc định:
- Mức thuế cơ bản : theo luật thuế hải quan, đây là mức thuế được áp dụng trong
thời gian dài. Số lượng mặt hàng áp dụng mức thuế này tính đến năm 1997 là 6.952
mặt hàng.
- Mức thuế tạm thời : theo luật thuế tạm thời, đây là mức thuế mang tính tạm thời
được áp dụng thay cho mức thuế cơ bản trong một thời gian nhất định trong trường
hợp khó áp dụng mức thuế cơ bản. Số lượng mặt hàng áp dụng mức thuế này tính
đến năm 1997 là 1.010 mặt hàng.
- Mức thuế ưu đãi : là mức thuế được áp dụng đối với hàng nhập khẩu từ các nước
đang phát triển và thấp hơn so với mức thuế qui định đối với hàng nhập khẩu từ các
nước phát triển.
2.2. Mức thuế hiệp định:
Là mức thuế được thoả thuận trong các hiệp định với nước ngoài, theo đó sẽ chỉ
đánh thuế thấp hơn một mức nhất định đối với một mặt hàng nào đó. Hiện nay, mức
thuế qui định trong GATT là loại mức thuế hiệp định duy nhất ở Nhật Bản. Mức
thuế hiệp định được áp dụng đối với tất cả các nước thành viên của GATT một cách
tự động. Trên thực tế, mức thuế hiệp định cũng được áp dụng đối với những nước có
thoả thuận áp dụng chính sách tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Nhật Bản.
Trong trường hợp các nước muốn sửa đổi lại mức thuế đã thoả thuận thì các nước
cần thiết phải thương lượng với nhau.
3. Chế độ thuế quan
3.1. Chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP)
Theo nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc không phân biệt đối xử, bất kỳ nước nào là
thành viên của GATT đều được hưởng mức thuế ưu đãi mà các nước thành viên
dành cho nhau. Trong những qui định của GATT có đưa ra những điều kiện như
không mở rộng số nước được hưởng ưu đãi Thế nhưng, từ sau năm 1950 dưới
sức ép mạnh mẽ của một loạt các nước Châu Á, Châu Phi mới giành được độc lập từ
tay thực dân Anh, Pháp thì cuối cùng GATT đã cho tất cả các nước đang phát
triển hưởng chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập.
Trải qua những cuộc thảo luận ở GATT, OECD, tại hội nghị của Liên Hợp Quốc về
thương mại và phát triển lần thứ 2, Nhật Bản cùng 18 nước phát triển khác đã từng
tuyên bố cho hưởng ưu đãi đã thực hiện chế độ ưu đãi thuế phổ cập
Hơn nữa, từ khoảng năm 1980, các nước phát triển còn áp dụng các biện pháp đặc
biệt về thuế quan ưu đãi đối với các nước chậm phát triển (LDC) nơi có GDP bình
quân đầu người rất thấp. Vào năm 1978, Bangladesh đại diện cho 30 nước LDC, đã
yêu cầu hãy cho các nước LDC hưởng ưu đãi và đến năm 1990 Nhật Bản đã chấp
nhận.
Bảng 1: Kim ngạch nhập khẩu áp dụng ưu đãi của các nước chủ yếu
Đơn vị tính: 1.000.000USD

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét