Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

Chiến lược kinh doanh của Trung tâm Du lịch Hà Nội

Khoá luận tốt nghiệp Chiến lược kinh doanh
người nhằm đưa hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phát triển lên một
trạng thái mới cao hơn về chất (chất lượng hoạt động kinh doanh)”.
1.1.2. Các đặc trưng của chiến lược kinh doanh
Chiến lược kinh doanh được xuất phát từ những kế hoạch và những kế
hoạch này thường được triển khai trong dài hạn.
Để một công ty làm ăn có hiệu quả, đòi hỏi công ty đó phải xác định được
cho mình những phương hướng, chính sách và những mục tiêu cụ thể cần đạt
được trong những khoảng thời gian dài. Đây có thểđược xem như những chiến
lược phát triển của công ty đó. Chính vì vậy, mỗi chiến lược kinh doanh thường
mang những đặc trưng: Mang tính định hướng, luôn tập trung các quyết định
lớn, xây dựng dựa trên các lợi thế so sánh và chủ yếu được xây dựng trong các
lĩnh vực ngành nghề kinh doanh.
+Chiến lược kinh doanh luôn mang tính định hướng. Trong khi triển khai
chiến lược thì phải kết hợp giữa mục tiêu chiến lược với mục tiêu tình thế, kết
hợp chiến lược, sách lược với kế hoạch, kết hợp giữa dài hạn với ngắn hạn.
+Chiến lược kinh doanh luôn luôn tập trung các quyết định lớn, các quyết
định quan trọng về kinh doanh, về ban lãnh đạo công ty, thậm chí về một người
đứng đầu công ty.
+Chiến lược kinh doanh được xây dựng dựa trên cơ sở các lợi thế so sánh
của công ty.
+Chiến lược kinh doanh trước hết và chủ yếu được xây dựng trong các
ngành nghề kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh, chuyên môn hoá, truyền thống và
thế mạnh của công ty.
1.1.3. Phân loại chiến lược kinh doanh
Trong thực tế có rất nhiều cách phân loại chiến lược kinh doanh khác
nhau vàđối với mỗi công ty (doanh nghiệp) thì việc lựa chọn một chiến lược
kinh doanh thích hợp và tối ưu nhất nó phải tuỳ thuộc vào nguồn lực bên trong,
bên ngoài công ty. Ngoài ra, nó còn tuỳ thuộc vào mục tiêu, phương hướng, định
Vũ Thanh Bình-DL41 Khoa DL & KS
-KTQD
Khoá luận tốt nghiệp Chiến lược kinh doanh
hướng của công ty đó. Thông thường có hai cấp chiến lược cơ bản nhất là chiến
lược cấp công ty và chiến lược cấp cơ sở kinh doanh:
*Chiến lược cấp công ty: xác định ngành hoặc các ngành kinh doanh mà doanh
nghiệp đang hoặc sẽ phải tiến hành. Do đó nó phải đề ra được hướng phát triển
cho các đơn vị kinh doanh đơn ngành giới hạn lĩnh vực hoạt động của họ trong
một ngành công nghiệp hoặc dịch vụ chính. Nó bao gồm các chiến lược: Chiến
lược tăng trưởng, chiến lược ổn định và chiến lược phù hợp.
*Chiến lược cấp cơ sở kinh doanh: cần được đưa ra đối với các đơn vị kinh
doanh đơn ngành cũng nhưđối với mỗi cơ sở trong đơn vị kinh doanh đa ngành.
Chiến lược phải làm rõ làđơn vị tham gia cạnh tranh như thế nào. Chiến lược
cấp cơ sở kinh doanh dựa trên tổ hợp các chiến lược khác nhau ở cấp bộ phận
chức năng. Nó bao gồm: Chiến lược thích ứng, chiến lược cạnh tranh.
1.1.4. Vai trò của chiến lược
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, doanh nghiệp hoạt động trong các
lĩnh vực kinh doanh khác nhau, là những đơn vị kinh doanh độc lập, tự hạch
toán, tự hưởng thụ và tự chịu trách nhiệm trước những rủi ro. Do đó, doanh
nghiệp sẽ chỉ làm những gì mà họ cho là mang lại lợi ích tối ưu nhất cho công
ty, doanh nghiệp của mình. Việc xây dựng và thực hiện chiến lược một cách
đúng đắn và phù hợp sẽ mang lại rất nhiều lợi ích cho các công ty và doanh
nghiệp hoạt động trong nền kinh tế. Vai trò của chiến lược tác động cảở tầm vĩ
mô và vi mô:
*Tầm vĩ mô: Chiến lược có thể biến một quốc gia vươn lên trở thành một
nước có nền kinh tế vững mạnh từ một nước có thể có xuất phát điểm thấp.
*Tầm vi mô: Chiến lược có vai tròđối với việc phát triển của công ty, nó
giúp cho các công ty liên doanh khai thác các lợi thế, tránh được các rủi ro, tạo
ra được khả năng cạnh tranh trên thế giới. Từđó tạo điều kiện để hội nhập có kết
quả vào nền kinh tế khu vực và trên thế giới.
Vũ Thanh Bình-DL41 Khoa DL & KS
-KTQD
Khoá luận tốt nghiệp Chiến lược kinh doanh
1. 2. PHÂNTÍCHCHIẾNLƯỢCKINHDOANHCỦADOANHNGHIỆPDULỊCH
1.2.1. Phân tích, đánh giá, dự báo về môi trường kinh doanh
1.2.1.1. Môi trường vĩ mô:Bao gồm các nhân tố kinh tế, chính trị, luật pháp, kỹ
thuật công nghệ, văn hoá-xã hội, tự nhiên. Đây là những nhân tố mà bản
thân doanhnghiệp không thể kiểm soát được, nhưng nó lại có tác động
rất lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó doanh nghiệp
cần phải có những biện pháp đúng đắn trong việc nghiên cứu, tiếp cận và
tận dụng triệt để những cơ hội của chúng.
* Các nhân tố kinh tế: Các nhân tố này có vai trò quan trọng nhất và quyết định
nhất đến môi trường kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm: Tốc độ tăng
trưởng; tỷ giá hối đoái và giá trịđồng nội tệ; tỷ lệ lạm phát, mức độ việc làm,
thất nghiệp và thu nhập; tỷ suất tiền gửi và tiên vay ngân hàng; các chính sách
kinh tế của Nhà nước.
+ Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế cóảnh hưởng rất lớn đến mức sống
của các tầng lớp dân cư. Khi nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao và tương đối
ổn định thì khi đó thu nhập trong các tầng lớp dân cư sẽ tăng, khả năng thanh
toán tăng, nhu cầu mua của toàn xã hội tăng. Do đó, môi trường kinh doanh trở
nên hấp dẫn hơn. Còn khi nền kinh tế tăng trưởng cao nó gắn với hiệu quả hoạt
động của các doanh nghiệp cao, khả năng tích tụ, tập trung vốn của các doanh
nghiệp cao, nhu cầu đầu tư sản xuất kinh doanh tăng. Do đó, môi trường kinh
doanh trở nên hấp dẫn.
+ Tỷ giá hối đoái và giá trị của đồng nội tệ: Đối với các ngành kinh tế nói
chung và ngành du lịch nói riêng thì tỷ giá hối đoái ảnh hưởng rất lớn đến hiệu
quả của hoạt động kinh doanh. Ví dụ: Cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính ở khu
vực Châu á năm 1997 đã làm cho nhiều nền kinh tế của các quốc gia trong khu
vực bị trao đảo: Malaysia, Inđônêsia, Nhật Bản, Thái Lan…Khi tỷ giá hối đoái
thay đổi thì nó sẽảnh hưởng đến giá trị của đồng tiền tại quốc gia đó: Tỷ giá hối
đoái tăng nó sẽ làm cho đồng bản tệ mất giá nhưng bù lại nó thúc đẩy phát triển
loại hình du lịch quốc tế chủđộng( Inbound) và ngược lại thì có thể phát triển
Vũ Thanh Bình-DL41 Khoa DL & KS
-KTQD
Khoá luận tốt nghiệp Chiến lược kinh doanh
loại hình du lịch quốc tế bịđộng( Outbound). Ví dụ: Trong cuộc khủng hoảng
kinh tế, tài chính năm 1997, do Thái Lan là quốc gia có nhiều điều kiện về phát
triển du lịch nên đã thu hút được một khối lượng lớn khách du lịch đến tham
quan và thu được một lượng ngoại tệ lớn cho đất nước. Bởi vì khi khủng hoảng
kinh tế thìđồng bản tệ bị mất giá vàđồng ngoại tệ tăng giá. Do đó chi phí cho
một tour du lịch rất rẻ dẫn đến thu hút được nhiều khách du lịch quốc tế. Chính
vì lý do đó màđòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải theo dõi, phân tích sự biến động
thực tế của tỷ giá.
+ Tỷ lệ lạm phát, mức độ việc làm, thất nghiệp và thu nhập trong các tầng
lớp dân cư. Lạm phát trong nền kinh tế: Nếu tốc độ lạm phát cao dẫn đến nền
kinh tế quốc dân không phát triển được. Còn nếu tốc độ lạm phát thấp dẫn đến
nền kinh tế trở nên trì trệ. Nhưng cũng không nên triệt tiêu lạm phát vì khi lạm
pháp hợp lý nó sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Tốc độ lạm phát thực tế là
nhân tố quan trọng để xác định tốc độ phát triển của nền kinh tế.
+ Tỷ suất tiền gửi và tiền vay của ngân hàng: Cần phải nắm bắt chắc nhân
tố này để từđó có những chiến lược đầu tư mở rộng công ty.
+ Các chính sách kinh tế của Nhà nước đặc biệt là các chính sách về kinh
tếđối ngoại. Các chính sách kinh tế nó bao giờ cũng có tính hai mặt, vì vậy đòi
hỏi các nhà hoạch định chính sách phải chú trọng trong việc ra quyết định.
*Nhân tố về chính trị và luật pháp: Các yếu tố thuộc về chính trị và luật pháp
cũng có tác động lớn đến mức độ thuận lợi và khó khăn của môi trường. Các
công ty hoạt động phải tuân thủ theo các quy định của Chính phủ về thuê mướn
nhân công, thuế, quảng cáo, nơi đặt công ty và bảo vệ môi trường… Những quy
định này có thể là cơ hội hoặc mối đe doạ với công ty. Ngày nay, các chiến lược
phải có kỹ năng để quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề pháp luật-chính trị, họ
cũng dành nhiều thời gian hơn cho việc gặp gỡ các viên chức Chính phủ, tham
dự vào các cuộc họp do Chính phủ bảo trợ. Các nhà chiến lược cần phải hiểu rõ
những tiến trình ra quyết định của địa phương hoặc đất nước, nơi công ty họthực
hiện các hoạt động kinh doanh. Chính trị-luật pháp làm nền tảng để hình thành
Vũ Thanh Bình-DL41 Khoa DL & KS
-KTQD
Khoá luận tốt nghiệp Chiến lược kinh doanh
các yếu tố khác của môi trường kinh doanh. Một nhà nước cóđủ hai yếu tố: Hệ
thống luật pháp hay các văn bản quy phạm pháp luật vàý thức chấp hành luật
pháp thìđược coi là Nhà nước pháp quyền. Nếu hệ thống luật pháp làđồng bộ,
đầy đủ vàổn định cộng với việc thực hiện pháp luật một cách nghiêm túc thì nó
sẽ tạo ra khuôn khổ pháp lýđể bảo đảm quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
* Nhân tố kỹ thuật-công nghệ: Ngày nay, kỹ thuật-công nghệđược coi là yếu tố
quan trọng trong cạnh tranh. Thay đổi về công nghệ có thể làm cho các sản
phẩm hiện đang sản xuất trở nên lỗi thời trong khoảng thời gian ngắn. Cũng với
thời gian đó có thể tạo ra hàng loạt sản phẩm mới. Như vậy, nóđồng thời có thể
là cơ hội cũngnhư mối đe doạ. Do sự phát triển nhanh chóng của công nghệ diễn
ra xu hướng làm ngắn lại chu kỳ sống của sản phẩm. Các công ty phải lường
trước được những thay đổi do công nghệ mới mang lại. Kỹ thuật-công nghệ
cũng tạo ra nhiều phương pháp sản xuất mới, những phương pháp này cũng sẽ là
những cơ hội hoặc đe doạ. Nhân tố này ngày càng trở nên quan trọng, ngày càng
quyết định đến môi trường kinh doanh của doanh nghiệp. Nó tác động một cách
trực tiếp và quyết định đến hai yếu tố tạo nên khả năng cạnh tranh của các sản
phẩm và dịch vụ trên thị trường đó là chất lượng và giá cả. Kỹ thuật-công
nghệđã giúp đẩy nhanh quá trình trang bị và trang bị lại cơ sở vật chất kỹ thuật
phục vụ cho kinh doanh. Vàđối với những công nghệ mới, nó tác động vào quá
trình thu thập, xử lý, lưu trữ và truyền đạt thông tin kinh tế-xã hội phục vụ cho
hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, kỹ thuật-công nghệ mới còn giúp thúc
đẩy quá trình sản xuất kinh doanh với tốc độ cao, bền vững và bảo vệ môi
trường sinh thái.
*Nhân tố văn hoá xã hội: Tất cả các công ty đều phải phân tích cá yếu tố xã hội
nhằm nhận biết các cơ hội và nguy cơ có thể xảy ra. Khi một hay nhiều yếu tố
thay đổi chúng có thể tác động đến công ty, như xu hướng nhân chủng học, sở
thích vui chơi giải trí, chuẩn mực đạo đức xã hội, vấn đề lao động nữ. Các yếu
tốxã hội thường xuyên biến đổi hoặc tiến triển chậm nên đôi khi thường khó
Vũ Thanh Bình-DL41 Khoa DL & KS
-KTQD
Khoá luận tốt nghiệp Chiến lược kinh doanh
nhận biết. Cùng với sự phát triển kinh tế, sự biến động về các yếu tố xã hội ngày
càng có tác động mạnh hơn đến sự hoạt động của công ty. Nhân tố này tác động
vào môi trường kinh doanh một cách chậm chạp, nhưng khi nóđã tác động thì rất
mạnh mẽ. Trong du lịch nền văn hoá của mỗi một dân tộc và quốc gia là nhân tố
quan trọng tạo nên động cơđi du lịch của người bản sứđặc biệt với người nước
ngoài. Nhóm các yếu tố văn hoá có thể chia ra làm 2 nhóm nhỏ sau:
- Nhóm thứ nhất: Bao gồm các phong tục, lối sống thói quen tiêu dùng, kết
cấu dân cư, trình độ dân trí, tôn giáo, tín ngưỡng. Các nhân tố này cóảnh hưởng
sâu sắc đến môi trường kinh doanh.
- Nhóm thứ hai: Bao gồm các di tích lịch sử văn hóa như những làng nghề
truyền thống, những lễ hội dân gian…Những nhân tố này chiếm giữ một vai trò
ngày càng cao trong phát triển hoạt động kinh doanh du lịch.
Việt Nam có một nền văn hoá phong phúđa dạng đậm đà bản sắc dân tộc
với nhiều di tích văn hoá lịch sử như cốđô Huế, thánh địa Mỹ Sơn, phố cổ Hội
An, văn hoá cồng chiêng Hoà Bình, Văn Miếu Quốc Tử Giám, lễ hội dân gian…
Tất cả tạo nên một thế mạnh đáng kể trong việc phát triển du lịch ở Việt Nam.
*Nhân tố tự nhiên: Có thể tạo ra các thuận lợi hoặc khó khăn ban đầu cho việc
phát triển kinh doanh của một doanh nghiệp, một ngành, một địa phương hay
một quốc gia. Nó bao gồm các nhân tố: Các điều kiện tự nhiên, khí hậu, thời tiết,
mưa nắng, tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản…là yếu tốđầu tiên hết sức quan
trọng cho phát triển kinh doanh.
1.2.1.2. Phân tích môi trường cạnh tranh nội bộ ngành du lịch
*Du khách: Giữ vị trí trung tâm trên thị trường là bộ ba chiến lược: khách
hàng, công ty vàđối thủ cạnh tranh.
Vũ Thanh Bình-DL41 Khoa DL & KS
-KTQD
Khách hàng
Công tyĐối thủ
cạnh tranh
Khoá luận tốt nghiệp Chiến lược kinh doanh
Việc nghiên cứu du khách phải được tiến hành toàn diện từ yêu cầu, đòi
hỏi quy mô và cơ cấu của nhu cầu du khách, các nhân tố tác động đến sự biến
đổi cầu du lịch. Đặc biệt là thói quen, sở thích của đối tượng khách.
* Số lượng các doanh nghiệp du lịch hiện có trong ngành và các doanh nghiệp du
lịch tiềm ẩn: Số lượng các doanh nghiệp du lịch trong ngành và quy mô hoạt
động sản xuất kinh doanh của chúng là yếu tố quan trọng để xác định sức cung
hay khả năng cung ứng các sản phẩm, dịch vụ nội bộ ngành từđó sẽ góp phần
thiết lập quan hệ cung cầu nội bộ ngành và thông qua việc nghiên cứu sự biến
động của quan hệ cung cầu mà tiến hành 2 việc cơ bản. Một là: Xác lập vàđiều
chỉnh các mục tiêukinh doanh. Và hai là: Thiết lập các chính sách và giải pháp
để thực hiện hoạt động kinh doanh. Số lượng các doanh nghiệp du lịch trong
ngành và cơ cấu cũng như quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh của chúng là
những nhân tố trực tiếp ảnh hưởng đến mức độ cạnh tranh trong nội bộ ngành.
*Số lượng các doanh nghiệp cung cấp các yếu tốđầu vào phục vụ cho hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp du lịch: Mức độ phát triển của doanh nghiệp cung
cấp các yếu tốđầu vào là biểu hiện của mức độ phát triển thị trường đầu vào của
doanh nghiệp từđó nó sẽảnh hưởng đến mức độđồng bộ của các loại thị trường
trong nước, khu vực cũng như quốc tế. Số lượng và quy mô của đơn vị cung ứng
đầu vào sẽảnh hưởng trực tiếp đến khả năng lựa chọn tối ưu các yếu tốđầu vào.
Số lượng và quy mô của đơn vị cung ứng đầu vào sẽảnh hưởng trực tiếp đến khả
năng lựa chọn tối ưu các yếu tốđầu vào.
*Sự phát triển của các sản phẩm và dịch vụ thay thế: Hai loại sản phẩm: Sản
phẩm của các ngành khác, sản phẩm và dịch vụ ngành Du lịch thay thế lẫn nhau.
Sản phẩm và dịch vụ thay thế ra đời nhanh chóng là một tất yếu khách quan
nhằm đáp ứng sự biến động mau lẹ của nhu cầu thị trường theo hướng ngày
càng đa dạng, phong phú và cao cấp hơn.
*Sự phát triển của hoạt động môi giới: Môi giới hay hoạt động môi giới về thực
chất là chiếc cầu nối giữa người sản xuất và tiêu dùng, giữa sản xuất với thị
trường. Do đó môi giới càng phát triển bao nhiêu thì càng làm cho thị trường
Vũ Thanh Bình-DL41 Khoa DL & KS
-KTQD
Khoá luận tốt nghiệp Chiến lược kinh doanh
thông suốt bấy nhiêu, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh doanh. Trong kinh tế thị
trường môi giới được thừa nhận là một nghề, nó thâm nhập vào tất cả các lĩnh
vực kinh doanh, vào đời sống xã hội. Vấn đề là phải tạo ra môi trường pháp lý
cho hoạt động môi giới phát triển.
1.2.2. Phân tích thực trạng nội bộ doanh nghiệp
Đây chính là việc phân tích những điểm mạnh vàđiểm yếu trong nội bộ
doanh nghiệp trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh. Không doanh nghiệp nào
mạnh hay yếu đều nhau về mọi mặt. Những điểm mạnh, điểm yếu, cùng với
những cơ hội và nguy cơ từ bên ngoài là những điểm cơ bản mà doanh nghiệp
cần quan tâm khi xây dựng chiến lược. Chiến lược được xây dựng dựa trên việc
tận dụng những điểmmạnh và khắc phục những điểm yếu trong hoạt động của
doanh nghiệp. Xác định điểm mạnh hay điểm yếu là dựa trên sự so sánh với các
công ty khác trong ngành và dựa vào kết quả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp. Các doanh nghiệp cần xác định được thế mạnh của mình đểđưa ra được
quyết định về việc sử dụng năng lực và khả năng của mình. Việc xác định điểm
mạnh vàđiểm yếu của doanh nghiệp diễn ra trong các hoạt động: Phân tích tài
chính, phân tích nguồn nhân lực và phân tích cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp.
1.2.2.1. Thực trạng tài chính của doanh nghiệp:Để tiến hành các hoạt động sản
xuất kinh doanh, đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có những nguồn vốn nhất định,
cần thiết phục vụ cho quá trình từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ sản phẩm.
Nguồn vốn này có thể là nguồn vốn chủ sở hữu, tức là vốn tự có của doanh
nghiệp. Ngoài ra, doanh nghiệp còn có thể huy động các nguồn vỗn khác từ bên
ngoài, nguồn vốn đó có thể là vay ngân hàng, nguồn vốn huy động từ các
chủđầu tư, các đối tác… Trong quá trình phân tích cần thực hiện các công việc
như phân tích số lượng, cơ cấu của vốn sản xuất kinh doanh hiện có. Khả năng
huy động từ các nguồn vốn khác nhau, khả năng tài trợ. Phân tích hiệu quả tài
chính của hoạt động sản xuất kinh doanh. Vàđánh giá thực trạng của việc giải
quyết các mối quan hệ tài chính doanh nghiệp.
Vũ Thanh Bình-DL41 Khoa DL & KS
-KTQD
Khoá luận tốt nghiệp Chiến lược kinh doanh
1.2.2.2. Thực trạng nguồn nhân lực của doanh nghiệp: Nguồn nhân lực của
doanh nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện chiến lược.
Nếu không có những con người có khả năng ở những vị trí thích hợp, chiến lược
tuy được xác định đúng thì cũng khó thành công tốt đẹp. Vì vậy, việc quản trị
nguồn nhân lực có tầm quan trọng rất lớn đến mọi hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp. Đểđánh giáđúng thực trạng nguồn nhân lực hiện tại trong doanh
nghiệp như thế nào, cần tiến hành các công việc: Xác định số lượng lao động
hiện tại, trình độ bình quân của các đối tượng lao động. Cơ cấu lao động theo
giới tính, độ tuổi, trình độ…Dựđoán về nguồn nhân lực mà doanh nghiệp có nhu
cầu trong tương lai và các nguồn tài trợ, các điều kiện cho đào tạo, bồi dưỡng
nguồn nhân lực.
1.2.2.3. Thực trạng cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp: Xác định thực trạng cơ
cấu tổ chức hiện tại của doanh nghiệp. Xác định các bất hợp lý và các vấn đề
cần đượcnghiên cứu. Khả năng linh hoạt của yếu tố cơ cấu trước những biến
động nhanh chóng của môi trường và hoạt động kinh doanh.
1.3.
XÁCĐỊNHMỤCTIÊUVÀXÂYDỰNGCHIẾNLƯỢCKINHDOANHCỦ
ADOANHNGHIỆPDULỊCH
1.3.1. Mục tiêu của doanh nghiệp du lịch
Thông thường về mặt thời gian, doanh nghiệp có hai loại mục tiêu: ngắn
hạn và dài hạn. Việc xác định khoảng thời gian cho ngắn hạn, dài hạn phụ thuộc
vào loại hình doanh nghiệp vàđặc điểm cụ thể của sản phẩm. Mục tiêu ngắn hạn
thường trong phạm vi một năm, có khi chỉ là một mùa vụ. Mục tiêu dài hạn phụ
thuộc vào khoảng thời gian cần thiết để thực hiện một quyết định cụ thể.
Doanh nghiệp thường theo đuổi nhiều mục tiêu, trong đó có những mục
tiêu chính: Lợi nhuận, sự tăng trưởng và thoả mãn nhu cầu của khách hàng.
Vũ Thanh Bình-DL41 Khoa DL & KS
-KTQD
Khoá luận tốt nghiệp Chiến lược kinh doanh
Xác định mục tiêu còn để chỉđạo các giai đoạn tiếp theo của quá trình
chiến lược, là căn cứđể kiểm tra hiệu chỉnh chiến lược.
1.3.2. Xây dựng chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp du lịch
Mỗi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường đều
nhằm thoả mãn mục tiêu lợi nhuận. Đểđạt được kết quả kinh doanh nhưý muốn
thìđòi hỏi doanh nghiệp phải xây dựng cho mình những chiến lược kinh doanh
hợp lý, phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp và môi trường kinh doanh.
Trước khi xây dựng một chiến lược kinh doanh thì doanh nghiệp cần phải tiến
hành nghiên cứu thị trường, bao gồm các bước: Nghiên cứu nhu cầu, nghiên cứu
sự cạnh tranh, nghiên cứu về sản phẩm và nghiên cứu về quảng cáo.
1.3.2.1. Nghiên cứu thị trường du lịch
* Nghiên cứu nhu cầu du lịch: Trước khi xây dựng một chương trình du lịch, ta
phải tiến hành nghiên cứu xem hiện nay nhu cầu của thị trường thích loại sản
phẩm du lịch như thế nào. Khi đó, ta sẽ chủ yếu nghiên cứu, quan tâm đến tìm
hiểu nơi chốn, quy mô và những đặc tính khác nhau của thị trường hiện tại và
tương lai: Xác định nguồn nhu cầu, lượng của từng nguồn, phần tham gia của
doanh nghiệp trong việcthoả mãn nhu cầu và phán đoán khuynh hướng phát
triển của nhu cầu trước mắt và lâu dài.
*Nghiên cứu sự cạnh tranh: Theo từđiển kinh tế của Nhà Xuất Bản Sự Thật Hà
Nội năm 1979 trang 48 thì “Cạnh tranh chính là cuộc đấu tranh giữa người sản
xuất hàng hoá tư nhân nhằm giành điều kiện sản xuất và tiêu thụ có lợi hơn.”
Hoặc “Cạnh tranh là cuộc đấu tranh diễn ra nhằm giành thị trường tiêu thụ,
nguồn nguyên liệu, khu vực đầu tư có lợi nhằm giành địa vị thống trị trong một
ngành sản xuất nào đó, trong nền kinh tếđất nước hoặc trong hệ thống kinh tế thế
giới.”
Từ những định nghĩa trên về cạnh tranh ta có thểđưa ra một định nghĩa về
cạnh tranh của các công ty lữ hành như sau: Cạnh tranh của các công ty lữ hành
là khả năng mà mỗi công ty lữ hành muốn đạt được nhằm mục đích thu hút
Vũ Thanh Bình-DL41 Khoa DL & KS
-KTQD

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét