Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Tìm hiểu một số kiểu câu liên quan đến tồn tại trong tiếng Việt - từ góc độ ngữ nghĩa và ngữ dụng học

5
hoạt động của phát ngơn như các thủ pháp thực nghiệm trong phân tích ngữ
cảnh: mở rộng ngữ cảnh; thay thế thêm bớt các yếu tố v.v. sẽ được sử dụng kèm
theo trong q trình phân tích.
Ngồi việc sử dụng các phương pháp phân tích trên, trong khố luận này
chúng tơi cũng tiến hành sử dụng các phương pháp xây dựng mơ hình ngun
mẫu, phương pháp so sánh đối chiếu (cụ thể ở đây là so sánh các kiểu câu với
câu tồn tại ngun mẫu, và so sánh mức độ tồn tại giữa các kiểu câu với nhau… ).
Trong bài khố luận này, chúng tơi cũng sử dụng một vài ký hiệu thường
dùng trong ngơn ngữ học, được qui ước như sau:
Dấu sao đi kèm các ví dụ:
(*) Ví dụ bất thường.
(**) Ví dụ trích dẫn theo nguồn tư liệu của thầy giáo hướng dẫn.
Dấu (?) đặt trước các ví dụ:
(?): ví dụ đáng hồi nghi.
(??): Ví dụ rất đáng hồi nghi
4. Kết cấu của khóa luận
Ngồi phần mở đầu và phần kết luận, khố luận gồm hai chương với
những nội dung chính sau:
Chương I: Mối quan hệ của các kiểu câu được xét với đặc tính tồn tại và
câu tồn tại điển hình (ngun mẫu).
Nhiệm vụ của chương này là tổng kết một số quan niệm xung quanh vấn
đề về câu tồn tại, đưa ra quan niệm về câu tồn tại ngun mẫu. Từ đó đối chiếu,
so sánh với các đặc điểm của các kiểu câu được xét trong khố luận về đặc tính
“tồn tại” của chúng. Cuối cùng đưa ra bảng tổng kết về mức độ gần xa các kiểu
câu so với mơ hình ngun mẫu.
Chương II: Miêu tả các đặc trưng ngữ nghĩa –ngữ dụng ba kiểu câu
ngồi phạm vi câu tồn tại điển hình.
Như đầu đề đã nói, nhiệm vụ của chương này là lần lượt miêu tả, phân
tích một cách cụ thể ba kiểu câu đã được giới thiệu trong phần đầu khóa luận về
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6
các mặt ngữ nghĩa và ngữ dụng. Các mặt đó tồn tại song song trong các kiểu câu
và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
7
CHƯƠNG I
MỐI QUAN HỆ CỦA CÁC KIỂU CÂU ĐƯỢC XÉT VỚI ĐẶC TÍNH
TỒN TẠI VÀ CÂU TỒN TẠI ĐIỂN HÌNH <NGUN MẪU>

1. Vài giới hạn chung
Trong chương này, chúng tơi sẽ lần lượt tìm hiểu các vấn đề chính sau đây :
- Thứ nhất, mối quan hệ với tồn tại là một trong những bình diện ngữ
nghĩa và chức năng quan trọng của đối tượng mà chúng tơi khảo sát. Do đó,
trước hết trên cơ sở phác ra những nét cơ bản về tình hình nghiên cứu và những
vấn đề còn chưa được thống nhất, chung tơi sẽ lựa chọn cho mình một quan
niệm, một hướng triển khai các vấn đề tiếp theo.
- Thứ hai, từ những tiền đề chung đẵ được xác lập, chúng tơi sẽ tách
riêng ra những câu kiểu: Trên bàn có một lọ hoa, vốn được sự thừa nhận rộng rãi
la câu tồn tại điển hình để xem xét, xác lập những đặc điểm cơ bản của nó, gọi là
đặc trưng ngun mẫu. (khái niệm ngun mẫu sẽ được chúng tơi giải thích sau
trong tiểu mục liên quan trực tiếp).
- Thứ ba, xem xét so sánh ba kiểu câu còn lại tức là những câu kiểu: (Từ
đằng xa tiến lại một người con gái; Dưới suối lững lờ mấy con cá nhỏ; Ngã bố,
con!) với kiểu câu tồn tại điển hình, ngun mẫu
- Thứ tư, chính sự so sánh đó sẽ làm lộ rõ những nét chung, riêng giữa
các kiểu câu này và câu tồn tại điển hình trên các mặt, đặc biêt là các khía cạnh:
đặc tính của các thành phần tham gia vào cấu trúc (vị từ, thơng tin ngữ nghĩa cảu
vị từ; đặc trưng chung nhất của câu, khả năng dẫn nhập đối tượng vào thế giới
diễn ngơn… ). Chính qua đó, cho chúng ta thấy mức độ gần xa của các kiểu câu
này với câu tồn tại điển hình.
2. Ý niệm về tồn tại và sự phản ánh của nó vào ngơn ngữ
Như ta đã biết, ý niệm về sự tồn tại của đối tượng và sự phản ánh của nó
vào ngơn ngữ là một vấn đề đã được quan tâm tới từ lâu cả trong logic-triết học
lẫn trong ngơn ngữ học. Sở dĩ như vậy là do ý nghĩa đặc biệt của nó, do mối
quan hệ đa dạng của nó với hàng loạt sự kiện ngơn ngữ. Chẳng hạn sơ bộ có thể
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8
nhắc tới các hiện tượng ngơn ngữ sau đây liên quan chặt chẽ với ý niệm về sự
tồn tại của sự vật trong thế giới.
a) Tồn tại, trước hết liên quan đến các biểu thức quy chiếu, bởi vì, để nói
một điều gì đó về đối tượng, để sử dụng những biểu thức chỉ ra đối tượng, người
ta phải coi sự tồn tại của đối tượng đó như là một tiền đề có trước của thơng báo.
Thuật ngữ “quy chiếu” (reference) được các nhà ngơn ngữ học dùng để
chỉ ra mối quan hệ giữa các yếu tố ngơn ngữ với các sự vật, biến cố hành động
và tính chất chúng thay thế. Quy chiếu cũng là dấu hiệu đầu tiên thể hiện quan
hệ giữa hồn cảnh giao tiếp với diễn ngơn. “Sự quy chiếu nhất thiết phải dựa
trên tiền đề về sự “tồn tại” phát sinh từ những kinh nghiệm trực tiếp của ta về
các đối tượng trong thế giới vật chất. Nói rằng một từ cụ thể ( hay một đơn vị
khác có nghĩa ) “quy chiếu một đối tượng ” túc là nói rằng cái quy chiếu của nó
là một đối tương “ tồn tại ” ( có thực ) theo từ một nghĩa như khi ta nói rằng
những con người, động vật và đồ vật cụ thể “ tồn tại ”, và cũng nói rằng trên
ngun tắc có thể đưa ra một miêu tả về các đặc tính vật chất của các đối tượng
đang xét ”. [ JOHNLYONS, nhập mơn ngơn ngữ học lý thuyết, NXB GD,
1996,tr 667].
Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn ( Dụng học Việt ngữ) cũng “coi khái niệm
“ tồn tại vật chất” là cơ sở để định nghĩa mối quan hệ ngữ nghĩa của quy chiếu.
Sự tồn tại là tiền đề của quy chiếu ” [ Nguyễn Thiện Giáp, Dụng học Việt ngữ,
NXB ĐHQG Hà Nội, 2000, tr 27]
b) Tồn tại cũng gắn liền với mặt ngữ nghĩa, chức năng của lượng từ trong
ngơn ngữ, thường được xem như là những đương lượng của lượng từ tồn tại
trong logic, mặc dù khơng phải là hồn tồn đồng nhất, gắn liền với các chỉ tố
đánh dấu tính xác định, bất định.
Các lượng từ ( một, một vài, một số …) hiện thực hố cái hình ảnh về
mức độ tồn tại của đối tượng là bao nhiêu, nhiều hay ít và có thể tính đếm được
hay khơng.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
9
Lượng từ, vì vậy, cũng đóng một vai trò quan trọng, góp phần giới hạn
phạm vi tồn tại của đối tượng trong phát ngơn làm hình thành những câu phân
biệt với nhau về hiệu lực chân thực.
c) Cuối cùng, tồn tại còn gắn liền với những kiểu câu riêng, vị từ riêng.
Mà trong ngơn ngữ học thường được tách ra như một kiểu câu, một kiểu vị từ có
những đặc trưng riêng biệt. Gắn liền với nó là những dạng câu lân cận, tạo ra
một bảng màu đa sắc của tồn tại, mặc dù ý kiến về chúng của các nhà khoa học
chưa thật thống nhất.
Như vậy, ta có thể thấy được một số điểm sau:
a) Đối tương mà chúng tơi khảo sát ở đây chính là một bộ phận nằm trong
một vấn đề rộng lớn, phức tạp hơn liên quan tới các khía cạnh khác nhau của
ngữ nghĩa, cú pháp, các bình diện chức năng khác nhau của nhiều hiện tượng
ngơn ngữ.
b) Việc khảo sát câu có liên quan đến tồn tại, khơng thể khơng chú ý tới
các cấp độ mà ở đó, sự tồn tại được phản ánh vào ngơn ngữ. Điều này sẽ rất có ý
nghĩa đối với các phần sau của khố luận. Nó cũng cho ta thấy rằng, chẳng hạn,
vì sao khi Rutxen phân tích câu “Ơng vua hiện nay của nước Pháp hói trán”
thành hai mệnh đề đẳng lập nhau ( Có một ơng vua ở nước Pháp hiện nay; Ơng
vua nước Pháp hói trán ). Trong đó có một mệnh đề tồn tại lại khơng được giới
nghiên cứu đồng tình. Cũng như vậy, điều lưu ý ở đây góp phần giải thích vì sao
khó có thể phủ nhận những câu có phần đề khơng xác định trong tiếng Việt bằng
cách coi những câu như vậy là sự hội nhập của hai câu. Trong đó, có một câu là
câu tồn tại.
3. Vài nét về tình hình nghiên cứu, những vấn đề và hệ luận
Câu tồn tại, trong các tài liệu nghiên cứu khác nhau, thường được định
nghĩa như là kiểu câu xác nhận (phủ nhận) sự tồn tại của người, vật, dối tượng
(kẻ tồn tại) trong một phạm vi nào đó. Vấn đề tưởng như đơn giản và hồn tồn
sáng rõ. Tuy nhiên, khi đi vào xử lý các sự kiện ngơn ngữ cụ thể thì tình hình lộ
ra lại hết sức phức tạp. Trên cơ sở những hiểu biết và tham khảo còn rất hạn chế
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
10
của chúng tơi, cũng có thể nhận thấy những nét cơ bản, đáng lưu ý sẽ được trình
bày lần lựot dưới đây.
- Thứ nhất, giữa các tác giả khác nhau, kì thực khơng có một quan niệm
hồn tồn thống nhất về câu tồn tại. Kết quả là, đi theo hướng quan niệm rộng,
sẽ có nội dung quan niệm ít nhiều khác biệt với quan niệm hẹp, chú ý nhiều đến
chức năng mà một kiểu câu có thể thực hiện được trong bối cảnh cụ thể thì kết
quả sẽ khác so với khi xem xét vấn đề trong một tổng thể và có sự phân biệt
giữa cái có trong ngữ cảnh, với cái như là đặc tính ngữ nghĩa chức năng ổn định
của kiểu câu, quy định vị trí của kiểu câu ấy trong ngơn ngữ. Xem xét tất cả các
câu trong một mơ hình cú pháp hình thức trừu tượng sẽ khác với việc nghiên
cưú các câu cần xem xét trong những mơ hình riêng.
Theo một quan niệm rộng nhất có thể thấy ở nhiều nhà nghiên cứu thì
khn hình chun dụng của câu tồn tại là :
Thể từ vị trí + vị từ + thể từ
Vị từ trong câu tồn tại có thể là :
Các từ chun dụng biểu thị ý nghĩa tồn tại như : có, còn …
Các từ chỉ lượng : nhiều, ít, đơng, đầy …
Các từ tượng thanh hay tượng hình : lấp lánh, chồm chỗm, lù lù, lủng
lẳng, lừng lững …
Một số động từ chỉ hoạt động có tính chất hoạt động thoả mãn các điều
kiện sau đây :
d1 : Những động từ này phải là những động từ chứa sẵn mối liên hệ tham
chiếu với các biến khơng gian trong nội dung ý nghĩa của nó.
d2 : Những động từ này phải là những động từ lưu kết quả.
Vì đó là cơ sở cần thiết để tạo ra ý nghĩa về trạng thái tĩnh tại.
[DT:Nguyễn Minh Thuyết – Nguyễn Văn Hiệp, Thành Phần câu tiếng
Việt, NXB ĐHQG Hà Nội, 1998, tr: 308].
Theo quan niệm đó, ta thấy phạm vi câu tồn tại được nói đến khơng chỉ là
những câu kiểu :
(1)Trên bàn có một lọ hoa.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
11
mà còn bao hàm hàng loạt các kiểu câu khác, ít nhất và phổ biến nhất là:
(2) Từ đằng xa, tiến lại một người con gái.
Đơng người q! Nhiều muỗi ghê!
Sừng sững một dải núi.
Cháy nhà!
Trên tường treo một bức tranh.
Trên gác bếp lủng lẳng những bắp ngơ đã ám màu khói.
Trong khi đó, một số tác giả khác lại quan niệm hẹp hơn nhiều.
- Từ đó dẫn đến điểm thứ hai đáng lưu ý là cùng một kiểu câu, mà tác
giả này coi là câu tồn tại song tác giả khác llại khơng xếp vào phạm vi câu tồn
tại. Chẳng hạn những câu kiểu như :
1.Từ đằng xa tiến lại một người con gái.
2.Trên tường treo một bức tranh.
3.Dưới làn nước trong veo, lơ lửng bơi những chú cá nhỏ.
đã được nhiều nhà nghiên cứu xếp vào câu tồn tại. Song Trần Ngọc Thêm
lại loại nó ra khỏi phạm vi đó.
Còn những kiểu câu khác như :
Đừng nghịch ! Cháy nhà giờ
Rách áo tao!
Chạy hết cá của tao giờ !
Ngã bố, con !
Được Panfilov xếp vào phạm vi câu tồn tại và nếu xét trong mối quan hệ
của nó với các câu kiểu như:
Nhà cháy
tao rách
Bố ngã
Thì chúng ta sẽ có một phép cải biến tồn tại. Điều đó có nghĩa là : những
câu như: nhà cháy, áo tao rách được xem như là những câu gốc từ đó sản sinh ra
những câu có trật tự đảo tương ứng, còn những câu có trật tự đảo tương ứng là
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12
kết quả của một phép cải biến, gọi là phép đảo –tồn tại. Có thể hình dung qua sơ
đồ sau:
Nhà cháy đảo trí tồn tại Cháy nhà.
[ DT: Lê Đơng, ghi chép về những vấn đề ngữ nghĩa –cú pháp, tr:15]
Trong khi đó, Nguyễn Tài Cẩn và các đồng tác giả lại xem những câu như
vậy là loại câu cảm thán có mơ hình trật tự đảo. Các tác giả này viết :
“trật tự đảo có thể có ở một kiểu câu cảm thán. Kiểu câu này thường có ý
nghĩa ngăn chặn hay đánh giá : rách áo, ngã bố, bẩn vở… ”
[DT: Lê Đơng, ghi chép về những vấn đề ngữ nghĩa – cú pháp,tr:17]
- Cuối cùng, có một tình hình cũng khơng thể khơng lưu ý đến là các tiêu
chuẩn sắp xếp, xây dựng mơ hình và đi đến liền theo đó là nội dung quan niệm,
cấp độ xem xét ở các tác giả cũng khác nhau.
Lý Tồn Thắng xem xét các kiểu câu đang quan tâm ở đây xuất phát từ
mơ hình chung, khái qt hai thành phần mà ơng gọi là kiểu câu “P-N” trong
tiếng Việt và tìm hiểu đặc tính ngữ nghĩa tồn tại chung cho cả mơ hình câu khái
qt đó. Ơng đưa ra nhận xét :
Kiểu câu “P-N” trong tiếng Việt cũng như trong nhiều ngơn ngữ đơn lập
khác, có một đặc điểm được nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận là : thành phần N
sau P chứa nhiều nét đặc trưng cho cả chủ ngữ lẫn bổ ngữ. Trong tiếng Việt
cũng như nhiều ngơn ngữ khác chun dùng để biểu thị một ngữ nghĩa chung là
:“chủ thể –sự tồn tại (xuất hiện, hiện hữu hay tiêu biến ) của bản thân chủ thể
hay của trạng thái chủ thể ”. Cái ngữ nghĩa chung này được hình thành trước hết
là nhờ vào ngữ nghĩa của P”.
Ơng cũng tiếp tục đi vào tìm hiểu các sắc thái ý nghĩa của vị từ P. “Ở vị
trí P chỉ có thể là những vị từ biểu thị ý nghĩa tồn tại hoặc có khả năng có được ý
nghĩa này ”.
[x: Lý Tồn Thắng, Bàn thêm về kiểu câu “P- N” trong tiếng Việt, tr:128]
Diệp Quang Ban khơng xuất phát từ mơ hình chung hai thành phần như
vậy, mà đưa ra một khn hình gồm nhiều thành phần :”thể từ vị trí + vị từ +
thể từ ”, từ đó cho ta các kiểu câu đã dẫn trên và những giới hạn cụ thể của thành
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
13
phần vị từ [DT :Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp, thành phần câu
tiếng việt,NXB ĐHQGHN,1998,tr:308]
Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp về cơ bản cũng xuất phát từ
một quan niệm gần gũi như vậy khi cho rằng, nòng cốt tồn tại TR→ Vt- B là
một trong bốn cấu trúc nòng cốt của tiếng Việt. Các tác giả sử dụng quan niệm
về câu tồn tại được nhiều người nhắc tới “câu tồn tại cho ta biết rằng, ở một
khơng gian nào đó tồn tại (hoặc khơng tồn tại) các đối tượng của một lớp nào
đó. Thành thử, khác với Lý Tồn Thắng, Diệp Quang Ban cũng như Nguyễn
Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp, chỉ nói tới sự tồn tại hoặc khơng tồn tại của
đối tượng ”, mà còn nói đến cả cách thức tồn tại của sự vật.
Khác với các tác giả trên đây, Trần Ngọc Thêm tách những câu như :
Trong nhà có một người lạ mặt; Trên bàn có một lọ hoa …ra thành những câu
riêng, những kiểu câu khác liên đới cũng được táh thành những kiểu khác nhau
và trong nội dung quan niệm của tác giả, khơng bao hàm yếu tố ngữ nghĩa cách
thức tồn tại. Theo ơng, “câu tồn tại khẳng định sự tồn tại của vật thể và sử dụng
khi vật thể lần đầu xuất hiện trong văn bản.[…]’’ việc “ cải biến để chứng minh
rằng đây (tức những kiểu câu gần gũi đã được nhắc tới trong khố luận này của
chúng tơi –chúng tơi chú thêm ) là những biến thể của một kiểu câu như một số
người làm là sai lầm về phương pháp ”. Tuy nhiên, trong khi tách riêng ra nhiều
kiểu câu riêng biệt và xem xét nó trong mối quan hệ với câu tồn tại, chính tác
giả cũng dựa vào các hiện tượng tỉnh lược cấu trúc hay khả năng đảo (tức là
những hiện tượng liên quan đến cải biên ) nhiều hơn là xem xét các khía cạnh
khác.
[x: Trần Ngọc Thêm, Hệ thống liên kết văn bản tiếng
Việt,nxbgd,2000,tr:55-63]
- Tình hình đã phân tích trên đây, dẫn chúng tơi đi tới các kết luận
sau:
a) Trong ngơn ngữ, câu tồn tại là một hiện tượng phức tạp do sự tác động
của nhiều nhân tố, đặc biệt là vai trò của ngữ cảnh và sự chuyển hố chức năng
giữa các kiểu câu trong hoạt động. Từ đó dẫn đến chỗ, tùy theo góc độ quan
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
14
tâm, tùy theo tình huống sử dụng mà chức năng biểu thị sự tồn tại có thể được
biểu hiện bằng những phương tiện khác nhau.
Cho nên nếu ta đi từ nội dung đế hình thức,đến khả năng biểu hiện trong
sử dụng ngơn ngữ thì bức tranh sẽ khác so với khi xem xét vấn đề trên nhiều
bình diện đồng thời.
b) Chính vì vậy, nhiều tác giả đã nhận thấy có những trường hợp thực thụ
là câu tồn tại mang những đặc trưng điển hình của câu tồn tại. Nói khác đi,
chúng đã được ngữ pháp hố cao. Đặc tính tồn tại của chúng độc lập với ngữ
cảnh chứ khơng phải là khả năng có trong những điều kiện ngữ cảnh nhất định.
Mặt khác, có những câu là đương lượng của tồn tại, mang tính tồn tại ở một
phương diện nào đó.
c) Nói theo ngơn ngữ học tri nhận thì ở đây chúng ta có những ngun
mẫu và những trường hợp mang tính ngoại vi đi xa dần ngun mẫu ở những
mức độ khác nhau. Từ đó, có thể áp dụng mơ hình phân tích ngun mẫu để tiếp
tục tìm hiểu xem các trường hợp khơng thuộc ngun mẫu đi chệch khỏi mơ
hình ngun mẫu ở mức độ nào. Cũng qua đó, chúng ta hiểu thêm được đặc
trưng của những kiểu câu đương lượng với tồn tại.
Dưới đây, chúng tơi sẽ thử tìm hiểu và tổng kết lại một số đặc điểm chung
của ngun mẫu “câu tồn tại”, sau đó tiến hành so sánh các kiểu câu được quan
tâm với những ngun mẫu đó – chỉ ra mối liên hệ giữa chúng.
Trước khi đi vào các phân tích cụ thể thực hiện nhiệm vụ đã đặt ra, chúng
tơi xin dừng lại nói qua về các tiền đề lý luận và phương pháp mà chúng tơi chấp
nhận để làm việc. Các tiền đề này xoay quanh hai vấn đề chính, cụ thể là :
c1) Quan niệm về phân tích các cấu trúc cú pháp theo quan điểm ngữ
nghĩa.
c2) Quan niệm về ngun mẫu và phân tích ngun mẫu, các sự kiện
ngơn ngữ học.
Những tổng kết cơ bản sau đây, chúng tơi dựa vào các ghi chép theo
chun đề của người hướng dẫn.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét