loại bỏ các thiết bị và công nghệ lạc hậu ra khỏi quá trình sản xuất trực tiếp
( do bị hao mòn hữu hình và vô hình ). Đối với nền kinh tế thế giới đang phát
triển, những t liệu sản xuất này rất có ích và vẫn là kỹ thuật mới mẻ. Nhằm
mục đích thu lợi nhuận độc quyền cao, các tập đoàn t bản độc quyền đa các
thiết bị đó sang các nớc đang phát triển dới hình thức chuyển giao công nghệ.
Rõ ràng, khi chủ nghĩa đế quốc còn tồn tại thì xuất khẩu t bản từ các nớc t bản
phát triển sang các nớc đang phát triển là điều không tránh khỏi. Xét trong
một giai đoạn phát triển nhất định , có thể diễn ra sự thay đổi tỷ trọng t bản
đầu t vào khu vực nào đó của thế giới, nhng phân tích một thời kỳ dài hơn của
quy mô thế giới cho thấy: xuất khẩu t bản vẫn là vũ khí chủ yếu mà t bản độc
quyền sử dụng để bành trớng ra nớc ngoài. Tình trạng nợ nần của các nớc
đang phát triển ở châu á, Phi , Mỹ Latinh là thực tế chứng minh cho kết luận
trên.
Thứ hai là chủ thể xuất khẩu t bản có sự thay đổi lớn , trong đó vai trò
các công ty xuyên quốc gia trong xuất khẩu t bản ngày càng to lớn, đặc biệt là
trong FDI . Mặt khác, đã xuất hiện nhiều chủ thể xuất khẩu t bản từ các nớc
đang phát triển mà nổi bật là các Nics châu á.
Thứ ba là hình thức xuất khẩu t bản rất đa dạng, sự đan quyện giữa xuất
khẩu t bản và xuất khẩu hàng hoá tăng lên. Chẳng hạn, trong đầu t trực tiếp
xuất hiện những hình thức mới nh BOT,BT sự kết hợp giữa xuất khẩu t bản
với các hợp đồng buôn bán hàng hoá, dịch vụ, chất xám không ngừng tăng
lên.
Thứ t là sự áp đặt mang tính thực dân trong xuất khẩu t bản đã đợc gỡ bỏ
dần và nguyên tắc cùng có lợi đợc đề cao.
Ngày nay , xuất khẩu t bản luôn thể hiện kết quả hai mặt. Một mặt, nó
làm cho các quan hệ t bản chủ nghĩa đợc phát triển và mở rộng ra trên địa bàn
quốc tế, góp phần thúc đẩy nhanh chóng quá trình phân công lao động và
quốc tế hoá đời sống kinh tế của nhiều nớc; là một trong những nhân tố cực kỳ
quan trọng tác động từ bên ngoài vào làm cho quá trình công nghiệp hoá và tái
công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở các nớc nhập khẩu t bản phát triển nhanh
chóng . Song mặt khác, xuất khẩu t bản vẫn để lại cho các quốc gia nhập khẩu
t bản, nhất là với các nớc đang phát triển những hậu quả nặng nề nh: nền kinh
tế phát triển mất cân đối và lệ thuộc, nợ nần chồng chất do bị bóc lột quá nặng
nề. Song điều này tuỳ thuộc một phần rất lớn vào vai trò quản lý của nhà nớc ở
các nớc nhập khẩu t bản. Lợi dụng mặt tích cực của xuất khẩu t bản , nhiều n-
ớc đã mở rộng việc tiếp nhận đầu t để đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá ở
5
nứơc mình. Vấn đề đặt ra là phải biết vận dụng mềm dẻo,linh hoạt , nguyên
tắc cùng có lợi, lựa chọn phơng án thiết thực, để khai thác nguồn lực quốc tế
có hiệu quả.
6
Chơng 2
Đầu t trực tiếp nớc ngoài Xu hớng quan trọng đối với
các nớc đang phát triển
2.1 Đầu t trực tiếp n ớc ngoài
2.1.1 Đặc điểm đầu t trực tiếp n ớc ngoài
Đầu t trực tiếp nớc ngoài ( Foreign Direct Investment FDI ) là hình
thức đầu t nớc ngoài. Sự ra đời và phát triển của nó là kết quả tất yếu của quá
trình quốc tế và phân công lao động quốc tế .
Trên thực tế có nhiều cách nhìn nhận khác nhau về đầu t nớc ngoài.Theo
hiệp hội luật quốc tế (1966) Đầu t nớc ngoài là sự di chuyển vốn từ nớc của
ngời đầu t sang nớc của ngời sử dụng nhng không phải để mua hàng tiêu dùng
của nớc này mà dùng để chi phí cho các hoạt động có tính chất kinh tế xã hội
. Theo luật Đầu t nớc ngoài Việt Nam ban hành năm 1987 và đợc bổ sung
hoàn thiện sau ba lần sửa đổi Đầu t nớc ngoài là việc các tổ chức và cá nhân
nớc ngoài trực tiếp đa vào Việt Nam vốn bằng tiền nớc ngoài hoặc bất kỳ tài
sản nào đợc chính phủ Việt Nam chấp nhận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở
hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hay xí nghiệp 100% vốn nớc
ngoài
Qua xem xét các định nghĩa về đầu t nớc ngoài có thể rút ra một số đặc
trng cơ bản của đầu t nớc ngoài nh sau:
Một là , sự di chuyển vốn từ nớc này sang nớc khác .
Hai là , vốn đợc huy động vào các mục đích thực hiện các hoạt động kinh
tế và kinh doanh.
Mặc dù có nhiều khác biệt về quan niệm nhng nhìn chung FDI đợc xem
xét nh một hoạt động kinh doanh, ở đó có các yếu tố di chuyển vốn quốc tế và
kèm theo nó bao gồm các yếu tố khác . Các yếu tố đó không chỉ bao gồm sự
khác biệt về quốc tịch của các đối tác tham gia vào quá trình kinh doanh,sự
khác biệt văn hoá , luật pháp mà còn là sự chuyển giao công nghệ , thị trờng
tiêu thụ
Theo luật Đầu t nớc ngoài của Việt Nam, FDI có thể đợc hiểu nh là việc
các tổ chức, các cá nhân trực tiếp nớc ngoài đa vào Việt Nam vốn bằng tiền
hay bất cứ tài sản nào đợc chính phủ Việt Nam chấp nhận để hợp tác với bên
Việt Nam hoặc tự mình tổ chức các hoạt động kinh doanh trên lãnh thổ Việt
Nam .Dới góc độ kinh tế có thể hiểu FDI là hình thức di chuyển vốn quốc tế
trong đó ngời sở hữu đồng thời là ngời trực tiếp tham gia quản lý và điều hành
hoạt động sử dụng vốn đầu t.Về thực chất, FDI là sự đầu t của các công ty ( cá
7
nhân) nhằm xây dựng các cơ sở, chi nhánh ở nớc ngoài và làm chủ toàn bộ
hay từng phần cơ sở đó.
Đầu t trực tiếp nớc ngoài có các đặc điểm sau:
Thứ nhất , các chủ đầu t phải đóng góp một khối lợng vốn tối thiểu theo
quy định của từng quốc gia. Luật Đầu t nớc ngoài của Việt Nam quy định chủ
đầu t nớc ngoài phải đóng góp tối thiểu 30% vốn pháp định của dự án.
Thứ hai , sự phân chia quyền quản lý các doanh nghiệp phụ thuộc vào mức
độ đóng góp vốn. Nếu đóng góp 10% vốn thì doanh nghiệp hoàn toàn do chủ
đầu t nớc ngoài điều hành và quản lý.
Thứ ba , lợi nhuận của các chủ đầu t phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh
doanh và đợc phân chia theo tỷ lệ góp vốn sau khi nộp thuế và trả lợi tức cổ
phần.
Thứ t , FDI đợc thực hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệp mới, mua
lại toàn bộ hoặc từng phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc sát nhập các
doanh nghiệp với nhau.
Thứ năm , FDI không chỉ gắn liền với di chuyển vốn mà còn gắn liền với
chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và kinh nghiệm quản lý và tạo
ra thị trờng mới cho cả phía đầu t và phía nhận đầu t.
Thứ sáu , FDI hiện nay gắn liền với các hoạt động kinh doanh quốc tế của
các công ty đa quốc gia.
Đầu t trực tiếp nớc ngoài có thể đợc phân chia theo nhiều tiêu thức khác
nhau:
Nếu căn cứ tính chất pháp lý của đầu t nớc ngoài trực tiếp có thể chia đầu
t trực tiếp nớc ngoài thành các loại hợp đồng và hợp tác kinh doanh , doanh
nghiệp liên doanh,doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài. Ngoài ra còn có thêm
hình thức đầu t khác đó là hợp đồng xây dựng kinh doanh- chuyển giao
(BOT). Trong các hình thức trên thì doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp
100% vốn là hình thức pháp nhân mới và luật Việt Nam gọi chung là xí
nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài.
Nếu căn cứ vào tính chất đầu t có thể chia FDI thành hai loại đầu t tập
trung trong khu chế xuất và đầu t phân tán. Mỗi loại đầu t trên đều có ảnh h-
ởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu công nghiệp ở từng quốc gia.
Nếu căn cứ vào quá trình tái sản xuất có thể chia đầu t trực tiếp nớc ngoài
thành đầu t vào nghiên cứu và triển khai, đầu t vào cung ứng nguyên liệu, đầu
t vào sản xuất, đầu t vào tiêu thụ sản phẩm
8
Nếu căn cứ vào lĩnh vực đầu t có thể chia FDI thành các loại nh đầu t
công nghiệp, nông nghiệp , dịch vụ
Theo luật Đầu t nớc ngoài của Việt Nam, các hình thức đầu t nớc ngoài
vào Việt Nam bao gồm 3 hình thức nh sau:
Hợp đồng hợp tác kinh doanh
Doanh nghiệp liên doanh
Doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài
. Hàng đổi hàng Phơng thức đầu t thu hút nớc ngoài quan trọng đối với
các nớc đang phát triển.
Hàng đổi hàng là phơng thức đầu t mà giá trị của trang thiết bị cung cấp đ-
ợc hoàn trả bằng chính sản phẩm mà các trang thiết bị đó làm ra. Phơng thức
này liên quan tới hai hợp đồng quan hệ mật thiết với nhau và cân bằng nhau về
mặt giá trị.Trong một hợp đồng, nhà cung cấp đồng ý xây dựng nhà máy hoặc
cung cấp các công nghệ của nhà máy cho phía đối tác. Trong hợp đồng
khác, nhà cung cấp đồng ý mua lại sản phẩm mà công nghệ đó sản xuất ra với
khối lợng tơng ứng với gía trị thiết bị mà nhà máy đã đầu t.
Hàng đổi hàng có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế của các nớc
đang phát triển đặc biệt là các nớc đang chuyển đổi. Thực tế đã chỉ ra rằng
hàng đổi hàng có ý nghĩa quan trọng trong phát triển các ngành công nghiệp
chế biến nông sản góp phần ổn định và phát triển kinh tế, tạo việc làm cho ng-
ời lao động ở các nớc đang phát triển. Hàng đổi hàng là phơng thức đầu t mới
của các đối tác nớc ngoài vào Việt Nam.
2.1.2 Đầu t trực tiếp n ớc ngoài ở các n ớc đang phát triển
Trong ba thập kỷ vừa qua, nền kinh tế thế giới đã chứng kiến một sự tăng
trởng đáng kể về luồng vốn FDI. Tổng FDI trung bình hàng năm theo giá trị
thị trờng hiện nay tăng lên 10 lần, từ 104 tỷ USD trong những năm của thập kỷ
60 lên đến 1173 tỷ USD vào cuối những năm của thập kỷ 80. FDI đã tiếp tục
tăng và đạt 1940 tỷ USD năm 1992. Các nớc phát triển chiếm từ 68% trong
những năm 60 lên đến 80% vào cuối những năm 90 trong tổng số của phần
tăng lên của FDI.
Xét về khuynh hớng chung, một trong những nét nổi bật nhất của FDI là
việc tăng nhanh lên nhanh chóng và vững bền của những luồng FDI tới các n-
ớc đang phát triển. Sau một giai đoạn tơng đối đình trệ diễn ra sau các cuộc
khủng hoảng nợ và một cuộc suy thoái cho tới giữa những năm 80 (từ năm
9
1981 - 1985 FDI đến các nớc đang phát triển thực tế giảm 4%/ năm), đầu t vào
các nớc đang phát triển đã khôi phục mạnh mẽ. Trong những năm cuối thập kỷ
80, FDI tăng 17% một năm và tiếp tục trong những năm 90.Theo báo cáo của
Liên Hợp Quốc và Đầu t thế giới năm 1994, tổng đầu t FDI vào các nớc đang
phát triển đạt số kỷ lục là 70 tỷ USD năm 1993, tăng 125% trong ba năm đầu
của thập kỷ này. Ngợc lại FDI vào các nớc phát triển lại giảm mạnh trong
những năm 90. Trong năm 1991 , FDI vào các nớc OECD giảm 31% và tiếp
tục giảm thêm 16% năm 1992. Kết quả là năm 1992 các nớc đang phát triển
chiếm 32% tổng FDI, trong khi tỷ trọng trung bình là 24% trong những năm
70. Tỷ trọng này tiếp tục tăng, đạt 40% vào năm 1993. Nếu xu hớng này tiếp
tục, khối lợng FDI hàng năm vào các nớc đang phát triển có thể vợt các nớc
phát triển trong thời gian không xa. Điều này cho thấy có một sự thay đổi cơ
cấu rất lớn không chỉ về hình thức của đầu t mà còn của sản xuất và thơng mại
sinh ra từ kết quả đầu t này.
Xét về mặt cơ cấu, dòng FDI có xu hớng tăng vào khu vực sản xuất và
dịch vụ. Trong đó khu vực dịch vụ chiếm u thế so với khu vực sản xuất. Ví dụ
51% đầu t nớc ngoài vào Mỹ năm 92 là vào khu vực dịch vụ, so sánh với năm
1981 là 4%. Con số này ở Anh là 40% năm 1992 và 35% năm 1981. Nớc Nhật
là 56% và 53%. Trong khi phần lớn các hoạt động dịch vụ tập trung ở các nớc
phát triển, cũng có những dấu hiệu chỉ ra rằng chính sách tự do hoá cũng đã
dẫn đến việc tăng đáng kể mức đâù t FDI vào ngành dịch vụ ở các nớc đang
phát triển.
Dòng FDI bình quân hàng năm 1970 1992.
70
80
81- 85 86 - 90 1991 1992
Tất cả các nớc (tỷ USD)
Các nớc phát triển ( tỷ USD )
Các nớc đang phát triển(tỷ USD)
Châu Phi (%)
Châu á (%)
Châu Mỹ-Latinh (%)
21
16
5
13.0
60.9
26.1
50
36
14
15.3
46.2
38.5
155
129
26
12.0
36.0
52.0
149
110
39
7.9
39.5
52.6
126
86
40
5.1
41.0
53.9
Nguồn : Transnational Corporations in World Development : Third survey ,
United Nations .
10
Sự phân bổ về địa lý cho thấy 10 nớc đứng đầu về nhận FDI chiếm 76%
tổng số FDI vào thế giới thứ ba vào năm 1992, tăng lên so với 70% trong mời
năm trớc nhng vẫn thấp hơn 81% đạt đợc của năm 1981. Điều này có thể giải
thích bởi sự tăng lên nhanh chóng của FDI vào Trung Quốc.Nếu năm 1981
khối lợng FDI vào Trung Quốc là không đáng kể thì đến năm 1992 đã chiếm
tới một phần t tông FDI vào các nớc đang phát triển.
Chính sách thu hút và quản lý FDI của các nớc đang phát triển đã thay
đổi mạnh mẽ trong thập kỷ trớc.Hiện nay các chính phủ đều khuyến khích
FDI theo một cách thức mới cha tứng có trong lịch sử. Việc chuyển các chính
sách kinh tế hớng về thị trờng và các chính sách tự do kinh tế đã thu hút và
hấp dẫn hơn các nhà đầu t. Những cố gắng của chính phủ các nớc nhằm thu
hút các nhà đầu t nớc ngoài đặc biệt là các dự án vào cơ sở hạ tầng và công
trình phúc lợi theo hình thức BOO hay BOT đang tăng nhanh. Việc thực hiện
t nhân hoá và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc cũng là môt phơng thức quan
trọng để thu hút các nhà đầu t nớc ngoài. Trong xu hớng này các nớc Châu Mỹ
Latinh dẫn đầu các nớc đang phát triển.Từ năm 1988 đến 1992 khối lợng FDI
trị giá khoảng 8,1 tỷ USD đã đợc đa vào các nớc châu Mỹ Latinh bởi hình
thức mua cổ phần của các doanh nghiệp nhà nớc. Khối lợng này chiếm 16%
tổng FDI đầu t vào quốc gia này. Các nớc Đông Âu cũng đã thu hút khối lợng
đầu t lớn vào lĩnh vực này khoảng 5,2 tỷ USD trong khoảng thời gian từ năm
1988 đến 1992 tơng ứng với 43% trong tổng khối lợng đầu t vào khu vực. Đầu
t trực tiếp nớc ngoài của toàn thế giới đạt 450 tỷ USD vào năm 1995. Trong đó
hai phần ba tập trung vào các nớc châu á. Tầm vóc ngày càng lớn và tính năng
động của các nớc châu á đã làm cho châu á trở thành thị trờng đầu t quan
trọng đối với các công ty đa quốc gia.
Tình hình dòng vốn FDI trên thế giới và trong khu vực hiện nay
Có thể nói trong 10 năm trở lại đây, mặc dù có một số biến động song nhìn
chung lợng FDI trên toàn thế giới có xu hớng tăng. Năm 1997, con số này vào
khoảng 400 tỷ USD với khoảng 70% vào các nớc công nghiệp phát triển.Theo
cơ quan thơng mại và phát triển của Liên Hợp Quốc (UNCTAD), năm 1998,
tổng lợng FDI đạt 430 tỷ USD, tăng gần 10% so với năm 1997 nhng luồng
vốn vào các nớc đang phát triển lại giảm xuống còn 111 tỷ USD so với 117 tỷ
của năm 1997.
Trong khu vực châu á, mức độ cạnh tranh để thu hút trở nên rất gay gắt.
Trong số các nớc đang phát triển, Trung Quốc là nớc thành công nhất với lợng
đầu t thu hút trung bình chiếm tới một nửa tổng số vốn FDI đổ vào các nớc
11
đang phát triển. Nguyên nhân chủ yếu là sự hấp dẫn của một thị trờng rộng
lớn và cải cách kinh tế đạt đợc nhiều thành tựu nổi bật trong những năm qua.
Do tác động của cuộc khủng hoảng tiền tệ châu á, năm 1998 là năm đầu
tiên kể từ năm 1985 tổng vốn vào khu vực này tuy đã giảm nhng không nhiều.
Trong đó, khả năng ứng phó dẫn đến mức độ ảnh hởng của từng nớc là khác
nhau. Indonesia và Philippines đứng đầu danh sách nhóm nớc suy giảm nguồn
vốn FDI, trong khi đó Hàn Quốc và Thái Lan , mặc dù chịu nhiều tác động
của cuộc khủng hoảng nhất, song vẫn duy trì đợc lợng vốn lớn. Trên thực tế
hai quốc gia này đã tiến hành những cải cách sâu rộng, đã đợc đánh giá là
thành công cả trên bình diện nền kinh tế vĩ mô nói chung và môi trờng đầu t
nói riêng.Năm 1998, vốn FDI đăng ký của Thái Lan là 5,9 tỷ USD so với 3,6
tỷ năm 1997 và của Hàn Quốc lần lợt là 4,7 tỷ USD và 3,6 tỷ USD . Cuộc
khủng hoảng này cũng làm giảm rõ rệt nguồn cung cấp FDI từ hai quốc gia
cung cấp FDI lớn của châu á là Nhật Bản ,Hàn Quốc và một số nớc Nics khác.
2.2 Kinh nghiệm của một số n ớc trong thu hút và sử dụng đầu t trực
tiếp n ớc ngoài vào phát triển tăng tr ởng kinh tế
2.2.1 Đầu t trực tiếp n ớc ngoài ở Trung Quốc
Đầu t trực tiếp nớc ngoài ở Trung Quốc chiếm một phần t tổng đầu t vào
các nớc đang phát triển, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế ở các nớc
này. Quy mô trung bình của các dự án năm 1991 là 920000USD, năm
1190000USD và năm 1993 là 1310000 USD. Từ năm 1992 bắt đầu có sự gia
tăng đáng kể trong các dự án vừa hoặc lớn với kỹ thuật tiên tiến trong ngành
điện, máy móc, hoá chất, điện tử, vật liệu xây dựng. Các đặc khu kinh tế và
khu công nghiệp đợc xây dựng ngày càng nhiều. Cho đến nay Trung Quốc vẫn
là nơi hấp dẫn các nhà đầu t và Trung Quốc vẫn duy trì mức tăng trởng cao.
Từ năm 1995, Trung Quốc đã khuyến khích các doanh nghiệp trong nớc
và các nhà đầu t của các nớc châu Âu thực hiện phơng thức hàng đổi hàng
nhằm phát triển ngành chế biến nông sản xuất khẩu, góp phần tích cực tạo
việc làm cho ngời lao động nhất là lao động nông thôn . Điều gì đã dẫn đến
kết quả hoạt động tốt nh vậy của Trung Quốc .Bên cạnh một số nhân tố thuận
lợi, Trung Quốc đã có các biện pháp thu hút và sử dụng FDI cho sự phát triển
một cách tích cực và kế hoạch.
Thứ nhất , Trung Quốc đã tạo ra một môi trờng khá thuận lợi và ổn định
cho các nhà đầu t, tạo ra mức tin cậy cao nơi họ. Nhờ đó Trung Quốc đã thu
12
hút luồng đầu t lớn, hình thức và đối tác phong phú. Môi trờng đầu t luôn đợc
cải thiện . Từ năm 1992 các chính quyền địa phơng bắt đầu chủ động hơn
trong việc thông qua các dự án FDI và đã cung cấp thêm các dịch vụ xã hội
cho các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài. Nhận ra tâm quan trọng của
việc bảo hộ sở hữu trí tuệ, Trung Quốc đã đa các luật về bản quyền , nhãn
mác, sáng chế và các quy định về các phần mềm máy tínhvà gia nhập tổ chức
sở hữu trí tuệ thế giới, Công ớc Paris và Công ớc bản quyền thế giới để bảo vệ
bản quyền công nghiệp. Các điều kiện cơ sở hạ tầng ở các khu vực tập trung
nhiều FDI đã đợc nâng cấp, đặc biệt là ở các khu vực kinh tế và các vùng phát
triển kinh tế và công nghiệp.
Thứ hai , FDI ở Trung Quốc đợc thu hút một cách có kế hoạch. ở giai
đoạn đầu FDI đợc khuyến khích tập trung vào sản xuất công nghiệp là ngành
có hệ số tạo việc làm cao tuy nhiên họ cũng đa ra những hạn chế mới dần dần
đợc tháo bỏ . Chẳng hạn từ năm 1992 sau 13 năm kể từ khi mở cửa, Trung
Quốc mới mở rộng lĩnh vực đầu t trong ngành dich vụ nh tài chính , bảo hiểm,
bất động sản, du lịch, thơng mại đặc biệt dịch vụ kế toán, t vấn và thông tin.
2.2.2 Đầu t trực tiếp n ớc ngoài ở Thái Lan
Đầu t trực tiếp nớc ngoài ở Thái Lan đã góp phần quan trọng vào phát
triển kinh tế ở nớc này. Cuối thập kỷ 80, Thái Lan đã thu hút khoảng 30 tỷ
USD vốn đầu t nớc ngoài. Vào đầu những năm 90, nền kinh tế Thái Lan luôn
giữ ở mức tăng trởng 8%/ năm. Tuy nhiên vừa qua nớc này đã lâm vào cuộc
khủng hoảng tài chính trầm trọng mà các nguyên nhân chính là đầu t quá
nhiều vào bất động sản, quản lý vốn nớc ngoài quá lỏng lẻo và thu hút vào nền
kinh tế quá mức so với khả năng hấp dẫn và sử dụng thực sự.
Trong ba năm lại đây, nguồn vốn đổ vào Thái Lan là 55 tỷ USD song hầu
hết lại đợc đầu t vào bất động sản và một số lĩnh vực không phát huy đợc hiệu
quả . Đầu t những khoản khổng lồ vào bất động sản nhng chủ yếu để phục vụ
tiêu dùng ít tạo ra việc làm có chất lợng cho nền kinh tế , với khả năng sinh lời
thấp , chỉ tạo cho mọi ngời cảm giác giàu có nhng đó chỉ là sự phồn vinh giả
tạo. Điều này có nghĩa là FDI không nhằm vào phát triển mà chỉ để kiếm
chênh lệch.
Việc vay tiền nớc ngoài với lãi suất thấp quá dễ dàng làm cho các nhà
đầu t ở Thái Lan thiếu chọn lọc lĩnh vực kinh doanh. Một số lĩnh vực có lãi
suất rất thấp cũng đợc đầu t.
13
2.3 Bài học rút ra từ nghiên cứu kinh nghiệm của Trung Quốc và Thái
Lan
Từ vài thập niên trở lại đây, đầu t trực tiếp nớc ngoài đã góp phần
không nhỏ trong quá trình tăng trởng của nhiều nớc trong đó có cả sự thần kỳ
châu á. Sự bùng nổ đầu t và thơng mại ở tất cả các vùng trên thế giới trong
mấy năm gần đây là các nhân tố chính góp phần thúc đẩy quá trình toàn cầu
hóa kinh tế ngày một lan rộng . Khu vực châu á - Thái Bình Dơng đã trở
thành một điểm sáng trên bản đồ phân bổ đầu t của thế giới với nhiều lợi thế
về lao động , nguồn lực mà các nhà đầu t coi là rất có triển vọng và đặt nhiều
niềm tin. Về lâu dài, chúng ta cần phải gắn việc cải cách môi trờng đầu t với
cải cách toàn bộ nền kinh tế. Việc làm này có tác dụng mạnh mẽ hơn so với
việc u đãi và khuyến khích riêng lẻ cho các nhà đầu t ( chủ yếu chỉ để giữ
chân các nhà đầu t trớc chuyển dịch lợi thế cạnh tranh giữa các nớc). Cải cách
môi trờng đầu t sẽ chỉ là một phần trong việc cải cách cơ cấu kinh tế và có thu
hút đợc nhiều FDI hay không phụ thuộc vào kết quả của những nỗ lực cải cách
ấy.Cần phải thấy rằng nếu chỉ cải thiện theo hớng tốt hơn so với trớc là cha
đủ . Các nhà đầu t sẽ chỉ đầu t khi cho rằng các điều kiện của môi trờng đã đủ
tốt đối với họ và có thể đem lại lợi nhuận.
Sự ổn định chính trị xã hội cùng với chính sách nhất quán và lâu dài
của Việt Nam trong việc hội nhập với khu vực và thế giới và những lợi thế vốn
có về tài nguyên , con ngời sẽ vẫn là những thế mạnh của môi trờng đầu t của
Việt Nam. Nh vậy chúng ta cần biết tận dụng và phát huy những lợi thế Việt
Nam vẫn sẽ là một thị trờng hấp dẫn và có nhiều cơ hội đầu t.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét