Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
vật chất đối với các quyết định của mình; không tự nhận khuyết điểm về
mình.
- Bỏ qua quan hệ hàng hoá - tiền tệ và hiệu quả kinh tế, quản lý nền kinh tế
và kế hoạch hoá bằng chế độ cấp phát và giao nộp sản phẩm, quan hệ hiện
vật là chủ yếu.
Từ những đặc điểm trên dẫn đến bộ máy quản lý rất cồng kềnh, có nhiều cấp
trung gian và kém năng động, đội ngũ cán bộ kém năng lực quản lý, không thạo
nghiệp vụ kinh doanh, trình độ hiểu biết kém; đã thế phong cách lại hống hách,
quan liêu cửa quyền; cơ sở vật chất cũ kĩ, lạc hậu, năng suất thấp.
Chính những sự việc đó đã gây ra nhiều hậu quả xấu cho nền kinh tế, sự tăng
trởng kinh tế gặp nhiều khó khăn, sản phẩm trở nên khan hiếm, ngân sách bị
thâm hụt nặng nề, thu nhập từ nền kinh tế không đủ tiêu dùng, tích luỹ hàng năm,
vốn đầu t chủ yếu dựa vào vay và viện trợ của nớc ngoài. Đến cuối những năm
80, giá cả leo thang, khủng hoảng kinh tế đi liền với lạm phát cao làm cho đời
sống nhân dân bị giảm sút, thậm chí một số địa phơng nạn đói đang rình rập.
Trớc tình hình đó buộc chúng ta phải xem xét lại cơ chế đó và có những biện
pháp để đổi mới nhanh chóng nền kinh tế và cơ chế quản lý đối với nó. Phơng h-
ớng cơ bản của sự đổi mới cơ chế quản lý kinh tế ở nớc ta đã đợc đánh dấu bằng
đại hội VI, tiếp tục bằng đại hội VII,VIII và IX của Đảng:
Tại đại hội VI, Đảng ta chủ trơng: phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và
thực hiện chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá sang cơ chế
hạch toán kinh doanh XHCN.
Đến đại hội VII, Đảng ta xác định rõ việc đổi mới cơ chế kinh tế ở nớc ta là
một tất yếu khách quan và trên thực tế đang diễn ra việc đó, tức là chuyển từ
nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền KTTT có sự quản lý của Nhà nớc
theo định hớng XHCN.
Đến đại hội VIII, Đảng ta xác định tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế
với mục tiêu xoá bỏ cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp hình thành tơng đối đồng
bộ cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng XHCN.
Đến đại hội IX, Đảng ta khẳng định: tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế
với mục tiêu xoá bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang cơ
chế thị trờng định hớng XHCN, từ chỗ chủ yếu chỉ có 2 thành phần là kinh tế
Nhà nớc và kinh tế tập thể đã chuyển sang nền kinh tế có nhiều thành phần trong
đó Nhà nớc giữ vai trò chủ đạo.
Nh vậy là nớc ta đã chuyển đổi sang nền kinh tế với cơ chế kinh tế là cơ chế
thị trờng. Vậy trớc tiên ta phải hiểu cơ chế thị trờng là gì?
Hiện nay còn tồn tại rất nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm cơ chế thị trờng.
Sau đây là một vài khái niệm:
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Cơ chế thị trờng là tổng thể các nhân tố, quan hệ, môi trờng, động lực và quy
luật chi phối sự vận động của thị trờng (2)
Cơ chế thị trờng là thiết chế kinh tế chi phối ý chí và hành động của ngời sản
xuất và ngời tiêu dùng, ngời bán và ngời mua thông qua thị trờng và giá cả (3)
Cơ chế thị trờng là một hình thức tổ chức kinh tế trong đó cá nhân ngời tiêu
dùng và các doanh nghiệp tác động qua lại lẫn nhau trên thị trờng để xác định
vấn để trung tâm của tổ chức kinh tế là: sản xuất cái gì? Nh thế nào? Cho ai(4)
Song dù có hiểu nh thế nào đi chăng nữa thì nói tới cơ chế thị trờng là phải nói
tới bộ máy tự điều tiết quá trình sản xuất và lu thông hàng hoá, điều tiết sự vận
động thông qua sự tác động của các quy luật kinh tế của nền KTTT, đặc biệt là
quy luật giá trị quy luật kinh tế căn bản của sản xuất và lu thông hàng hoá,
quy luật cạnh tranh, quan hệ cung cầu hàng hoá Trong đó lợi nhuận là động lực
cơ bản của sự vận động của nó.
Nói tóm lại ta có thể hiểu: cơ chế thị trờng là cơ chế tự điều tiết nền kinh tế
hàng hoá do sự tác động của các quy luật kinh tế vốn có của nó, cơ chế đó giải
quyết 3 vấn đề cơ bản của tổ chức kinh tế là: cái gì? Nh thế nào? Cho ai?. Cơ chế
thị trờng bao gồm các nhân tố cơ bản là cung, cầu và giá cả thị trờng.
Nói nh trên không có nghĩa rằng cơ chế thị trờng là một sự hỗn độn các quy
luật kinh tế tác động một cách không định hớng vào hoạt động sản xuất mà nó là
một trật tự kinh tế, một bộ máy tinh vi phối hợp một cách không có ý thức hoạt
động của ngời tiêu dùng với các nhà sản xuất thông qua hệ thống giá cả thị trờng;
không ai tạo ra nó mà tự nó phát sinh và phát triển cùng với sự ra đời và phát
triển của kinh tế hàng hoá.
Thực tế cũng đã chứng minh cơ chế thị trờng là một cơ chế hoàn toàn phù hợp
và u việt. Nó ngày càng phát huy những u điểm vốn có của nó, đó là:
- Kích thích hoạt động của các chủ thể kinh tế và tạo điều kiện thuận lợi cho
sự hoạt động tự do của họ. Do đó phát huy tính năng động, sáng tạo của các chủ
thể kinh doanh. Huy động một cách nhanh chóng các nguồn lực của xã hội vào
việc phát triển kinh tế.
- Trong cơ chế thị trờng, ngời sản xuất buộc phải giảm hao phí lao động
xuống mức thấp nhất có thể đợc bằng cách áp dụng khoa học kỹ thuật và công
nghệ vào quá trình sản xuất nhằm nầng cao năng suất lao động, nâng cao chất l-
ợng sản phẩm. Có nh vậy thì mới có thể tiếp tục cạnh tranh và đứng vững đợc trên
thị trờng; và cũng chỉ có nh vậy mới thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển để sử
dụng có hiệu quả nhất những khoa học kỹ thuật tiên tiến đó.
- Cơ chế thị trờng dẫn tới sự thích ứng tự phát giữa khối lợng và cơ cấu của
sản xuất với khối lợng và cơ cấu nhu cầu của sã hội; điều này có nghĩa là có thể
đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng phong phú về các loại sản phẩm của ngời
dân. Đây là một việc làm mà nếu để Nhà nớc đảm nhận thì sẽ khó thực hiện đợc vì
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
đây là một khối lợng công việc lớn, đòi hỏi thời gian rất lâu, chi phí và công suất
lớn.
- Cơ chế thị trờng mềm dẻo hơn Nhà nớc, có khả năng thích nghi cao hơn
khi những điều kiện kinh tế thay đổi. Bởi lẽ nền kinh tế luôn có những biến động
không thể lờng trớc đợc, vậy nên dù Nhà nớc có phân tích kỹ lỡng đến đâu thì
cũng sẽ có lúc không thể thích nghi nhanh và có những chính sách thay đổi kịp
thời để phù hợp với những điều kiện hiện tại. Trong khi đó cơ chế thị trờng là cơ
chế tự điều tiết cho nên chắc chắn khả năng thích nghi của nó sẽ cao hơn và từ đó
sẽ làm thích ứng kịp thời giữa sản xuất và nhu cầu của xã hội.
Cùng với những u điểm trên, cơ chế thị trờng cũng bộc lộ hàng loạt những
khuyết tật mang tính chu kỳ nh: biến động lên xuống của khủng hoảng kinh tế,
lạm phát, phân hoá giàu nghèo, gây ô nhiễm môi trờng Trong đó có những
khuyết tật trở thành những vấn đề mang tính chất toàn cầu đang đợc đặt ra để tìm
hớng giải quyết tốt nhất. Tất cả gây nên tình trạng không bình thờng trong quan
hệ kinh tế và dẫn tới sự mất ổn định xã hội. Bởi vậy nên nó đòi hỏi phải có sự
kiểm tra, điều tiết, định hớng một cách có ý thức đối với sự vận động của cơ chế
thị trờng, đồng thời chính sự vận động đó có thể hạn chế những khuyết tật. Đó là
những lý do cần thiết phải thiết lập vai trò quản lý của Nhà nớc ở tất cả những n-
ớc mà nền kinh tế do cơ chế thị trờng điều tiết. Nhà nớc có thể dựa vào quyền lực
của mình can thiệp ở một mức độ hợp lý nhằm sửa chữa những thất bại của thị
trờng đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định.
Nền KTTT càng phát triển thì vai trò của Nhà nớc càng thể hiện đợc tầm quan
trọng. Những vai trò đó là:
Một là: Nhà nớc lập ra luật pháp, các quy định và quy chế để điều tiết:
Các chính phủ quy định khung luật pháp, trên cơ sở đó đặt ra những điều luật
cơ bản về quyền sở hữu tài sản và sự hoạt động của thị trờng. Cùng với Nhà nớc,
chính quyền ở mọi cấp cùng điều tiết hành vi kinh tế bằng cách đặt ra những quy
định chi tiết cho sự hoạt động của các doanh nghiệp. Các quy chế điều tiết nh:
quy chế điều tiết về y tế và an toàn, các điều luật chống tội gian lận và ngăn cấm
những ngời cạnh tranh thoả thuận với nhau để định giá, luật chống độc quyền
Sau đây là một vài trờng hợp cụ thể:
Ta biết rằng một trong những nguyên nhân dẫn tới tính kém hiệu quả của sản
xuất và tiêu dùng đó là độc quyền. Các nhà độc quyền có thể thu các khoản lợi
nhuận cao bằng cách hạn chế số lợng đem bán đồng thời nâng giá bán. Sở dĩ họ
làm đợc nh vậy là vì họ là những ngời bán duy nhất nên họ không lo sợ bị những
ngời cạnh tranh bán với giá thấp hơn và vì thế kết cục là ngời tiêu dùng phải trả
mức giá cao hơn mức mà lẽ ra họ phải trả. Nền kinh tế đợc thúc đẩy bằng cạnh
tranh hoàn hảo sẽ đạt hiệu quả cao nhng cạnh tranh sẽ làm cho các tổ chức độc
quyền bị hạn chế khả năng đạt lợi nhuận độc quyền. Vì vậy họ thờng cố gắng
giảm bớt cạnh tranh.Vậy trong trờng hợp này Nhà nớc phải làm sao để bảo vệ
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
cạnh tranh, chống độc quyền đây? Câu trả lời đó là: Nhà nớc phải điều tiết những
công ty nh vậy bằng cách kiểm soát giá cả mà họ đợc phép đòi phải trả, hoặc
chính phủ có thể tự mình đảm đơng việc cung cấp các sản phẩm có liên quan.
Chính phủ cũng có thể can thiệp vào bằng các luật về cạnh tranh nhằm làm cho sự
cạnh tranh mạnh mẽ hơn, đồng thời ngăn ngừa các công ty độc quyền cũng nh
các mu toan khác hòng kiểm soát sự cung ứng
Một nguyên nhân khác cũng làm ảnh hởng đến kinh tế và xã hội , đó là sự tác
động tiêu cực của ngoại sinh. ảnh hởng của ngoại sinh xảy ra khi một hãng hay
một ngời làm lợi hoặc làm thiệt hại tới ngời khác bên ngoài thị trờng.Thông thờng
các chính phủ chú ý tới tác động tiêu cực của ảnh hởng ngoại sinh nhiều hơn so
với tác động tích cực của nó. Hãy thử xem xét vấn đề ô nhiễm. Ví dụ: một hãng
sản xuất các hoá chất và tống rác thải xuống một hồ. Chất thải gây ô nhiễm nguồn
cung cấp nớc địa phơng, giết hại cá và chim chóc, và tạo ra một mùi khó chịu.Khi
mức sản xuất các hoá chất tăng lên thì tác động càng lan tỏa.Lúc đó tiêu cực sẽ trở
thành mối đe doạ khủng khiếp. Trớc tình trạng đó chính phủ đóng môt vai trò hết
sức quan trọng. Chính phủ sẽ can thiệp vào bằng cách đa ra các quy định nhằm
kiểm soát ảnh hởng ngoại sinh nh ô nhiễm không khí và nớc, chất thải độc hại,
thuốc và thực phẩm không an toan, hay các chất phóng xạ Chính phủ có những
biện pháp cứng rắn trong việc nghiêm trị những hành động vi phạm các quy định
đã ban hành.
Hai là:Nhà nớc góp phần vào việc xây dựng các chơng trình, kế hoạch phát
triển phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội nớc ta theo các mục tiêu mong muốn.
Trong nền kinh tế nớc ta hiện nay, các doanh nghiệp đợc quyền tự do lựa chọn
phơng án sản xuất kinh doanh, Nhà nớc không can thiệp vào quyết định của họ về
sản xuất cái gì?bằng cách nào?tiêu thụ ở đâu? Trong khi lựa chọn các phơng án
sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp lấy lợi nhuận làm thớc đo hiệu quả, đồng thời
làm mục tiêu định hớng cho hành vi của họ. Mặt khác trong nền kinh tế nớc ta
hiện nay cũng có rất nhiều doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau;
họ cạnh tranh gay gắt với nhau nhằm đạt mục tiêu mà họ mong muốn.Điều này có
thể làm triệt tiêu các nguồn lực kinh tế dẫn đến môi trờng kinh doanh bị phá huỷ
và nền kinh tế không thể nào phát triển đợc.
Khác với các doanh nghiệp, vai trò kinh tế của Nhà nớc là ở chỗ theo đuổi mục
tiêu chung của dân tộc, tức là làm cho dân giàu, nớc mạnh, nền kinh tế tăng trởng
một cách ổn định, vững chắc, đảm bảo hiệu quả và công bằng xã hội.
Thực chất của việc định hớng sự phát triển của nền kinh tế là thống nhất các
lợi ích khác nhau, qui tụ các lợi ích khác nhau về một lợi ích để sao cho trong khi
mỗi ngời theo đuổi lợi ích cá nhân của mình cũng đồng thời góp phần của mình
vào việc theo đuổi lợi ích dân tộc.Nói cách khác vai trò định hớng nền kinh tế của
Nhà nớc thể hiện ở chỗ: chính Nhà nớc là ngời hoạch định các chơng trình phát
triển kinh tế-xã hội mà mỗi chơng trình là mỗi cơ hội đầu t mở rộng phát triển sản
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
xuất cho các doanh nghiệp. Nh vậy, bằng việc hoạch định chiến lợc phát triển kinh
tế,Nhà nớc dẫn dắt các doanh nghiệp, chỉ cho họ thấy chỗ nào là có thể và nên đầu
t vào nơi nào là có lợi cho mình, đồng thời có lợi cho dân tộc. Bằng việc hoạch
định các chiến lợc phát triển kinh tế-xã hội, Nhà nớc có thể thực hiện đợc ý đồ
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành, theo vùng lãnh thổ, khai thác và sử dụng
có hiệu quả tài nguyên, đa thị trờng trong nớc hoà nhập vào thị trờng thế giới làm
cho nền kinh tế phát triển tăng trởng, ổn định, vững chắc, công bằng và có hiệu
quả.
Ba là: Nhà nớc tạo môi trờng thuận lợi cho nền sản xuất hàng hoá nhiều
thành phần.
Mỗi cơ chế chỉ có thể hoạt động khi có môi trờng với những điều kiện kinh
tế-xã hội cần và đủ. Thực tiễn cho thấy rằng: con đờng lịch sử tự nhiên của các n-
ớc có nền KTTT phát triển thờng rất lâu dài. Ngày nay, khi kinh nghiệm lịch sử
của các nớc đã trở thành lý luận của ,các nớc đi sau có thể rút ngắn chặng đờng
phát triển của mình bằng cách: Nhà nớc chủ động sử dụng kiến trúc thợng tầng
quyền lực Nhà nớc để tạo ra môi trờng kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp
yên tâm đầu t mở rộng phát triển sản xuất. Để hoàn thành vai trò đó ở nớc ta,Nhà
nớc cần phảI:
+/ Tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tự do hoá giá cả, thuơng mại hoá nền
kinh tế.
+/ Quy định và bảo đảm các quyền của ngời chủ sở hữu về t liệu sản xuất.
+/ Đa dạng hoá chế độ sở hữu về t liệu sản xuất.
+/ Xây dựng hệ thống pháp luật của nền KTTT.
+/ ổn định về chính trị và xã hội.
Bốn là: Nhà nớc có thể phân phối lại thu nhập đối với các nhóm khác nhau
thông qua các chơng trình khuyến khích công bằng và sử dụng thuế.
Trên thực tế thị trờng không nhất thiết phải tạo ra sự phân phối thu nhập, bảo
đảm sự bình đẳng hay công bằng về mặt xã hội vì thị trờng hoạt động một cách tự
nhiên, không tính đến khía cạnh nhân đạo và xã hội. Nó có thể tạo ra sự bất bình
đẳng không thể chấp nhận đợc về thu nhập và tiêu dùng. Sở dĩ nh vậy là do thu
nhập phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố nh: sự nỗ lực, trình độ giáo dục cho nên kết
quả là phân phối thu nhập không bình đẳng, từ đó dẫn tới sự tiêu dùng cũng sẽ có
tính bất hợp lý.Nhng đó không phải là khuyết tật của thị trờng; và cũng không phải
là không thể điều chỉnh lại phân phối thu nhập.Lúc này Nhà nớc sẽ đóng một vai
trò vô cùng quan trọng. Nhà nớc có thể can thiệp bằng một số biện pháp nhằm
phân phối thu nhập một cách công bằng nhất, đảm bảo cho các thành viên trong xã
hội có một mức sống ổn định, đời sống của ngời dân đợc nâng cao nh chính sách
phân phối, bảo hiểm xã hội, phúc lợi xã hội, thuế
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Ví dụ nh Nhà nớc có thể đánh thuế với ngời có thu nhập càng cao thì phải
đóng thuế càng nhiều. Hay thông qua quỹ phúc lợi xã hội để trợ cấp một khoản
tiền cho ngời cao tuổi, ngời mù, ngời tàn tật, gia đình có công với cách mạng Nh
vậy có thể đảm bảo một phần đời sống cho những ngời nghèo khổ.
Năm là: Nhà nớc có thể can thiệp vào quá trình kinh tế khi cần thiêt.
Định hớng, tạo môi trờng, phân phối thu nhập là những công việc cần thiết
thể hiện vai trò của Nhà nớc trong một chiến lợc dài hạn. Trong quá trình thực
hiện các chiến lợc đó, dới ảnh hởng của cơ chế cung, cầu,giá cả trong thị trờng nội
địa, đồng thời dới ảnh hởng của quan hệ kinh tế quốc tế không tránh khỏi
nhữngcú sốc làm chệch các mục tiêu.Trong trờng hợp đó, bằng việc sử dụng
các công cụ nh lãi suất, thuế, khôí lợng tiền tệ và chi tiêu ngân sách sẽ làm giảm
những chấn động do cú sốc gây ra nhằm đa nền kinh tế đi theo định hớng.
Sáu là: Nhà nớc quản lý tài sản quốc gia, góp phần phân bổ các nguồn lực
một cách hợp lý.
Trong nền KTTT hớng tới ở nớc ta, Nhà nớc cùng một lúc phải hoàn thành
hai nhiệm vụ lớn trong lĩnh vực kinh tế, đó là:
Thứ nhất: điều khiển sự vận động của nền kinh tế bằng cách hoạch định các
chiến lợc phát triển kinh tế-xã hội dài hạn và ngắn hạn, quyết định các phơng
án phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân sao cho bình đẳng, công bằng,
hiệu quả; tạo môi trờng thuận lợi, hớng dẫn các doanh nghiệp làm ăn, can thiệp
vào nền kinh tế mỗi khi có cú sốc xảy ra, chúng ta vẫn chủ động đợc.
Thứ hai: cùng với chức năng đIều khiển nền kinh tế, Nhà nớc còn phải đóng
vai trò là ngời quản lý tài sản quốc gia, phân bổ các nguồn lực của sản xuất
một cách hợp lý. Nhà nớc ta là ngời thay mặt nhân dân quản lý các đặc quyền
đặc lợi về kinh tế trong cơng vực quốc gia. Về mật đối ngoại, Nhà nớc có trách
nhiệm bảo vệ các nguồn lực, ngăn chặn mọi âm mu từ bên ngoài đến các vùng
đặc quyền đặc lợi trong lòng đất, vùng trời và vùng biển. Về mặt đối nội, Nhà
nớc là ngời chủ sở hữu các nguồn lực này; phân bổ , sử dụng giữa các thành
phần kinh tế sao cho hợp lý.
Đồng thời, Nhà nớc còn là chủ sở hữu của doanh nghiệp nhà nớc. Với t cách
là chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nớc, Nhà nớc quản lý trực tiếp và đóng vai trò độc
quyền các thị trờng quan trọng, quyết định sự tồn tại của thể chế. Với t cách là ng-
ời chủ quản lý đất nớc, Nhà nớc là ngời trọng tàI, là chủ thể của quá trình phân
công lại vai trò giữa các thành phần kinh tế để chúng không làm triệt tiêu lợi ích
chung của toàn xã hội.
Bảy là: Nhà nớc thông qua thuế, chi tiêu và điều tiết tiền tệ để ổn định nền
kinh tế, giảm tỷ lệ thất nghiệp và lạm phát, đồng thời khuyến khích tăng trởng.
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Bất kỳ nền KTTT nào cũng khó tránh khỏi bị chấn động bởi các cuộc khủng
hoảng kinh tế, đều phải trải qua các chu kỳ kinh doanh, tức là những dao động lên
xuống của GNP hoặc GDP kèm theo đó là các dao động lên xuống về mức độ thất
nghiệp, lạm phát. Đây là căn bệnh kinh niên từ khi nền KTTT ra đời. Vậy ai sẽ là
ngời phòng và chữa những căn bệnh kinh niên đó đây? Vâng! Đó chính là Nhà
nớc. Thực tiễn lịch sử đã cho thấy: bằng việc sử dụng cẩn thận các chính sách tài
khoá và tiền tệ, Nhà nớc có thể tác động đến sản lợng, việc làm và lạm phát. Đó
chính là hai chính sách kinh tế vĩ mô nhằm ổn định và tăng trởng kinh tế. Chính
sách tài khoá thể hiện: chính phủ, thông qua sự kiểm soát thuế khoá, chi tiêu và
thông qua năng lực kiểm soát số lợng tiền trong nền kinh tế, thờng hay cố gắng
làm dịu những dao động lên xuống trong chu kỳ kinh doanh. Có thể ví dụ nh: khi
ở tình trạng suy thoái, Nhà nớc có thể giảm thuế, nhờ đó có thể tăng chi tiêu của
dân chúng dẫn đến GDP sẽ đợc nâng cao. Còn chính sách tiền tệ bao gồm: việc
xác định mức cung tiền tệ và lãI suất. Chẳng hạn khi xảy ra lạm phát cao, ngân
hàng Trung ơng có thể áp dụng biện phápthắt chặt tiền tệ nhằm làm giảm lạm
phát.
Trên đây chỉ là những vai trò hết sức cơ bản cuả Nhà nớc trong nền KTTT
định hớng XHCN ở nớc ta hiện nay.
Với sự tham gia điều tiết của Nhà nớc, nền KTTT ngày càng phát triển ổn
định và tăng trởng.
Nh vậy là trong nền kinh tế hỗn hợp, cả Nhà nớc và thị trờng đều đóng vai trò
quan trọng nh nhau. Thị trờng đợc coi làbàn tay vô hình, còn Nhà nớc đợc coi
là bàn tay hữu hình. Không ai vỗ tay chỉ bằng một bàn tay cả. Cũng nh vậy một
nền kinh tế muốn phát triển lành mạnh thì cả Nhà nớc và thị trờng đều rất cần
thiết. Vì vậy Đảng và Nhà nớc ta đã khẳng định:phát triển nền KTTT có sự quản lý
của Nhà nớc theo định hớng XHCN.
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Chơng II- Mục tiêu quản lý vĩ mô của Nhà nớc và
một số giải pháp cơ bản nhằm đổi mới và tăng c-
ờng vai trò của Nhà nớc trong nền KTTT định h-
ớng XHCN ở nớc ta hiện nay.
1. Mục tiêu quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nớc.
Từ sự phân tích ở trên ta khẳng định vai trò của Nhà nớc trong nền KTTT là
không thể phủ nhận. Vậy thì tại sao Nhà nớc lại phải can thiệp vào nền KTTT. Nói
cách khác mục tiêu của sự quản lý của Nhà nớc đối với nền kinh tế là gì? Câu trả
lời là: Nhà nớc quản lý nền kinh tế nhằm 4 mục tiêu sau:
Một là: Tăng sản lợng hàng hoá:
Ngày nay, Nhà nớc hết sức chú trọng đến vấn đề này. Nhà nớc, thông qua các
chính sách kinh tế nhằm phát triến sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt
động của các đơn vị sản xuất, kinh doanh. Có nh vậy mới có thể tạo ra đợc một
nền kinh tế hàng hoá phát triển đa dạng và phong phú.Tổng sản lợng hàng hoá
tăng lên thì cũng chính là tổng sản phẩm xã hội tăng lên và kéo theo tổng thu nhập
cũng tăng lên. Nh vậy sẽ làm tăng thu nhập của dân c và đời sống của ngời dân sẽ
ổn định.Điều này phản ánh một nền kinh tế phát triển cao.
Hai là: ổn định giá cả thị trờng:
Giá cả trên thị trờng là sự gặp nhau giữa ngời bán và ngời mua. Giá cả lên
xuống xoay quanh giá trị.Chức năng ôn định kinh tế vĩ mô và tăng trởng là nhằm
tạo ra sự phát triển ổn định,không có nhiều biến động lên xuống,làm cho hai yếu
tố cung,cầu hàng hoá sẽ ổn định,không để xảy ra trờng hợp khan hiếm sản phẩm
hay thừa sản phẩm để giá cả không bị những biến động lên xuống,tạo nên một sự
phát triển đồng đều theo thời gian và ổn định.
Ba là: Tạo ra đợc nhiều việc làm:
Ta biết rằng việc làm là để tạo ra thu nhập. Hiện nay ở nớc ta tỷ lệ thất
nghiệp rất cao.Trong một xã hội mà có nhiều ngời thất nghiệp thì sẽ có nhiều tệ
nạn xã hội xảy ra,làm cản trở nền kinh tế-xã hội phát triển lành mạnh.Bởi vậy Nhà
nớc ta đã có những biện pháp,các chính sách kinh tế nh chính sách tài chính tiền
tệ để có thể tạo ra nhiều công ăn viẹc làm cho ngời dân.Thực hiện phân công lao
động,chuyên môn hoá sâu sắc cũng là một biện pháp.Sự giàu có của mỗi cá nhân
cũng chính là sự giàu có của một xã hội.Vậy nên mục tiêu trớc hết là phải ổn định
việc làm cho ngời dân.
Bốn là: Phát triển kinh tế đối ngoại:
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Muốn phát triển nền kinh tế đất nớc thì không chỉ quan tâm đến phát triển
kinh tế đối nội mà phải quan tâm cả phát triển kinh tế đối ngoại.Hiện nay Nhà nớc
đã có những chính sách khuyến khích đầu t nớc ngoài,tạo những điều thuận lợi
nhất cho các hoạt động đầu t đó.Tăng cờng hoạt động xuất nhập khẩu,mở
rộngquan hệ hợp tác kinh tế quốc tế,từ đó có điều kiện phát triển nền kinh tế.
Đó là 4 mục tiêu cơ bản nhằm giúp cho qúa trình phát triển kinh tế-xã hội n-
ớc ta diễn ra thuận lợi và nhanh chóng hơn.Nó sẽ định hớng cho Nhà nớc ta đi
đúng con đờng mà mình đã chọn.
2. Một số giải pháp cơ bản nhằm đổi mới và tăng cờng vai trò của Nhà nớc
trong nền KTTT định hớng XHCN ở nớc ta hiện nay.
Bài học kinh nghiệm quan trọng đầu tiên đối với nớc ta trong điều kiện phát
triển KTTT theo định hớng XHCN là không những không hạ thấp mà phải tăng c-
ờng hơn nữa,nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý kinh tế-xã hội của Nhà nớc.Để
tăng cờng vai trò của Nhà nớc trong nền KTTT cần chú ý một số giải pháp sau:
2.1. Xác định mục tiêu, chiến lợc phát triển kinh tế-xã hội phù hợp với đặc
điểm kinh tế-xã hội ở nớc ta và bối cảnh quốc tế hiện nay:
Bối cảnh quốc tế hiện nay đang đứng trớc những diễn biến mới.Xu thế thơng
mại hoá toàn cầu cùng với xu thế hoà bình,ổn định,cải cách và chuyển dịch cơ cấu
để phát triển đang là sự lựa chọn của các quốc gia để tồn tại và phát triển.Cạnh
tranh kinh tế quốc tế hiện nay ngày càng ác liệt,toàn diện để tìm kiếm thị tr-
ờng,nguồn nguyên liệu,vốn đầu t,khoa học công nghệ,chất xám Quá trình cạnh
tranh trên thị trờng quốc tế đang làm nảy sinh những yêu cầu mới về hợp tác,đồng
thời cũng gây ra những xung đột vì lợi ích dân tộc và khu vực trên thế giới.Bối
cảnh đó tác động sâu sắc đến mọi mặt của đời sống kinh tế-xã hội nớc ta,tạo ra
những cơ hội và những thách thức mới.
Tổng kết những thành tựu mà chúng ta đạt đợc sau 10 năm thực hiện chiến l-
ợc ổn định và phát triển kinh tế (1991-2000), tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần
thứ IX, đảng ta khẳng định: Đất nớc ta đã ra khỏi khủng kinh tế-xã hội; vợt qua
đợc những cơn chấn động chính trị và sự hẫng hụt về thị trờng do những biến động
ở Liên Xô và Đông Âu gây ra; phá đợc thế bị bao vây cấm vận,mở rộng đợc quan
hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế;không để bị cuốn sâu vào cuộc
khủng hoảng tài chính-kinh tế ở một số nớc Châu á ; quốc phòng và an ninh đợc
tăng cờng .
Tuy đây chỉ là những thành tựu hết sức khiêm tốn do công cuộc đổi mới
mang lại, song nó lại có ý nghĩa cực kỳ quan trọng cho những bứơc phát triển sau
này.Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên cũng nh những cơ hội và thách thức trong
giai đoạn mới,đảng ta đã xác định đựơc mục tiêu tổng quát của kế hoạch 5 năm
(2001-2005) là: Tăng trởng kinh tế và bền vững, ổn định và cải thiện đời sống
nhân dân.Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế,cơ cấu lao động theo hớng công
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
nghiệp hoá-hiện đại hoá.Nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh
tế.Mở rộng kinh tế đối ngoại.Tạo chuyển biến mạnh về giáo dục và đào tạo,khoa
học và công nghệ.Phát huy nhân tố con ngời.Tạo nhiều việc làm;cơ bản xoá
đói,giảm nghèo,đẩy lùi các tệ nạn xã hội.Tiếp tục tăng cờng kết cấu hạ tầng kinh
tế,xã hội;hình thành một bớc quan trọng thể chế KTTT định hớng XHCN.Giữ
vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội,bảo vệ vững chắc độc lập,chủ
quyền,toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia.
Để có cơ sở đề ra các chính sách đúng và chỉ đạo có hiệu quả cần tiếp tục cụ
thể hoá mô hình phát triển KTTT có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng
XHCN nhằm thực hiện tăng trởng cao và bền vững trên các lĩnh vực.
2.2. Tạo điều kiện để đảm bảo nền kinh tế tăng trởng cao và bền vững:
Trên cơ sở những mục tiêu chiến lợc tổng quát trên,trong những năm trớc
mắt,vấn đề có ý nghĩa quan trọng hàng đầu để chống tụt hậu xa so với các nớc
trong khu vực và trên thế giới là đảm bảo tốc độ tăng trởng kinh tế cao và ổn định.
Theo báo cáo chính thức,GDP của Việt Nam đang ngày càng gia tăng:năm
2001 tăng 6,8%,năm 2002 tăng7%.Theo số liệu của tổng cục thống kê GDP năm
2003 có thể đạt 536.098 tỷ đồng( khoảng 35 tỷ USD) (5)
Tuy GDP có tăng song so với các nớc trong khu vực và trên thế giới thì GDP
của Việt Nam vẫn đợc xếp vào loại thấp.Mục tiêu của chúng ta là đa GDP năm
2010 lên ít nhất gấp đôi năm 2000. Để thực hiện đợc mục tiêu nay,trớc hết Việt
Nam cần phải có một chiến lợc tăng trởng năng động,sáng tạo,hợp với điều kiện
của Việt Nam trong điều kiện phát triển sôi động của thế giới hiện nay.
Vấn đề có ý nghĩa quyết định là phải đảm bảo các điều kiện về giải quyết các
mối liên hệ trong quá trình tăng trởng.Những điều kiện và những mối liên hệ này
là:
a. Về vốn:
Muốn có tốc độ tăng trởng cao trong điều kiện nớc ta đòi hỏi phải có một
nguồn vốn lớn. Lợng vốn này đợc huy động 2 nguồn: vốn trong nớc và vốn nớc
ngoài trong đó vốn nớc ngoài chiếm một vai trò tơng đối quan trọng. Kinh nghiệm
cho thấy trên thế giới hiện nay không có một quốc gia nào lại đặt hy vọng vào việc
công nghiệp hoá chỉ bằng vốn của bản thân mình. Ngay cả đối với 4 con rồng
châu á là Hàn Quốc - Đài Loan Hồng Kông Singapo, qua nghiên cứu ta thấy
thời kỳ đầu công nghiệp hoá vốn nớc ngoài chiếm tới 30% - 40% tổng giá trị đầu
t. Sau đó nhờ tích luỹ vốn trong nớc tăng lên, tỷ lệ vốn nớc ngoài giảm xuống còn
10% - 20% nhng vẫn rất lớn về số lợng tuyệt đối.
Vốn nớc ngoài rất quan trọng, vậy mà thực tế những năm qua cho thấy việc
huy động vốn nớc ngoài bao gồm FDI và ODA của Việt Nam gặp rất nhiều khó
khăn. Theo số liệu của tổng cục thống kê Việt Nam, số vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét