Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

mối quan hệ giữa tạo lập, thu hút và sử dụng vốn đầu tư. Lấy thực tế ở Việt nam để chứng minh.

Vốn của các doanh nghiệp, bao gồm vốn của các doanh nghiệp nhà nước và các
doanh nghiệp tư nhân hay dân doanh. Các doanh nghiệp sử dụng vốn của mình để thực hiện
các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm hoặc tiến hành các hoạt động khác được
pháp luật cho phép để phục vụ xã hội, cộng đồng.
Nguồn vốn tiết kiệm của nhân dân. Đây là nguồn vốn có tiềm năng lớn. Quy mô
nguồn vốn này phụ thuộc nhiều vào thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình, vào trình độ
phát triển của đất nước( ở những nước có trình độ phát triển thấp thường có quy mô và tỷ lệ
tiết kiệm thấp), tập quán tiêu dùng của dân cư, các chính sách của nhà nước như lãi suất huy
động tiền gửi, thuế thu nhập, các khoản đồng góp đối với xã hội.
Bên cạnh nguồn vốn trong nước, nguồn vốn nước ngoài có vai trò rất quan trọng
trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Nguồn vốn nước ngoài gồm vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài( FDI – Foreign Direct Investment) và vốn đầu tư gián tiếp( FPI –
Foreign Portfolio Investment).
Tóm lại dù phân chia theo tiêu thức nào thì xét cho cùng vốn đầu tư cũng có nguồn
gốc từ tiết kiệm. Theo J.M. Keynes – nhà kinh tế học nổi tiếng người Anh, trong cuốn “Lý
thuyết việc làm, lãi suất và tiền tệ”, trên góc độ nền kinh tế “tổng vốn đầu tư bằng tổng tiết
kiệm”. Ông viết: “ Xết về tổng thể, số lượng dôi ra của thu nhập so với tiêu dùng mà chúng
ta gọi là tiết kiệm không thể khác với phần tăng thêm vào trang thiết bị sản xuất mà chúng
ta gọi là đầu tư”.
3.Tạo lập vốn đầu tư:
Tạo lập vốn đầu tư bao gồm các hoạt động sản xuất, kinh doanh của các cá nhân, tâp
thể, doanh nghiệp, chính phủ, … các thành phần kinh tế . Các hoạt động này nhằm tạo ra
giá trị gia tăng cho nền kinh tế và từ đó hình thành nên nguồn tích lũy hay tiết kiệm.
Theo nghĩa chung nhất Tiết kiệm là phần còn lại của thu nhập sau khi tiêu dùng.
Vai trò của tạo lập vốn đầu tư:
Tạo lập vốn đầu tư có trò quan trọng gián tiếp đến tăng trưởng kinh tế, tạo điều kiện
cho quá trình tái sản xuất xã hội.
Tạo lập vốn đầu tư là nguồn hình thành nên tiết kiệm, Trong tác phẩm “của cải của
các dân tộc”( 1776), Adam Smith, một đại diện của trường phái kinh tế học cổ điển đã
khẳng định: “ Tiết kiệm là nguyên nhân trực tiếp gia tăng vốn. Lao động tạo ra sản phẩm
để tích lũy cho quá trình tiết kiệm. Nhưng dù có tạo ra bao nhiêu chăng nữa, nhưng không
có tiết kiệm thì vốn không bao giờ tăng lên”.
Theo quan điểm của K. Max, con đường cơ bản và quan trọng về lâu dài để tái sản
xuất mở rộng là phát triển sản xuất và thực hành tiết kiệm ở cả trong sản xuất và tiêu dùng.
Hay nói cách khác nguồn lực cho đầu tư tái sản xuất mở rộng chỉ có thể được đáp ứng do sự
gia tăng sản xuất và tích lũy của nền kinh tế.
Trong tác phẩm nổi tiếng “Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ” John
Maynard Keynes đã chứng minh được rằng đầu tư bằng tiết kiệm, và ông chỉ ra được rằng
đầu tư có tác động trực tiếp làm tăng tổng sản lượng quốc dân tức là có tác động trực tiếp
đến tăng trưởng kinh tế.
Các phương pháp tạo lập vốn đầu tư:
Đứng trên góc độ vĩ mô có thể tạo lập vốn đầu tư thông qua tổng sản phẩm quốc dân,
tổng sản phẩm quốc dân tăng sẽ là điều kiện trực tiếp để tăng tích lũy. Đây là kênh tạo lập
có vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra tích lũy cho nền kinh tế. Sở dĩ nó có vai trò quan
trọng như vậy là vì nó tác động trực tiếp đến tích lũy của một quốc gia, tổng sản phẩm quốc
dân sau khi trừ đi tiêu dùng sẽ là phần tích lũy của nền kinh tế. Như vậy ta có thể tăng tích
lũy thông qua hai cách. Thứ nhất: với điều kiện tổng sản phẩm quốc dân không đổi thì tích
lũy chỉ được tăng lên khi tiêu dùng giảm. Thứ hai: với điều kiện tổng sản phẩm quốc dân
5
thay đổi thì khi tổng sản phẩm quốc dân tăng lên thì tích lũy trong nền kinh tế sẽ tăng với
mức tiêu dùng cố định, hoặc tiêu dùng tăng nhưng tốc độ tăng nhỏ hơn tốc độ tăng tích lũy.
Như vậy tạo lập qua tổng sản phẩm quốc dân sẽ tạo lập được lượng vốn lớn về mặt chất
cũng như lượng, vì thế nhiệm vụ đặt ra là nên phát huy vai trò của kênh tạo lập này để có
thể thực hiện được các mục tiêu cho đầu tư tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Đứng trên góc độ vi mô có thể tạo lập vốn đầu tư thông qua các doanh nghiệp, các cá
nhân và hộ gia đình. Các nhân tố kinh tế này sẽ trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất
kinh doanh và sẽ trực tiếp tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế, tức là tích lũy của nền kinh
tế sẽ tăng lên. Thực tế ngày càng cho thấy vai trò của các nhân tố này ngày càng quan trọng
trong việc tạo lập vốn, các nhân tố này sẽ là điều kiện cơ bản và lâu dài cho việc tạo lập các
nguồn vốn một cách bền vững.
4. Thu hút vốn đầu tư:
Thu hút vốn đầu tư bao gồm các hoạt động, biện pháp và chính sách nhằm đưa
nguồn vốn từ tích lũy trong nền kinh tế sang đầu tư.
Các nhân tố ảnh hưởng tới thu hút đầu tư:
Thu hút vốn đầu tư có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế -
xã hội, tuy nhiên việc thu hút vốn đầu tư không phải là dễ dàng mà nó còn phụ thuộc vào
một số nhân tố như sau
Thứ nhất:như chúng ta đã biết, đầu tư là hành động bỏ vốn ngày hôm nay để thu lại
lợi nhuận trong tương lai, việc bỏ vốn của nhà đầu tư sẽ phụ thuộc nhiều vào môi trường
đầu tư, vì vậy môi trường đầu tư có một vị trí vô cùng quan trọng. Theo nghĩa chung nhất
môi trường đầu tư là tổng hòa các yếu tố bên ngoài liên quan đến hoạt động đầu tư. Có
nhiều cách phân loại môi trường đầu tư, song theo nhiều nhà kinh tế, môi trường đầu tư có
thể chia ra môi trường cứng và môi trường mềm.
Môi trường cứng liên quan đến các yếu tố thuộc kết cấu hạ tầng kỉ thuật phục vụ cho
sự phát triển kinh tế, gồm: hệ thống hạ tầng giao thông (đường sá, cầu cảng hàng không,
cảng biển, hệ thống thông tin liên lạc, năng lượng). Môi trường mềm bao gồm: Hệ thống
các dịch vụ hành chính, dịch vụ pháp lý liên quan đến hoạt động đầu tư (đặc biệt là các vấn
đề liên quan đến chế độ đối xử giải quyết các tranh chấp khiếu nại); Hệ tjoongs các dịch vụ
tài chính – ngân hàng, kế toán và kiểm toán …
Mọi hoạt động đầu tư suy ra cho cùng là để thu lợi nhuận, vì thế môi trường đầu tư
hấp dẫn phải là một môi trường có hiệu quả đầu tư cao, mức độ rủi ro thấp. Điều này lại
chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố như: chính sách, cơ chế ưu đãi đầu tư của địa bàn được
đầu tư, điều kiện phát triển về kết cấu hạ tầng, mức độ hoàn thiện về thể chế hành chính –
pháp lý, khả năng ổn định về mặt chính trị - xã hội, độ mở cửa nền kinh tế, sự phát triển của
hệ thống thị trường… Các nhân tố trên có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, vì vậy để
nâng cao chất lượng và hiệu quả của môi trường đầu tư nhât thiết phải quan tâm xử lý đồng
bộ các yếu tố ảnh hưởng trên
Thứ hai: mức độ phát triển về quản lý kinh tế vĩ mô, chất lượng cung cấp dịch vụ
phục vụ cho hoạt động sản xuất và kinh doanh, mức độ cạnh tranh của thị trường trong
nước cũng ảnh hưởng đến quá trình thu hút vốn đầu tư. Mức độ phát triển về quản lý kinh tế
vĩ mô thấp dẫn đến các hiện tượng lạm phát cao, nợ nước ngoài nhiều, tham nhũng, thủ tục
hành chính rườm rà, tăng trưởng kinh tế thấp, …là nguyên nhân tiềm ẩn gây nên khủng
hoảng. Chất lượng dịch vụ cơ sở hạ tầng kém ảnh hưởng trực tiếp tới sự vận hành các hoạt
động sản xuất kinh doanh cũng như đời sống của các nhà đầu tư nước ngoài, khiến tăng chi
phí sản xuất, chất lượng sản phẩm không cao. Chất lượng các dịch vụ khác như cung ứng
lao động, tài chính cũng là những yếu tố rất cần để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Tính
6
cạnh tranh của các nước chủ nhà sẽ giảm được rào cản đối với đầu tư nước ngoài, các nhà
đầu tư có thể lựa chọn lĩnh vực đầu tư để phát huy lợi thế so sánh của mình.
Bên cạnh đó, môi trường luật pháp và chính sách đầu tư là một trong những điều
đầu tiên mà các nhà đầu tư quan tâm khi lựa chọn thị trường đầu tư. Bởi quá trình đầu tư
liên quan đến rất nhiều lĩnh vực hoạt động trong một thời gian dài, nên cần một môi trường
pháp lý ổn định và có hiệu lực là một yếu tố quan trọng để quản lý và thực hiện đầu tư một
cách có hiệu quả. Môi trường này bao gồm các chính sách, qui định, luật cần thiết đảm bào
sự nhất quán, không mâu thuẫn, chồng chéo nhau và có tính hiệu lực cao.
Điều kiện để thu hút vốn đầu tư:
Thứ nhất, tạo lập và duy trì năng lực tăng trưởng nhanh và bền vững cho nền kinh tế.
Xét trong dài hạn, năng lực tăng trưởng của nền kinh tế là yếu tố quan trọng xác định triển
vọng huy động các nguồn vốn đầu tư một cách hiệu quả. Vấn đề tăng trưởng ở đây được
nhìn nhận như một yếu tố tạo sức hấp dẫn ngày càng lớn đối với cả vốn đầu tư trong nước
cũng như nước ngoài. Nó thể hiện nguyên tắc mang tính chủ đạo trong thu hút vốn đầu tư:
Vốn đầu tư được sử dụng càng hiệu quả thì khả năng thu hút nó càng lớn. Thứ nhất, với
năng lực tăng trưởng được đảm bảo, năng lực tích lũy của nền kinh tế sẽ có khả năng gia
tăng. Khi đó quy mô các nguồn vốn trong nước có thể huy dộng được cải thiện. Thứ hai,
triển vọng tăng trưởng và phát triển càng cao cũng là tín hiệu tốt thu hút các nguồn vốn đầu
tư nước ngoài.
Thứ hai, đảm bảo ổn định môi trường kinh tế vĩ mô. Đây được coi là điều kiện tiên
quyết cho mọi ý định và hành vi đầu tư. Sự an toàn của vốn đòi hỏi môi trường kinh tế vĩ
mô, chính trị xã hội và môi trường kinh doanh ổn định. Đối với vốn đầu tư nước ngoài còn
yêu cầu năng lực trả nợ tối thiểu của nước nhận vốn đầu tư
Thứ ba, xây dựng các chính sách huy động các nguồn vốn có hiệu quả.
Bên cạnh tiềm năng tăng trưởng và ổn định nền kinh tế vĩ mô, để có thể huy động
các nguồn vốn cần có các chính sách và giải pháp hợp lý và đồng bộ trên cơ sở tính toán
tổng hợp đảm bảo khuyến khích, định hướng các hoạt động thu hút và cung ứng vốn
Thu hút vốn đầu tư có vai trò như thế nào?
Cũng như tạo lập vốn đầu tư thu hút vốn đầu tư có vai trò quan trọng đến tăng
trưởng kinh tế, tuy nhiên tác động của nó cũng là gián tiếp, nó không trực tiếp tiến hành đầu
tư mà nó thu hút các nguồn tích lũy trong nền kinh tế tạo thành vốn đầu tư, vốn đầu tư là
yếu tố quan trọng cho việc thực hiện hoạt động đầu tư làm cho nền kinh tế tăng trưởng.
Nếu không có hoạt động thu hút vốn thì nguồn tích lũy trong nền kinh tế không được
đưa vào sử dụng, điều này dẫn đến tình trạng không có nguồn vốn đầu tư tái sản xuất xã hội
và tất yếu là nền kinh tế sẽ không tăng trưởng. Mặt khác nếu không có hoạt động thu hút
vốn thì việc tạo lập vốn đầu tư sẽ không còn ý nghĩa gì nữa, vì vậy thu hút vốn đầu tư là cơ
sở cho tạo lập và là điều kiện cho sử dụng vốn đầu tư.
Các công cụ thu hút vốn đầu tư
5. Sử dụng vốn đầu tư:
Sử dụng vốn đầu tư bao gồm các hoạt động phân bổ, quản lý và giám sát quá trình chuyển
biến của vốn từ hình thái tiền tệ sang hình thái vật chất dưới dạng các kết quả đầu tư nhằm
phục vụ trực tiếp cho quá trình tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng của nền kinh tế.
Vai trò của sử dụng vốn đầu tư:
Cơ chế phân bổ vốn, cơ chế quản lý và giám sát hoạt động đầu tư sẽ có ảnh hưởng
trực tiếp và cơ bản đến hiệu quả đầu tư và chất lượng tăng trưởng của mỗi quốc gia. Cơ chế
phân bổ vốn hiểu quả sẽ giúp cho quá trình điều tiết vốn đến được đúng địa chỉ thực sự nhu
cầu sử dụng vốn, giúp nền kinh tế chuyển dịch vốn từ nơi dư thừa sang nơi thiếu, từ nơi sử
dụng kém hiểu quả sang nơi hiệu quả hơn. Cơ chế quản lý công khai và minh bạch sẽ giúp
7
cho quá trình giám sát thực hiện đầu tư được thực hiện triệt để và từ đó sẽ góp phần nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn.
Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư là hiệu quả sử dụng một bộ phận nguồn lực đầu vào rất
quan trọng của nền kinh tế, là thước đo trình độ tổ chức quản lý và khai thác, sử dụng vốn
đầu tư phát triển vào các hoạt động kinh tế nhằm tối đa hóa lợi ích của chủ đầu tư và các lợi
ích kinh tế xã hội khác với chi phí thấp nhất. Hiệu quả đầu tư phản ánh mối quan hệ so sánh
giữa kết quả đạt được với tổng số vốn đầu tư phát triển đã được sử dụng để tạo ra kết quả
đó. Hiệu quả vốn đầu tư có thể được đo bằng các chỉ tiêu trực tiếp (ví dụ : GDP/VĐT ) và
các chỉ tiêu gián tiếp ( ví dụ : hệ số ICOR),hiệu quả tài chính và hiệu quả Kinh tế - xã hội.
Với những ý nghĩa trên, có thể thông qua chỉ tiêu hiểu quả sự dụng vốn đầu tư – bộ phận
nguồn lực đầu vào rất quan trọng để phát triển Kinh tế xã hội để đánh giá chất lượng tăng
trưởng kinh tế.
Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
i) Phương pháp phân tích hệ số Icor: Nhiều mô hình tăng trưởng kinh tế tập trung nghiên
cứu mối quan hệ giữa đầu tư (nhân tố đầu vào) với tăng trưởng kinh tế. Trong đó, mô hình
Horrod – Domar là một trong nhưng mô hình tươn đối điển hình. Trong mô hình này không
xem xét đến các yếu tố như lao dộng, tiến bộ công nghệ và các yếu tố phản anh chất lượng
tăng trưởng khác. Tuy nhiên trông qua việc phân tích mối quan hệ giữa vốn đầu tư và và
quy mô tăng trưởng cũng có thể gián tiếp đánh giá được chất lượng tăng trưởng của nền
kinh hay hiệu quả sự dụng vốn của một quốc gia.
G = ∆Y/Y = ∆Y/Y * ∆K/K = ∆Y/∆K*∆K/Y
G = 1/ICOR*I/Y
ICOR = I/∆Y
Trong đó G là tốc độ tăng trưởng kinh tế; ∆Y là mức gia tăng sản lượng; Y là quy mô
sản lượng; ∆K là mức gia tăng vốn đầu tư; K là tổng quy mô vốn đầu tư của nền kinh tế
ICOR phản ánh, để tăng thêm một đơn vị sản lượng cần tăng bao nhiêu đơn vị vốn đầu
tư. Tại mỗi quốc gia, trong một giai đoạn nhất định nếu các biến số khác không đổi, ICOR
gia tăng cho thấy: mỗi đơn vị sản lượng đầu ra cần nhiều vốn đầu tư hơn, do đó, hiệu quả
cận biên của một đơn vị vốn đã bị suy giảm. Ở một mức độ nhất định, điều này phản ánh
hiệu quả sử dụng vốn đầu tư giảm, chất lượng tăng trưởng có xu hướng đi xuống. Tuy nhiên
để đánh giá đúng hiệu quả sử dụng vốn qua ICOR cần phải phân tích phối hợp với các chỉ
tiêu khác như: chỉ tiêu TFP, giá thành sản phẩm, …
ii) Phương pháp phân tích năng suất nhân tố tổng hợp (TFP).
Để tính chỉ tiêu TFP có thể áp dụng phương pháp do tổ chức năng suất châu Á đưa
ra với công thức có dạng:
I
TFP
= I
Y
- (α.I
K
+ βI
L
)
Trong đó:
I
Y
là tốc độ gia tăng sản lượng
I
K
là tốc độ gia tăng của vốn
I
L
là tốc độ gia tăng của lao động
α, β là hệ số đóng góp của vốn và lao động đến tăng trưởng
Khi áp dụng công thức trên cần lưu ý là, do đặc điểm hạch toán của Việt Nam, thu
nhập lấy từ sổ hạch toán theo sổ sách hoặc có trong số liệu thống kê mới chỉ gồm phần thu
nhập chính của họ( ở đây gọi là thu nhập trực tiếp) còn một số khoản thu nhập dưới dạng
khác như tiền đóng góp bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội do doanh nghiệp, đơn vị đảm nhận,
tiền mua sắm quần áo bảo hộ lao động … ( có thể gọi là các khoản thu nhập khác) thì
thường chưa được tính vào thu nhập. Thực tế đó làm cho các hệ số α, β tính theo số liệu
8
hiện có sẽ bị sai lệch ( β bị thu hẹp còn α bị cường điệu). Vì vậy, để phản ánh chính xác
mức độ đóng góp của lao động và vốn trong quá trình tạo ra kết quả sản xuất, hệ số β phải
được tính trên cơ sở thu nhập đầy đủ của người lao động ( bao gồm cả thu nhập trực tiếp và
thu nhập khác) theo công thức:
β = ( thu nhập đầy đủ của người lao động)/(giá trị gia tăng)
α = 1 – β
Trên thực tế, do chỉ có số liệu thu nhập trực tiếp nên không thể xác định thu nhập
đầy đủ bằng cách cộng thu nhập trực tiếp với thu nhập khác phải tính toán gián tiếp qua hệ
số điều chỉnh sau:
Thu nhập đầy đủ = Thu nhập trực tiếp x hệ số điều chỉnh
Hệ số điều chỉnh = Tỷ số giữa thu nhập đầy đủ và thu nhập khác được
tính toán trên phạm vi số liệu điều tra chuyên đề ở phạm vi hẹp vào một
năm nào đó rồi dùng cho nhiều năm
II. TÁC ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA VIỆC SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ ĐẾN CHẤT
LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TÊ:
1. Sử dụng vốn đầu tư hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư và do đó tác
động tích cực đến tăng trưởng:
Sử dụng hợp lý vốn đầu tư là việc sử dụng đúng mục đích, tiến độ và yêu cầu đầu tư,
được xem xét cả trên phương diện doanh nghiệp và nền kinh tế, liên quan đến mọi khâu
trong quá trình đầu tư, từ việc huy động, phân bổ vốn đến việc quản lý sử dụng. Quá trình
sử dụng vốn đầu tư liên quan trực tiếp đến các chính sách tập trung và phân bổ vốntrong
nền kinh tế. Các chính sách, cơ chế huy động và phân bổ vốn hợp lý không chỉ góp phần
làm gia tăng quy mô vốn trong nền kinh tế mà còn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, gia tăng
mức độ đóng góp của nhân tố vốn trong tốc độ tăng trưởng, do đó, nâng cao được chất
lượng tăng trưởng. Ngược lại, các chủ trương, chính sách đầu tư không hợp lý, năng lực
quản lý yếu kém có thể dẫn đến sự mất cân đối trong huy động các nguồn lực, hiệu quả và
mức độ đóng góp của các nguồn lực không tương xứng với tiềm năng, dẫn đến những tác
động tiêu cực trong tăng trưởng kinh tế, tạo ra chất lượng tăng trưởng không cao. Chẳng
hạn, với chính sách bao cấp trong đầu tư( qua chế độ cấp phát vốn, tín dụng …) một mặt sẽ
tạo ra sự khan hiếm và lãng phí vốntrong một số đối tượng được bao cấp, phân bổ vốn
không hợp lý và dẫn đễ hiệu quả đầu tư không cao.
Chính sách đầu tư của một quốc gia, năng lực quản lý hoạt động đầu tư của các cấp.
các yếu tố của môi trường đầu tư và yếu tố thể chế trong nền kinh tế thị trường có tác động
mạnh đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và các nguồn lực khác và sau cùng tác động đến
chất lượng tăng trưởng kinh tế.
2. Tác động của việc sử dụng vốn đầu tư đến năng suất nhân tố tổng hợp và do
đó tác động đến chất lượng tăng trưởng kinh tế:
Năng suất nhân tố tổng hợp ( Total Factor Productivity – TFP) là chỉ tiêu phản ánh
kết quả sản xuất do sử dụng hiệu quả nhân tố vốn và lao động( Các nhân tố hữa hình – được
xác định bằng số lượng), do tác động của các yếu tố vô hình như cải tiến quản lý, đổi mới
công nghệ. Hợp lý hóa sản xuất, nâng cao trình độ lao động … Năng suất nhân tố tổng hợp
cho biết mức độ đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của các yếu tố đầu vào bao gồm yếu tố
vốn đầu tư, lao động và các yếu tố ngoài hai yếu tố này.
Sử dụng vốn đầu tư ( một nhân tố đầu vào) hiệu quả có ảnh hưởng đến mức tăng
giảm của TFP và do đó, đến chất lượng tăng trưởng kinh tế. Tác động của việc sử dụng vốn
đầu tư dến chỉ tiêu năng suất nhân tố tổng hợp không chỉ gồm tác động trực tiếp mà còn có
sự tác động gián tiếp thông qua việc đầu tư vốn vào nhân tố lao động( một yếu tố đầu vào
9
hữu hình khác) và vào các yếu tố vô hình như nâng cao trình độ quản lý, cải thiện môi
trường thể chế … Đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trực tiếp làm tăng năng suất
lao động và ảnh hưởng nhất định đến năng suất nhân tố tổng hợp do nâng cao trình độ tay
nghề, hợp lý hóa quá trình sản xuất, tổ chức lao động … Từ đó có tác động đến chất lượng
tăng trưởng kinh tế. Có thể nói, TFP chỉ có thể tăng nhanh khi chất lượng nguồn nhân lực
gia tăng.
Sử dụng vốn đầu tư hợp lý nhằm gia tăng năng suất nhân tố tổng hợp không chỉ phụ
thuộc vào quy mô vốn đầu tư vào giáo dục đào tạo để nâng cao chất lượng thể chất và tinh
thần của nguồn nhân lực mà còn liên quan chặt chẽ với việc tạo cơ hội bình đẳng giữa
những người lao động trông nền kinh tế. Nghiên cứu của Ngân hàng thế giới đối với 85
quốc gia trên phạm vi toàn thế giới cho thấy những quốc gia thuộc nhám thu đầu người cao
nhất là những quốc gia tạo được cơ hội giáo dục và đào tạo bình đẳng nhất. Hàn Quốc là
quốc gia tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ nhất về sự bình đẳng các cơ hội giáo dục trong
dân cư suốt 3 thập kỷ qua cũng là quốc gia đạt được sự tăng trưởng ngoạn mục với quy mô
GDP đứng thứ 10 thế giới và đã chính thức được rút ra khỏi danh sách các nước đang phát
triển.
Để tăng năng suất nhân tố tổng hợp cần phải có những chính sách huy động tổng cái
lực trong nền kinh tế, tạo điều kiện phát huy tiềm lực và cơ hội đầu tư từ nhiều đối tượng và
thành phần kinh tế. Nhiều nghiên cứu cho thấy, các cơ hội đầu tư và sự phân bố bình đẳng
cơ hội đầu tư sẽ được phát huy trong điều kiện mở cửa hội nhập, tri thức phát triển, khoa
học công nghệ tiên tiến. Mở cửa hội nhập sẽ mở rộng cơ hội huy động nguồn lực và tạo
điều kiện phân bố, sử dụng các nguồn lực hiệu quả hơn. Công nghệ tiên tiến sẽ trực tiếp
tăng năng suất, cải tiến phương pháp sản xuất đạt hiệu quả cao và hơn hết nó tác động tích
cực đến việc gia tăng năng suất nhân tố tổng hợp.
3. Tác động của của việc sử dụng vốn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng CNH – HĐH:
Cơ cấu kinh tế là tổng thể các yếu tố cấu thành nền kinh tế, liên hệ chặt chẽ, tác động
qua lại với nhau trong không gian và thời gian, trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất
định, được thể hiện cả về mặt định tính và định lượng, phù hợp với mục tiêu đã xác định
của nền kinh tế. Sử dụng vốn đầu tư hợp lý, hiệu quả theo cách đầu tư trọng tâm trọng điểm
trên cơ sở qui hoạch, kế hoạch đầu tư, xây dựng một cơ chế đầu tư hợp lý có tác dụng quan
trọng trong việc chuyển định, đổi mới cơ cấu kinh tế ngành, vùng, đổi mới cơ cấu theo các
thành phần kinh tế, cơ cấu kih tế thành thị nông thôn … đồng thời góp phần thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế cao. Nói cách khác, kết quả của hoạt động sử dụng vốn đầu hợp lý là sự thây
đổi cơ cấu kinh tế theo hướng ngày càng hợp lý hơn, phát triển toàn diện hơn và theo hướng
CNH, HĐH. Điều này đồng nghĩa với việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế.
4. Tác động của hoạt động sử dụng vốn đầu tư đến khả năng nâng cao sức
cạnh tranh của doanh nghiệp và của nền kinh tế:
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và của nền kinh tế được đánh giá qua năng
lực cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ mà doanh nghiệp và nền kinh tế tạo ra. Sử dụng vốn
đầu tư bất hợp lý, không hiệu quả, công tác qui hoạch, kế hoạch đầu tư còn nhiều yếu kém
dẫn đến chất lượng thấp, giá thành sản phẩm cao và năng lực cạnh tranh thấp. Trên góc độ
đầu tư, để nâng cao năng lực cạnh tranh, một trong các yếu tố then chốt có tính đột phá là
thực hiện đa dạng hóa các nguồn vốn và tăng cường tính cạnh tranh giã các nguồn vốn huy
động. Bản thân các nguồn vốn, một trong những nguồn lực cơ bản cho đầu tư, khi được đặt
trong môi trường cạnh tranh và có cơ chế huy động và phân bổ vốn theo tín hiệu của thị
10
trường thì hiệu quả đầu tư mới được chú trọng đúng mức, do đó chất lượng tăng trưởng mới
được đề cao.
Đặc tính cố hữu của nhiều nền kinh tế đang phát triển là thiếu vốn, thiếu kinh
nghiệm quản lý tiên tiến, thiết bị và máy móc lạc hậu dẫn đến năng suất, chất lượng thấp và
giá thành cao. Công tác quy hoạch, kế hoạch đầu tư yếu kém, chưa xuất phát từ nhu cầu thị
trường, khả năng dự báo kém … Do hiệu quả và hiệu lực cảu quy hoạch dẫn đến tính kết
nối, sự liên kết giữa các ngành, các dự án trong quá trình sản xuất hạn chế. Sản phẩm sản
xuất ra bị ứ đọng gây lãng phí các nguồn lực xã hội. Nhiều hàng xuất khẩu là nông, lâm,
thủy sản năng lực cạnh tranh yếu do không có chiến lược đầu tư dài hạn … Tất cả đều là
những nhân tố có ảnh hưởng lớn đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và nền kinh
tế.
5. Tác động của vốn đầu tư đến chất lượng và giá thành sản phẩm:
Chất lượng và giá thành sản phẩm là các chỉ tiêu quan trọng phản ánh mặt chất của
tăng trưởng kinh tế. Chất lượng và giá thành sản phẩm lại chịu sự tác động lớn của hoạt
động tiết kiệm, chống lãng phí thất thoát vốn và việc sử dụng hiệu quả vốn đầu tư.
Cơ chế huy động và phân bổ vốn đầu tư hiệu quả có ảnh hưởng trực tiếp đến chất
lượng và giá thành sản phẩm sản xuất. Khi cơ chế huy động vốn được thực hiện theo
phương thức phi thị trường thì khả năng huy động các nguồn lực bị hạn chế, chất lượng
nguồn lực không đảm bảo, dẫn đến tình trạng khan hiếm giả tạo và sử dụng các nguồn lực
lãng phí. Do đó phí sử dụng vốn không được đánh giá đúng làm cho bản thân người sử
dụng vốn không quan tâm đến khả năng sinh lời của mỗi đồng vốn sủ dụng. Đầy là nguyên
nhân trực tiếp dẫn đến chất lượng của các công trình xâu dựng không đảm bảo, sản phẩm
sản xuất ra chất lượng thấp. Sự lãng phí trong sủ dụng vốn sẽ dẫn đến giá thành của các sản
phẩm cao.
Có chế huy động và phân bổ vốn kém hiệu quả thường đi liền với chính sách bao cấp
vốn trực tiếp hoặc gián tiếp của nhà nước cho đầu tư. Việc tồn tại cơ chế xin – cho thuê
hoặc mức độ thấp hơn là các chính sách hỗ trợ, ưu đãi cho đầu tư dưới các hình thức khác
nhau là nguyên nhân dẫn đến tâm lý ỷ lại, không phát huy tiềm năng nội sinh của các chủ
thể đầu tư trong nền kinh tế. Nhiều nghiên cứu đã thừa nhận, mức độ bao cấp cho đầu tư
càng cao thì hiệu quả sử dụng vốn càng thấp. Khi các doanh nghiệp, các nhà đầu tư còn có
thể trông chờ được bao cấp, ưu đãi vốn cho đầu tư thì họ vẫn không nhiệt tình tham gia huy
động vốn trên thị trường, vì họ biết rằng mỗi đồng vốn huy động tại đây họ đều phải trả giá.
Nguồn vốn huy động không phải trả giá hoặc trả không đúng với giá trị của chúng sẽ dẫn
đến những thất thoát, lãng phí và đặc biệt là các chủ đầu tư không phải chủ sở hữu vốn sẽ
không quan tâm đến cải tiến, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm.
Tóm lại, hoạt động sử dụng vốn có tác động quan trọng đến tăng trưởng kinh tế cả
về mặt số lượng lẫn chất lượng.
III. MỐI QUAN HỆ GIỮA TẠO LẬP, THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ:
Một nền kinh tế muốn có tăng trưởng thì cần có vốn để đầu tư tái sản xuất xã hội hay
nói cách khác vốn là điều kiện quan trọng hàng đầu quyết định quy mô và tốc độ tăng
trưởng kinh tế. Đối với một doanh nghiệp, hoạt động trong nền kinh tế thị trường tức là
luôn phải đối diện với sự cạnh tranh gay gắt từ các đối thủ, và không phải là đối thủ nào
cũng dễ chơi. Do đó các doanh nghiệp luôn luôn phải làm mới mình tức là phải đầu tư vào
khoa học công nghệ, quy mô nhà xưởng, con người …, vì vậy yêu cầu về vốn là vô cùng
quan trọng đối với các doanh nghiệp, vốn là chìa khóa cho mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Trong vốn đầu tư, vấn đề tạo lập, thu hút và sử dụng vốn luôn là vấn đề trọng tâm
được nhà nước và các doanh nghiệp rất quan tâm. Giữa tạo lập, thu hút và sử dụng luôn tồn
11
tại mối quan hệ hữa cơ, không một yếu tố nào có thể tách rời với các yếu tố còn lại. Việc
nắm bắt được mối quan hệ giữa chúng là một bài toàn khó, một yêu cầu bức thiết đối với
các nhà kinh tế.
1. Tính thuận chiều trong mối quan hệ giữa tạo lập, thu hút và sử dụng vốn
đầu tư:
Xét trong tiến trình hoạt động và chu chuyển của luồng vốn, giữa việc tạo lập, thu
hút và sử dụng vốn đầu tư luôn có mối quan hệ thuận chiều xuyên suốt.
Quá trình tạo lập vốn tạo nên nguồn tích lũy trong nền kinh tế, đây là nguồn gốc của
vốn đầu tư, muốn có vốn đầu tư thì phải có nguồn tích lũy này. Để nguồn tích lũy này có
thể đưa vào sử dụng thì phải có một công cụ trung gian làm nhiệm vụ đưa tiền từ tích lũy
sang đầu tư, đó chính là hoạt động thu hút vốn, như vậy trong mối quan hệ này tạo lập vốn
là điều kiện tiên quyết cho thu hút vốn và thu hút vốn là cơ sở cho việc sử dụng vốn. Tính
thuận chiều này tạo nên sự liên kết chặt chẽ giữa các giai đoạn tạo lập, thu hút và sử sụng
vốn với nhau và đảm bảo tính lưu thông của nguồn vốn đầu tư. Với nguồn vốn tạo lập càng
lớn, trong điều kiện môi trường đầu tư lý tưởng thì việc thu hút nhiều các nguồn vốn sẽ đem
lại hiệu quả cao trong sử dụng vốn. Tuy nhiên giữa tạo lập, thu hút và sử dụng vốn lại
thường vấp phải các trở ngại về năng lực đầu tư, môi trường đầu tư, rủi ro tài chính… trong
các hoạt động của nguồn vốn. Điều này đã gây nên xu hướng giảm dần về lượng vốn đầu tư
trong suốt quá trình tạo lập, thu hút và sử dụng vốn đầu tư
Tạo lập là điều kiện tiên quyết cho việc thu hút vốn đầu tư:
Theo lý thuyết thì tạo lập bao gồm các hoạt động sản xuất kinh doanh để tạo ra tích
lũy cho nền kinh tế, mà như chúng ta đã biết đối tượng của thu hút vốn đầu tư chính là
nguồn tích lũy của nền kinh tế, thu hút đưa tích lũy trong nền kinh tế sang đầu tư, vì thế tạo
lập chính là điều kiện tiên quyết cho việc thu hút vốn đầu tư.
Việc thu hút vốn đầu tư bị ảnh hưởng trực tiếp bởi kết quả của tạo lập vốn. Nếu hoạt động
sản xuất kinh doanh tốt sẽ tạo ra giá trị gia tăng cao và tích lũy của nền kinh tế sẽ tăng và
điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút vốn đầu tư và ngược lại. Các biện pháp và
chính sách thu hút vốn đầu tư sẽ không có hiệu quả nếu như nền kinh tế không có tích lũy
hay rõ hơn là việc sản xuất kinh doanh của nền kinh tế không tạo ra giá trị gia tăng.
Tạo lập vốn chính là phương thức để tạo ra sự tăng trưởng và phát triển đối với nền
kinh tế. Trên thị trường Vốn, có rất nhiều phương thức để tạo lập vốn ( hay còn gọi là
phương thức tài trợ vốn) mà nhà nước và các doanh nghiệp có thể tiếp cận và khai thác như:
Sự tạo lập vốn ban đầu có thể và trước hết là dựa vào thị trường tài chính,thu hút vốn qua
góp vốn cổ phần ( phát hành cổ phiếu) hay đi vay ( phát hành trái phiếu, vay ngân hàng ).
Sau đó, do gắn liền với sản xuất kinh doanh, vốn và các quỹ tiền tệ khác được bổ sung, tái
tạo thông qua việc phân phối doanh thu tiêu thụ sản phẩm, lập các quỹ bù đắp ( như quỹ
khấu hao tài sản cố định, quỹ bù đắp vốn lưu động) và tạo lập các quỹ từ lợi nhuận. Mỗi
quỹ tiền tệ trong doanh nghiệp đều có mục đích nhất định, nhưng tính chất chung của chúng
là gắn liền với sản xuất kinh doanh, chi dùng cho mục đích sản xuất kinh doanh và phần tiêu
dùng để hình thành thu nhập của những người tham gia sản xuất kinh doanh ở doanh
nghiệp. Từ rất nhiều phương thức tạo vốn đó nguồn vốn được tạo ra là rất lớn. Tuy nhiên
lượng vốn thu hút được thì lại thấp hơn so với nguồn vốn tạo lập. Mặc dù có nhiều phương
thức khác nhau để tiếp cận các nguồn vốn dầu tư, nhưng các doanh có thu hút được vốn hay
không lại phụ thuộc vào việc các doanh nghiệp đó có hội đủ các điều kiện cần thiết để vay
vốn hay không và có nhận được sự tin tưởng từ phía các nhà tài trợ vốn hay không. Trong
đó có các điều kiện cần thiết để vay vốn bao gồm: năng lực tài chính như khả năng huy
động vốn lớn, có khả năng trả nợ cao, khả năng thanh toán tiện lợi nhanh chóng, cân đối thu
chi tốt, phân phối lợi nhuận hiệu quả …; năng lực kinh doanh như kỹ năng bán hàng chuyên
12
nghiệp, khả năng phân phối sản phẩm rộng, marketing hiệu quả cao; năng lực quản lý như
đáp ứng tối dịch vụ khách hàng, quản trị nhân sự hợp lý …; năng lực hoạt động như khả
năng nghiên cứu tìm thị trường mới, xây dựng chiến lược cạnh tranh, dự báo đánh giá được
các cơ hội đầu tư …
Thu hút vốn đầu tư là cơ sở cho việc sử dụng vốn đầu tư:
Mục đích chính của việc thu hút vốn đầu tư là đưa tiết kiệm trong nền kinh tế sang
đầu tư. Nền kinh tế sử dụng vốn đầu tư để phục vụ trực tiếp cho quá trình tái sản xuất và tái
sản xuất mở rộng của nền kinh tế, nguồn vốn sử dụng này không phải từ nguồn nào khác
mà chính là từ nguồn vốn thu hút, mà nếu nói rõ hơn nếu không có hoạt động thu hút vốn
đầu tư thì sẽ không có việc sử dụng vốn đầu tư và nền kinh tế sẽ không tăng trưởng.
Việc sử dụng vốn đầu tư chịu ảnh hưởng rất lớn từ việc thu hút vốn đầu tư: những
rủi ro tài chính do sự biến động của thị trường như giá ngoại tệ lên xuống thất thường, đồng
nội tệ mất giá, thị trường bất động sản thay đổi, tình trạng trượt giá phi mã, … khiến cho
lượng vốn thu hút được không như mong đợi dẫn đến việc sử dụng vốn sẽ gặp nhiều khó
khăn trong khâu phân bổ, quản lý và giám sát vốn, và đặc biết là khâu phân bổ vốn, từ đó
ảnh hưởng trực tiếp và cơ bản đến hiệu quả đầu tư và chất lượng tăng trưởng của mỗi quốc
gia.
Xét trên tổng thể một quốc gia, việc thu hút được một lượng vốn lớn chưa đảm bảo
được tính hiệu quả trong sử dụng lượng vốn đó. Bởi vì khi đó các vấn đề cơ sở hạ tầng,
nhân lực, thủ tục hành chính và sự đồng bộ của thị trường lại trở thành những thách thức
đối với việc tăng hiệu quả thực tế của việc sử dụng vốn đầu tư. Đồng thời sự lỏng lẻo cũng
như tiêu cực trong công tác quản lý nguồn vốn của nhà nước thương dẫn đến tình trạng thất
thoát, lãng phí vốn gây ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả sử dụng của đồng vốn bỏ ra cũng như
chất lượng dự án thực hiện.
Đặc biệt là sự chậm trễ trong công tác giải ngân vốn đầu tư cho các dự án. Nguyên
nhân chậm trễ là do bất cập ở nhiều khâu từ vướng mắc về thủ tục, tư vấn của dự án yếu,
khó khăn trong giải phóng mặt bằng, năng lực nhà thầu kém, không đảm bảo đủ vốn đối
ứng, thời gian thực hiện các dự án quá dài, năng lực điều hành của các ban quản lý còn
nhiều hạn chế. Xét tầm vi mô, khi vốn thu hút được đầu tư vào các dự án thì các doanh
nghiệp lại thường chậm trễ trong tiến độ thực hiện, công việc giải ngân chậm chạp cùng với
những vướng mắc trong công tác đấu thầu khiến cho hiệu quả của dồng vốn bỏ ra không
cao, tỷ lệ vốn hoạt động có hiệu quả trong tổng nguồn vốn thu hút được thường thấp.
Qua việc phân tích xu hướng trên, ta thấy thu hút hiệu quả nguồn vốn đóng vai trò
đặc biệt trong tạo lập và sủ dụng vốn có hiệu quả. Nó chính là công cụ hữu hiệu để thực
hiện liên kết giữa tạo lập và mục tiêu sử dụng vốn đầu tư. Mối quan hệ chặt chẽ từ việc tạo
lập vốn đến thu hút và sử dụng các nguồn vốn cho đầu tư phát triển đã tạo nên sự xuyên
suốt trong quá trình lưu thông nguồn vốn đáp ứng sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế.
2. Sử dụng hiệu quả vốn đầu tư là cơ sở duy trì sự tăng trưởng kinh tế, đẩy
mạnh tạo lập vốn và tăng khả năng thu hút vốn:
Tính hiệu quả của việc sử dụng vốn được thể hiện thông qua các tác động tích cực
đến nền kinh tế. Cụ thể ở:
Vốn đầu tư được sử dụng hiệu quả góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế… được thể
hiện chủ yếu thông qua chỉ tiêu GDP với sự gia tăng đều đặn của tỷ trọng khu vực phi nông
nghiệp, đồng thời với mức suy giảm tỷ trọng của khu vực nông nghiệp ( trong khi giá trị
tuyệt đối và quy mô của khu vực nông nghiệp vẫn tăng lên), hay sự tập trung phát triển các
vùng có trọng điểm. Mức đầu tư của nền kinh tế cũng như của từng thành phần trong các
năm liên tục tăng. Cơ cấu đầu tư tuy chưa có nhiều biến đổi, nhưng đã có những dấu hiệu
tích cực: phần vốn đầu tư của thành phần kinh tế nhà nước dần giảm tỷ trọng, thay vào đó
13
là tỷ trọng vốn của thành phần kinh tế ngoài nhà nước đang dần tăng lên. Điều đó thể hiện
chúng ta đang ngày huy động được nhiều nguồn lực của đất nước … Ngoài ra chúng ta còn
hình thành cơ cấu vùng kinh tế trọng điểm của đất nước.
Cơ sở hạ tầng được cải thiện đáng kể: giao thông đường xá cầu cống thuận lơi hơn
hiện đại hơn, hệ thống thông tin liên lạc nhanh chóng, xã hội được điện khí hóa. Khoa học
kỹ thuật ngày càng phát triển: ngày càng nhiều nghiên cứa cơ bản và nghiên cứa ứng dụng
ra đời khắc phục đắc lực cho kinh tế xã hội. chính vì lý do đó mà năng suất xã hội tăng
nhanh do cơ khí hóa tự động hóa, cách thành tựu khoa học tiên tiến và các phương pháp
quản lý hiện đại.
Cơ cấu nguồn vốn huy động đã có bước chuyển dịch quan trọng. Điểm nổi bật nhất
là là sự tăng lên mạnh mẽ của đầu tư từ khu vực kinh tế tư nhân, đó là kết quả của việc thực
hiện Luật Doanh nghiệp. Một điểm nổi bật khác là đã có trên 70 nước và vùng lãnh thổ đầu
tư trực tiếp (FDI) với tổng số vốn đăng ký mới và bổ sung tính từ năm 1988 đến nay đạt
trên 66 tỉ USD, với số vốn thực hiện đạt được một nửa. Nguồn vốn này đã góp phần tăng
trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, tăng kim ngạch xuất khẩu, đóng góp ngân sách … Đã có
45 nước và định chế tài chính quốc tế đã cam kết với số vốn hỗ trợ phát triển chính thức
(ODA) lên đến 30 tỉ USD và số vốn giải ngân đạt khoảng 16 tỉ USD. Nguồn vốn này được
ưu tiên sử dụng để hỗ trợ phát triển hạ tầng kinh tế xã hội, góp phần tăng trưởng kinh tế và
xóa đói giảm nghèo. Nhiều công trình quan trọng trong nhiều lĩnh vực
Nhờ những kết quả trên mà tăng trưởng kinh tế đạt tốc độ cao, năm sau cao hơn năm
trước; cơ cấu kinh tế bước đầu chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; cơ
sở hạ tầng được xây dựng và nâng cấp … Cơ cấu đầu tư đã dịch chuyển theo hướng tích
cực, tập trung cho những mục tiêu quan trọng về phát triển kinh tế xã hội; vừa tập trung cho
tăng trưởng kinh tế, vừa quan tâm đến phát triển xã hội và xây dựng cơ sỏ hạ tầng; vừa tập
trung cho vùng động lực, vừa tăng cho vùng nghèo.
Đặc biệt thể hiện ở đời sống nhân dân không ngừng nâng cao: các chỉ tiêu đánh giá mức
sống như chỉ số HDI bao gồm thu nhập bình quân đầu người, các chỉ số về tuổi thẻ sức
khỏe, giáo dục… Và chính việc sử dụng hiệu quả vốn đầu tư đã tác động trở lại đối với quá
trình tạo lập và thu hút vốn thể hiện như sau:
Thứ nhất: Sử dụng vốn hiệu quả vừa là mục tiêu vừa là điều kiện để phát triển
và là cơ sở đảm bảo việc gia tăng khả năng tạo lập các nguồn vốn : Việc sử dụng vốn
hiệu quả sẽ góp phần tạo ra tăng trưởng kinh tế, cụ thể ở đây là sự gia tăng về thu nhập quốc
dân, điều này tạo điều kiện cho việc tạo lập vốn dễ dàng hơn và khả năng tích lũy của nền
kinh tế sẽ có khả năng gia tăng.
Khi tốc độ tăng trưởng kinh tế cao liên tục do sử dụng hiệu đồng vốn thì tổng GDP của xã
hội ngày càng lớn và tỷ lệ dành để tái đầu tư cũng ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong GDP
sẽ liên tục tăng trong cao trong các năm. Và khi có tăng tái đầu tư thì lại duy trì tốc độ tăng
trưởng của nền kinh tế và do đó lại tăng khả năng tạo lập vốn.
Trên góc độ vi mô khi mà 1 doanh nghiệp sử dụng hiệu quả nguồn vốn sản xuất kinh doanh
thì doanh nghiệp đó sẽ không ngừng tăng doanh thu và lợi nhuận. Trước tiên doanh nghiệp
sẽ trích một phần lợi nhận đó vào các quỹ khấu hoa tài sản cố định, một phần để tái sản xuất
mở rộng , như vậy quy mô vốn sản xuất đã tăng. Mặt khác khi các doanh nghiệp làm ăn
hiệu quả thì lượng thuế mà nhà nước thu được lớn hơn từ đó làm tăng nguồn thu ngân sách
nhà nước.
Khi tăng trưởng kinh tế cao sẽ đi kèm là chất lượng cuộc sống không ngừng tăng lên: sẽ có
một bộ phận không nhỏ dân cư có thể tiết kiệm được một lượng tiền nhất định, lượng tiền
này một phần làm gia tăng trực tiếp lương vốn được tạo lập, một phần khác nó được đưa
vào đầu tư, trong môi trường kinh tế phát triên hiệu quả sử dụng của đồng vốn đầu tư được
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét