Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Giải pháp giải quyết khiếu nại về tai nạn lao động

Tiểu luận cuối khoá chương trình Quản lý nhà nước ngạch chuyên viên
Nhằm xử lý, giải quyết thoả đáng, hợp lý, đúng qui định của pháp luật các
vấn đề thuộc về an toàn lao động, các vụ tai nạn lao động góp phần bảo vệ các
quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, của người sử dụng
lao động, ổn định tình hình an ninh, trật tự xã hội; tạo sự gắn bó giữa người sử
dụng lao động và người lao động để họ cùng an tâm sản xuất kinh doanh.
2- Yêu cầu :
Vấn đề an toàn lao động và giải quyết hậu quả của một vụ,việc tai nan lao
động - đặc biệt là các tai nạn lao động nghiêm trọng - luôn là vấn đề phức tạp.
Nó liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều ngành, nhiều cấp. Do vậy, yêu cầu đặt ra
đối với việc giải quyết một vụ tai nạn lao động là trước hết phải nắm vững pháp
luật về lao động nói chung và các qui định về bảo hộ lao động, một số kiến thức
cơ bản về tâm sinh lý học, v .v .Trên cơ sở đó, kết hợp với những hoàn cảnh cụ
thể đã và đang xãy ra mà tìm hiểu vụ việc, nghiên cứu tường tận các khía cạnh
của vụ việc, trách nhiệm của các bên liên quan.
3- Mục tiêu cần giải quyết:
- Chị N phải được chủ doanh nghiệp chi trả toàn bộ tiền thuốc men trong
suốt quá trình điều trị cho đến khi khỏi bệnh.
- Chị N được chủ doanh nghiệp đưa ra Hội đồng Giám định Y Khoa để
Giám định phần sức khoẻ bị giảm sút, tỉ lệ thương tật do tai nạn lao động.
- Trách nhiệm pháp lý của mỗi bên theo qui định của pháp luật. Trước mắt
là giải quyết vấn đề hỗ trợ để chị N có đủ điều kiện tiếp tục điều trị và sinh sống
trong thời gian chưa thể tiếp tục công việc hoặc chưa tìm được công việc mới.
III- PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN KHIẾU NẠI VÀ KẾT
QUẢ CỦA QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT:
Thực hiện chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành
theo cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là hướng đi đúng của
Đảng và Nhà nước ta. Trong Những năm qua, định hướng đó đã góp phần hết
sức to lớn giúp cho đất nước ta đạt được nhiều thành tựu quan trọng có ý nghĩa
lịch sử; cả nước hiện có hàng vạn doanh nghiệp. Trong đó, nhiều doanh nghiệp
đã ăn nên làm ra, có những doanh nghiệp nhanh chóng trưởng thành, tạo được uy
tín trên thương trường quốc tế.
Nhằm đáp ứng với tình hình mới, Đảng và Nhà nước ta cũng đã ban hành
nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật tạo khung pháp lý để điều chỉnh, định
hướng và phát huy vai trò chủ động sáng tạo trong sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp, các thành phần kinh tế, thúc đẩy cho từng doanh nghiệp phát triển
sản xuất kinh doanh, người lao động có việc làm ổn định, đời sống được nâng
lên.
6
Tiểu luận cuối khoá chương trình Quản lý nhà nước ngạch chuyên viên
Kế thừa và phát triển pháp luật, pháp luật lao động nước ta từ sau cách
mạng tháng Tám năm 1945, Bộ luật Lao động năm 1995 và Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ Luật lao động năm 2002, 2006 đã thể chế đường lối đổi
mới của Đảng Cộng sản Việt Nam và cụ thể hoá các vấn đề về lao động, sử dụng
và quản lý lao động được ghi trong Hiến pháp 1992, 2002.
Bộ Luật lao động bảo vệ quyền được có việc làm, các quyền và lợi ích hợp
pháp, chính đáng khác của người lao động, người sử dụng lao động, tạo điều
kiện và hành lang pháp lý phát triển mối quan hệ lao động, tạo không khí hài
hoà và ổn định giữa người lao động và người sử dụng lao động nhằm phát huy trí
sáng tạo, tài năng của người lao động và người quản lý lao động nhằm tạo ra
năng suất, chất lượng, hiệu quả cao góp phần công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ văn
minh.
Trong Bộ luật Lao động có hẳn những chương, Điều qui định về quyền
lợi, nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động như: Hợp đồng lao
động, kỹ luật lao động, an toàn - vệ sinh lao động, các chế độ thử việc, học nghề,
chế độ về bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, ,các văn bản dưới luật được ban hành
khá kịp thời, đáp ứng nhu cầu và yêu cầu xử lý các phát sinh mới trong quan hệ
lao động. Trên thực tế, vẫn còn nơi này nơi khác, lúc này, lúc khác hoạt động
quản lý Nhà nước về lao động chưa được tổ chức thực hiện nghiêm, vẫn còn
nhiều địa phương, đơn vị nhất là các doanh nghiệp tư nhân, việc nắm và thực thi
pháp luật lao động còn nhiều hạn chế. Mặt khác, cũng có tình trạng lách luật
thậm chí cố tình không áp dụng luật. Từ đó trong quá trình thực hiện có những vi
phạm mà lẻ ra không đáng có như tình huống được nêu ra ở phần trên.
A - NGUYÊN NHÂN :
Qua nghiên cứu, phân tích tình huống có thể làm sáng tỏ mấy vấn đề sau:
1- Công tác quản lý nhà nước về lao động :
- Cơ quan thẩm quyền tại địa phương đã không thường xuyên kiểm tra,
giám sát việc chấp hành pháp luật về lao động tại các doanh nghiệp, cụ thể là
thực hiện Bộ Luật lao động như: vi phạm chế độ hợp đồng lao động, chế độ an
toàn vệ sinh lao động, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, Luật công đoàn và
một số quyền và lợi ích khác.
- Không kịp thời trong việc giải quyết các khiếu nại, tranh chấp về quyền
lợi của người lao động; chậm trể trong việc điều tra, xác minh, kết luận nhằm
hướng dẫn, yêu cầu, thậm chí thực hiện các biện pháp cưỡng chế theo luật định
nhằm đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động.
2- Về tổ chức công đoàn :
Tại doanh nghiệp nơi xãy ra tai nạn lao động có hơn 40 công nhân đã và
đang làm việc từ 6 tháng trở lên, (tức hội đủ điều kiện để thành lập tổ chức công
7
Tiểu luận cuối khoá chương trình Quản lý nhà nước ngạch chuyên viên
đoàn cơ sở) nhưng Liên đoàn lao động Huyện chưa kịp thời tuyên truyền, vận
động, hướng dẫn người lao động tham gia vào tổ chức công đoàn.
3- Đối với người sử dụng lao động:
Chủ doanh nghiệp chưa thực hiện đúng theo qui định của pháp luật lao
động khi đứng ra thành lập và điều hành doanh nghiệp cụ thể như sau:
- Tuyển dụng công nhân vào làm việc không đúng các qui định về hình
thức hợp đồng lao động. Tại các điều 26, điều 27 và điều 65 Bộ luật lao động có
qui định: Đối với doanh nghiệp sử dụng người lao động thông qua vai trò trung
gian của người quản lý thì người chủ doanh nghiệp vẫn phải chịu trách nhiệm
chính, phải đảm bảo người quản lý đó thực hiện đầy đủ các qui định của pháp
luật lao động.
- Chủ doanh nghiệp đã vi phạm các thủ tục hành chính về quản lý lao
động; không khai trình lập sổ lao động, sổ lương, bảo hiểm xã hội, không đăng
ký nội qui lao động với ngành lao động. Ngoài ra, chủ doanh nghiệp còn vi phạm
qui định về việc khai báo, đăng ký và xin cấp giấy phép sử dụng các máy móc,
thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động. Nơi đặt máy móc làm việc
không có treo các bảng chỉ dẫn về an toàn lao động.
- Khi tai nạn lao động xãy ra đã không kịp thời khai báo với cơ quan chức
năng về lao động; chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm bồi thường vật chất đối với
người bị tai nạn lao động.
- Chị N làm việc ở khâu nhào trộn đất, có vận hành máy điện nhưng chỉ
được hướng dẫn sơ sài về cách vận hành máy, chưa được huấn luyện về an toàn
vệ sinh lao động, chưa được trang bị đầy đủ các trang bị bảo hộ lao động theo
qui định của nhà nước.
4- Đối với người bị tai nạn lao động :
- Do có nhu cầu về việc làm và thu nhập nên khi được nhận vào làm việc,
được giải quyết nơi ở tạm, được hưởng lương theo chế độ khoán sản phẩm
(không có bảo hiểm xã hội) lại là người có trình độ văn hoá thấp, nhận thức về
pháp luật lao động chưa đầy đủ, không có tay nghề nên Chị N đã vì quyền lợi
trước mắt mà dễ dàng chấp nhận công việc (theo kiểu nghề dạy nghề, người có
thâm niên trong nghề hướng dẫn, kềm cặp người mới vào).
- Chị N phạm vào lổi chủ quan khi xem thường các qui trình, qui phạm
cũng như mối nguy hiểm khi vận hành, sử dụng máy móc thiết bị. Không đủ
hiểu biết và bản lĩnh từ chối khi phải làm việc trong điều kiện không đảm bảo an
toàn lao động.
B- HẬU QUẢ:
Tai nạn lao động luôn mang đến điều bất lợi cho người sử dụng lao động
và ngườì lao động, trong đó, người lao động trong hầu hết trường hợp là người
8
Tiểu luận cuối khoá chương trình Quản lý nhà nước ngạch chuyên viên
chịu nhiều thiệt thòi về kinh tế, gặp khó khăn về đời sống, có khi còn phải mang
thương tật, thậm chí phải chịu tàn phế hoặc nguy hiễm đến tính mạng.
Về phía người sử dụng lao động, khi tai nạn lao động xãy ra sẽ có ảnh
hưởng đến việc sản xuất kinh doanh, phải chịu các phí tổn bồi thường, có trường
hợp phải chịu trách nhiệm pháp lý, thậm chí có trường hợp phải thua lỗ, phá sản
(hoả hoạn, cháy nổ)
Xuất phát từ việc thiếu kiểm tra, đôn đốc, giám sát của cơ quan quản lý
Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội; việc chấp hành pháp luật lao động
của doanh nghiệp chưa nghiêm dẫn đến vi phạm pháp luật kéo dài không được
phát hiện, ngăn chặn đã làm ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, việc làm và đời sống của người lao động. Tổ chức công đoàn chưa kịp
thời tuyên truyền, vận động tổ chức công đoàn cơ sở để thông qua đó tuyên
truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước để người
lao động hiểu biết và thực hiện tốt; đồng thời có thể tự đấu tranh để bảo vệ các
quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của mình.
Mặt khác, Đảng và Nhà nước ta đang ra sức xây dựng một Nhà nước Việt
Nam pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì tình trạng chậm chạp, xử lý chưa đến nơi,
đến chốn của cơ quan chức năng đối với các bên liên quan khi tai nạn lao động
xãy ra cũng sẽ tạo ra sự giãm sút niềm tin vào pháp luật, pháp chế xã hội chủ
nghĩa và chế độ xã hội chủ nghĩa. Hậu quả sâu xa nhất là vấn đề pháp luật chưa
được tôn trọng triệt để, pháp chế xã hội chủ nghĩa và pháp luật Nhà nước chưa
được thực thi nghiêm chỉnh làm ảnh hưởng đến đời sống người lao động, đến sản
xuất - kinh doanh; đặc biệt trong giai đoạn hiện nay đất nước ta bước vào giai
đọan hội nhập kinh tế khu vực và kinh tế thế giới, vấn đề cạnh tranh - một vấn đề
sống còn của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế- đang đặt ra hết sức
gay gắt.
IV- PHƯƠNG ÁN GIAI QUYẾT TÌNH HUỐNG :
Để giải quyết nội dung đơn khiếu nại của Chị N, cần chú ý rằng đây là
trường hợp tai nạn lao động nặng, có hậu quả khá nghiêm trọng và có thể kéo
dài. Qua kết quả điều tra, phân tích như đã nêu ở phần trên thì nguyên nhân
chính của tai nạn lao động thuộc về lỗi của người sử dụng lao động: chủ doanh
nghiệp Thành Trung đã vi phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động. Tôi xin
đưa ra một số phương án giải quyết đồng thời phân tích tìm phương án tối ưu
nhất.
1/- Cơ sở pháp luật :
Trước hết, dựa trên cơ sở các điều luật có liên quan cần phân tích, làm rõ
mối quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động (giữa Chị
N và ông Nhân).
9
Tiểu luận cuối khoá chương trình Quản lý nhà nước ngạch chuyên viên
a/- Điều 26, điều 27 và điều 65 của Bộ Luật lao động qui định về quyền và
nghĩa vụ của người sử dụng lao động và người lao động trong quan hệ lao động.
Đối với doanh nghiệp sử dụng người qua trung gian người quản lý thì chủ doanh
nghiệp - người đứng ra ký hợp đồng lao động vẫn phải là người chịu trách nhiệm
chính. Trong trường hợp này, ông Nhân là chủ doanh nghiệp nên phải tuân theo
các điều chỉnh của pháp luật về trả công lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao
động và các lợi ích khác của người lao động.
b/- Khoản 1, điều 39, người sử dụng lao động không được đơn phương
chấm dứt hợp đồng trong trường hợp người lao động bị tai nạn lao động, điều trị,
điều dưỡng theo quyết định thầy thuốc, của cơ quan y tế có thẩm quyền.
c/- Điều 9, điều 10, điều 11 và điều 12 của Nghị định 110/2002/NĐ-CP
ngày 21/12/2002 của Chính Phủ về việc sửa đổi một số điều của Nghị định số
06/1996/NĐ-CP ngày 20/01/1996 của Chính Phủ, nội dung, trách nhiệm của sử
dụng lao động đối với người bị tai nạn lao động theo điều 105, điều 106 và điều
107 của Bộ Luật lao động được qui định như sau:
- Phải kịp thời sơ cứu, cấp cứu tại chỗ người bị tai nạn lao động, sau đó
đưa ngay đến cơ sở y tế gần nhất;
- Trường hợp người lao động bị tai nạn lao động nặng thì phải giữ nguyên
hiện trường nơi xãy ra tai nạn lao động và báo ngay với cơ quan thanh tra Nhà
nước về lao động và cơ quan công an địa phương.
- Khi xảy ra tai nạn lao động phải tổ chức việc điều tra, lập biên bản có sự
tham gia của Ban chấp hành công đoàn cơ sở. Biên bản phải ghi đầy đủ diễn tiến
của tai nạn lao động, thương tích của nạn nhân, mức độ thiệt hại, nguyên nhân
xãy ra tai nạn lao động, trách nhiệm của các bên liên quan.
- Chủ doanh nghiệp có trách nhiệm chi trả toàn bộ chi phí cho người lao
động từ khi sơ cấp cứu đến khi chấm dứt quá trình điều trị; đồng thời phải bồi
thường cho người bi tai nạn lao động một khoản tiền bằng ít nhất 30 tháng tiền
lương và phụ cấp (nếu có) nếu tai nạn lao động làm suy giảm khả năng lao động.
Trường hợp tai nạn lao động xãy ra do lổi của người lao động thì với mức
độ thương tật như trên, người lao động cũng được bồi thường một khoản tiền
bằng 12 tháng tiền lương và phụ cấp (nếu có).
- Các trường hợp mức thương tật được xác định từ 5% đến dưới 81% thì
trách nhiệm của người sử dụng lao động và các mức bồi thường được qui định
tại thông tư số 10/2003/TT-BLĐTBXH ngày 18/4/2003 của Bộ Lao động
Thương binh và Xã hội.
d/- Nghĩa vụ của sử dụng người lao động được qui định tại Điều 95, điều
98 và điều 102 Bộ Luật Lao dộng; Nghị định 06/1995/NĐ-CP ngày 20/01/1995
của Chính Phủ qui định chi tiết một số điều của Bộ Luật lao động về an toàn lao
động, vệ sinh lao động:
10
Tiểu luận cuối khoá chương trình Quản lý nhà nước ngạch chuyên viên
- Hàng năm khi xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,
chủ doanh nghiệp phải lập kế hoạch, biện pháp an toàn lao động và cải thiện điều
kiện làm việc.
- Trang bị đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân và thực hiện các chế độ
khác về an toàn lao động đối với người lao động theo qui định của Nhà nước.
- Cử người giám sát việc thực hiện các qui định, nội qui, biện pháp an toàn
lao động trong doanh nghiệp.
- Tại nơi làm việc cần xây dựng nội quy, qui định an toàn lao động theo
chuẩn qui định của Nhà nước phù hợp với từng loại máy móc, thiết bị, vật tư kể
cả khi đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị.
- Tổ chức huấn luyện, hướng dẫn các tiêu chuẩn, qui định, biện pháp an
toàn đối với người lao động.
- Chấp hành nghiêm chỉnh qui định về khai báo, điều tra tai nạn lao động
và định kỳ 6 tháng, hàng năm báo cáo với Sở Lao động Thương binh và Xã hội
nơi doanh nghiệp hoạt động về kết quả, tình hình thực hiện các biện pháp an toàn
lao động.
- Người sử dụng lao động có quyền buộc người lao động phải tuân thủ các
thủ tục, nội qui, qui định về an toàn vệ sinh lao động; khen thưởng người chấp
hành tốt và kỷ luật người vi phạm các qui định về an toàn vệ sinh lao động.
- Nghĩa vụ của người lao động: chấp hành đầy đủ các qui định, nội qui về
an toàn lao động có liên quan đến công việc, nhiệm vụ được giao.
- Người lao động có quyền yêu cầu người sử dụng lao động đảm bảo các
điều kiện về an toàn lao động, cải thiện điều kiện lao động, trang bị đầy đủ
phương tiện bảo vệ cá nhân; huấn luyện, thực hiện các biện pháp, qui trình, qui
phạm về an toàn vệ sinh lao động; có quyền từ chối làm các công việc hoặc rời
bỏ nơi làm việc khi thấy rõ nguy cơ xãy ra tai nạn lao động hoặc có thể gây ảnh
hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ của mình.
đ/- Điều 107 Bộ Luật lao động qui định: Người lao động bị tàn tật do tai
nạn lao động được giám định y khoa để xác định mức độ suy giảm khả năng lao
động, xếp hạng thương tật. Người sử dụng lao động phải chịu toàn bộ chi phí y
tế từ khi sơ cứu, cấp cứu cho đến khi quá trình điều trị chấm dứt; người lao động
được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội về tai nạn lao động. Nếu doanh nghiệp vì lý
do nào đó chưa thực hiện việc đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động thì chủ
doanh nghiệp phải trả một khoản tiền chi phí tương đương với mức qui định
trong điều lệ Bảo hiểm xã hội.
e/- Điều 153 Bộ Luật lao động qui định: ở những doanh nghiệp có từ 10
lao động trở lên, đang hoạt động nhưng chưa có tổ chức công đoàn thì sau 6
tháng kể từ ngày bắt đầu hoạt động, công đoàn địa phương có trách nhiệm thành
lập tổ chức công đoàn tại doanh nghiệp này để đại diện, bảo vệ các quyền và lợi
ích hợp pháp, chính đáng của người lao động và tập thể người lao động. Người
11
Tiểu luận cuối khoá chương trình Quản lý nhà nước ngạch chuyên viên
sử dụng lao động có trách nhiệm tạo mọi điều kiện thuận lợi để tổ chức công
đoàn sớm được thành lập và hoạt động.
2/- Các phương án đề xuất:
Từ thực tế tai nạn lao động của chị N tại doanh nghiệp Trung Thành; căn
cứ biên bản của đoàn điều tra tai nạn lao động liên cơ quan gồm Phòng Lao động
Thương Binh và xã hội huyện Cao Lãnh, Liên đoàn lao động huyện Cao Lãnh,
tôi xin đề xuất một số phương án xử lý như sau:
Phương án thứ nhất :
Xác định tai nạn lao động trên đây là trường hợp tai nạn lao động khá
nghiêm trọng, cần nhanh chóng thành lập đoàn điều tra tai nạn lao động cấp Tỉnh
gồm :
- Đại diện Sở Lao động Thương binh và xã hội;
- Đại diện Sở Y tế;
- Đại diện Liên đoàn lao động Tỉnh
Quyết định thành lập đoàn điều tra do Giám đốc Sở Lao động Thương
Binh và xã hội ký. Các bước làm việc gồm :
+ Bước 1 :
Đoàn điều tra tiến hành tiếp xúc với Chị N tìm hiểu về quá trình chữa trị
vết thương; việc chăm sóc, chi trả các khoản chi phí và các quyền lợi khác của
người sử dụng lao động.
+ Bước 2 :
Đoàn điều tra làm việc trực tiếp với chủ doanh nghiệp để xác minh nội
dung đơn, đồng thời yêu cầu cung cấp hồ sơ về quản lý lao động tại doanh
nghiệp, xác minh hiện trường nơi xãy ra tai nạn lao động; việc thực hiện các kiến
nghị về an toàn vệ sinh lao động của các đoàn kiểm tra về an toàn vệ sinh lao
động trước đây; tình hình thực hiện các qui định của pháp luật về an toàn vệ sinh
lao động tại doanh nghiệp, việc bồi thường tai nạn lao động trước đây (nếu có)
và bồi thường cho trường hợp của chị N.
+ Bước 3 :
Đoàn điều tra làm việc với các đoàn kiểm tra về an toàn vệ sinh lao động
trước đây để vừa kiểm tra vừa thu thập thêm thông tin làm cơ sở so sánh đối
chiếu thông tin giữa 3 bước.
+ Bước 4 :
Tổng hợp nội dung, kết quả làm việc của từng bước và kết quả của từng
nội dung, mức độ phạm lỗi do mỗi bên gây ra để từ đó hướng dẫn các biện pháp,
giải pháp khắc phục hậu quả; tổ chức cuộc họp để nghe ý phản ảnh trực tiếp của
2 bên. Trên cơ sở đó, căn cứ vào các qui định của pháp luật, đưa ra kết luận giải
quyết sự việc thấu tình, đạt lý.
Phân tích:
12
Tiểu luận cuối khoá chương trình Quản lý nhà nước ngạch chuyên viên
- Ưu điểm của phương án :
+ Thông qua các cuộc gặp gở, đoàn điều tra có thời gian và điều kiện để
thẩm tra thông tin do 2 bên cung cấp, có thời gian để thu thập thêm chứng cứ, số
liệu; từ đó có thể đưa ra những kết luận, những giải pháp, biện pháp, hình thức
xử lý chính xác, khách quan, thấu tình, đạt lý, có tính thuyết phục cao.
+ Chủ doanh nghiệp và người lao động có thời gian, điều kiện để suy nghĩ,
nhận ra những chỗ đúng, chỗ sai của mình. Bên có lỗi sẽ dễ dàng nhận lỗi, có
biện pháp khắc phục một cách tự giác. Bên khiếu nại dễ dàng chấp nhận các kết
luận của đoàn điều tra, nhận ra những chỗ còn chưa đúng của mình, từ đó có
thiện chí cùng hợp tác với người sử dụng lao động khắc phục hậu quả tai nạn lao
động.
- Nhược điểm của phương án :
+ Người sử dụng lao động, người lao động và đoàn điều tra phải tốn nhiều
thời gian. Trước mắt, người lao động sẽ gặp nhiều khó khăn, thiệt thòi.
+ Đoàn điều tra phải đi lại nhiều lần để xác minh nên phải tốn nhiều chi
phí cho công tác.
Phương án thứ hai :
- Thành lập đoàn điều tra như phương án thứ nhất: Đoàn điều tra cũng
tiến hành làm việc với chủ doanh nghiệp và người bị tai nạn lao động, nghe 2
bên trình bày ý kiến về từng vụ việc cụ thể, có giải trình chi tiết theo trình tự thời
gian diễn tiến của vụ việc.
- Đoàn điều tra tổng hợp các ý kiến và kết luận về mức độ sai phạm của
từng bên, từng sự việc cụ thể. Từ đó đưa ra được nguyên nhân để từng bên nhận
ra và cam kết có biện pháp khắc phục hậu quả, sửa chữa khuyết điểm và thực
hiện đúng chế độ, chính sách đúng với các qui định của pháp luật hiện hành.
Nếu mức độ sai phạm của chủ doanh nghiệp đúng như đơn khiếu nại của
chị N thì đoàn điều tra sẽ đề nghị xử phạt theo Nghị định số 38/1996/NĐ-CP
ngày 25/6/1996 của Chính phủ Qui định về việc xử phạt hành chính về hành vi
vi phạm pháp luật lao động.
Phân tích :
- Ưu điểm của phương án :
Thời gian giải quyết sẽ nhanh hơn, sớm giải toả được mâu thuẫn và tâm lý
căng thẳng giữa 2 bên, sớm ổn định sản xuất kinh doanh. Người lao động và chủ
doanh nghiệp sẽ tốn ít thời gian cho việc hội họp, đón tiếp đoàn điều tra, tập
trung cho sản xuất kinh doanh.
- Nhược điểm của phương án :
Do sự việc mỗi bên đưa ra chưa có đủ cơ sở vững chắc, các cứ liệu chưa
chính xác; không có thời gian hội ý, tham khảo ý kiến của mỗi bên để đưa ra
những phân tích xác đáng mà chỉ được lắng nghe ý kiến của mỗi bên, vừa phân
13
Tiểu luận cuối khoá chương trình Quản lý nhà nước ngạch chuyên viên
tích, vừa tổng hợp để chỉ rõ chỗ đúng, chỗ sai, nên việc hoà giải sẽ gặp khó khăn
hơn.
Trong những trường hợp phức tạp phương án này có thể làm cho đoàn
điều tra không thể thực hiện đạt các yêu cầu đề ra khi khi giải quyết vụ tai nạn
lao động .
Phương án thứ ba :
- Thành lập đoàn điều tra tai nạn lao động cấp Huyện để theo dõi, giải
quyết, thu thập tin tức. Trên cơ sở đó sẽ tìm ra thông tin, hướng xử lý vụ việc,
hướng làm việc với chủ doanh nghiệp và người lao động.
- Nếu vụ việc giải quyết không thoả mãn được nguyện vọng của các bên
thì cần thành lập đoàn điều tra tai nạn lao động cấp Tỉnh. Sau đó sẽ quay về thực
hiện các bước như phương án thứ hai.
- Ưu điểm của phương án:
+ Có khả năng không phải thành lập đoàn điều tra cấp Tỉnh hoặc không
mất nhiều thời gian của đoàn điều tra cấp Tỉnh, tiết kiệm được thời gian, kinh
phí.
+ Người sử dụng lao động và người lao động sẽ tốn ít thời gian cho việc
hội họp, tiếp xúc và làm việc với đoàn điều tra.
- Nhược điểm của phương án:
+ Nếu đoàn điều tra cấp huyện không đủ sức giải quyết thì có thể dẫn đến
những quyết định không công bằng gây ảnh hưởng xấu đến tình trạng sản xuất
kinh doanh, tình hình an ninh - trật tự tại địa phương.
+ Đoàn điều tra cấp huyện có thể không đủ sức giải quyết vụ việc. Khi đó
phải tiến hành thành lập đoàn kiểm tra cấp Tỉnh. Do đó, sẽ kéo dài thời gian giải
quyết, tạo tâm lý căng thẳng cho 2 bên.
3/- Lưạ chọn phương án:
Qua các phương án và việc phân tích một số ưu khuyết điểm như trên,
theo Tôi, với trường hợp tai nạn lao động cụ thể của chị N tại doanh nghiệp
Trung Thành thì đây là loại tai nạn lao động nghiêm trọng nên cần chọn theo
phương án thứ nhất.
V- KẾ HOẠCH TỔ CHỨC THỰC HIỆN:
1- Kế hoạch:
Giám đốc Sở Lao động Thương binh và Xã hội Tỉnh căn cứ Thông tư số
03/1995/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động thương binh và xã hội ra quyết định
thành đoàn điều tra tai nạn lao động cấp Tỉnh gồm:
- Cán bộ thanh tra Sở Lao động thương binh và xã hội làm trưởng đoàn.
Các thành viên gồm :
- Cán bộ thanh tra Sở Y tế.
14
Tiểu luận cuối khoá chương trình Quản lý nhà nước ngạch chuyên viên
- Cán bộ Ban Thi đua - Kinh tế - Chính sách xã hội Liên đoàn lao động
Tỉnh.
Thời gian để hoàn thành công việc là 2 ngày với các nội dung, chương
trình làm việc chia làm 2 giai đoạn như sau :
Giai đoạn I :
- Làm việc với chính quyền địa phương nơi doanh nghiệp Thành Trung
đang hoạt động (Uỷ ban nhân dân Xã Bình Hàng Tây, huyện Cao Lãnh, Tỉnh
Đồng Tháp).
- Làm việc với chủ doanh nghiệp, thông báo để chủ doanh nghiệp biết
những yêu cầu cụ thể.
- Tiếp xúc chị N, một số công nhân cùng làm việc với chị N để thu thập
thêm thông tin về việc thực hiện các vấn đề như hợp đồng lao động, bảo hộ lao
động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tình trạng trang thiết bị làm việc, nội qui
lao động.
- Tiếp tục làm việc với chủ doanh nghiệp để thu thập thông tin, nghe ý
kiến phản hồi từ phía người sử dụng lao động; đồng thời kiểm tra, xác minh một
số vấn đề có liên quan.
- Tổ chức buổi gặp gỡ 3 bên gồm: Đoàn điều tra, người sử dụng lao động,
người lao động để nghe ý kiến đối thoại của các bên liên quan. Trong buổi họp
này có thể mời thêm một số công nhân để làm nhân chứng (nếu thấy cần thiết).
Giai đoạn II :
- Đoàn điều tra hội ý, trao đổi, phân tích các kết quả thu được qua làm việc
ở giai đoạn I. Trên cơ sở đó thống nhất các nội dung đánh giá, lập biên bản kết
luận điều tra.
- Thông qua biên bản kết luận điều tra tai nạn lao động tại doanh nghiệp
Trung Thành, tại buổi họp này có mời đại diện Phòng Lao động Thương binh và
xã hội, đại diện Liên đoàn lao động Huyện, đại diện Trung tâm Y tế Huyện và
đại diện thường trực Uỷ ban nhân xã Bình Hàng Tây, huyện Cao Lãnh.
Dự kiến rằng các thành phần tham dự họp sẽ thống nhất các nội dung và
hai bên cam kết thực hiện.
Sau đó, đoàn điều tra gửi văn bản báo cáo đến Giám đốc Sở Lao động
Thương binh và xã hội Tỉnh Đồng Tháp để theo dõi việc khắc phục hậu quả tai
nạn lao động theo như cam kết của chủ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh gạch
Trung Thành.
2- Kết quả:
Với phương án tối ưu và cách làm việc tích cực của đoàn điều tra nên
công việc đạt kết quả tốt đẹp, đúng tiến độ, kế hoạch, đạt các yêu cầu đề ra và
đáp ứng đầy đủ theo các qui định của pháp luật. Từ đơn khiếu nại của chị N,
đoàn điều tra đã ghi nhận và tập hợp các thông tin đưa vào biên bản như sau:
15

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét