5
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh Tế Quốc Dân
mang lại lợi ích tốt nhất cho cổ đông. Việc tách rời quyền sở hữu khỏi các nhà
quản lý mang lại cho công ty các ưu thế so với kinh doanh cá thể và góp vốn.
* Quyền sở hữu có thể dễ dàng chuyển cho cổ đông mới.
* Sự tồn tại của công ty không phụ thuộc vào sự thay đổi số lượng cổ đông.
* Trách nhiệm của cổ đông chỉ giới hạn ở phần vốn mà cổ đông góp vốn
vào công ty (trách nhiệm hữu hạn).
Mỗi loại hình doanh nghiệp có những ưu, nhược điểm riêng và phù hợp với
quy mô và trình độ phát triển nhất định. Hầu hết các doanh nghiệp lớn hoạt động
với tư cách là các công ty. Đây là loại hình phát triển nhất của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu, có thể coi tất cả các loại hình đó là
doanh nghiệp. Về nguyên tắc, nội dung quản lý tài chính doanh nghiệp là như nhau.
1.2 PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.2.1 Khái niệm và sự cần thiết phân tích tài chính doanh nghiệp
a)Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp được hiểu là những quan hệ giá trị giữa doanh
nghiệp với các chủ thể trong nền kinh tế, đó là: Nhà nước, thị trường tài chính, các
thị trường khác, và ngay cả trong nội bộ doanh nghiệp. Chính vì vậy mà tình hình
tài chính của doanh nghiệp được hầu hết các chủ thể trong nền kinh tế quan tâm.
Cho đến ngày nay, phân tích tài chính đã trở thành một hoạt động không thể thiếu
đối với các nhà quản trị trước nhu cầu quản lý doanh nghiệp sao cho hiệu quả ngày
càng tăng cùng với sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống tài chính, sự phát triển của
các tập đoàn và khả năng sử dụng công nghệ thông tin ngày càng rộng rãi.
Có thể hiểu: Phân tích tài chính doanh nghiệp là một tập hợp các khái
niệm, phương pháp và công cụ cho phép thu thập, xử lý các thông tin kế toán và
các thông tin khác trong quản lý doanh nghiệp, nhằm đánh giá tình hình tài chính
Sinh viên: Hồ Thanh Hải Khoa Ngân hàng – Tài chính
5
6
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh Tế Quốc Dân
và tiềm lực của doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ chất lượng và hiệu quả
hoạt động của doanh nghiệp đó.
b) Sự cần thiết phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích kinh tế là tổng thể các phương pháp và công cụ cho phép ta thu
thập và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác nhằm quản lý doanh
nghiệp, đánh giá tình hình tài chính về khả năng và triển vọng của doanh nghiệp.
Từ đó giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định quản lý phù hợp (kể cả
các nhà quản lý doanh nghiệp cũng như các nhà sử dụng thông tin khác). Sự ra
đời của phân tích kinh tế cùng với vai trò quan trọng của tài chính doanh nghiệp
đã thúc đẩy hình thành lý luận về phân tích tài chính doanh nghiệp.
Phân tích tài chính doanh nghiệp là việc phân tích các báo cáo tài chính,
các chỉ tiêu tài chính đặc trưng thông qua một hệ thống các phương pháp, các
công cụ và kỹ thuật phân tích mà các đối tượng quan tâm có những thông tin
thích hợp và cần thiết về tình hình tài chính doanh nghiệp để từ đó đưa ra các dự
báo và các quyết định tài chính phù hợp.
Như vậy, việc phân tích tài chính là công cụ chủ yếu phục vụ đắc lực cho
công tác đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp. Nhằm đưa ra các thông
tin chính xác, đầy đủ và toàn diện về tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có nhiều vấn đề tài chính
nảy sinh đòi hỏi các nhà quản lý phải đưa ra những quyết định tài chính kịp thời
và đúng đắn. Và để đưa ra những quyết định được xem là đúng đắn đó thì các nhà
quản lý doanh nghiệp phải biết được thông tin về “toàn cảnh bức tranh tài chính”
của doanh nghiệp. Và để có được những thông tin đó nhất thiết phải thông qua
hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp. Vì chỉ có hoạt động phân tích tài
Sinh viên: Hồ Thanh Hải Khoa Ngân hàng – Tài chính
6
7
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh Tế Quốc Dân
chính thì mới có thể cung cấp thông tin về “toàn cảnh bức tranh tài chính” của
doanh nghiệp cho các chủ thể cần thông tin trong việc đưa ra các quyết định.
Thông qua việc phân tích tài chính doanh nghiệp giúp các nhà quản lý có
thể kiểm soát được tình hình tài chính, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh
để từ đó có thể dự đoán và đưa ra các quyết định tài chính thích hợp. Hơn nữa,
thông qua việc phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp mà đề ra các biện pháp
để khai thác tiềm năng cũng như khắc phục những hạn chế, vướng mắc tồn tại
trong doanh nghiệp nhằm góp phần đưa doanh nghiệp vào quỹ đạo phát triển ổn
định và lành mạnh.
Ngoài ra, việc phân tích tài chính doanh nghiệp không chỉ là sự quan tâm
của các nhà quản lý doanh nghiệp mà còn là sự quan tâm của nhiều đối tượng
khác trong mối quan hệ kinh tế xã hội như: Nhà đầu tư; chủ nợ; khách hàng; cơ
quan quản lý Nhà nước như Thuế, kiểm toán, cơ quan hữu quan khác…; kể cả
người lao động.
Như vậy, xuất phát từ vai trò và tầm quan trọng của việc phân tích tài
chính doanh nghiệp cho các chủ thể cần sử dụng thông tin về doanh nghiệp, mà
việc phân tích tài chính ở mỗi doanh nghiệp là cần thiết và không thể thiếu được
ở các tổ chức kinh tế trong nền kinh tế thị trường hiện nay.
1.2.2 Yêu cầu của việc phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính doanh nghiệp là việc phản ánh các quan hệ mật thiết
giữa các khoản mục và các nhóm khoản mục trong báo cáo tài chính, để xác định
các thông tin cần thiết phục vụ cho các nhà quản lý trong doanh nghiệp và các
đối tượng khác trong việc đưa ra quyết định phù hợp với các mục tiêu của đối
tượng đó. Vì vậy, khi phân tích tài chính doanh nghiệp cần phải đạt được một số
vấn đề sau:
Sinh viên: Hồ Thanh Hải Khoa Ngân hàng – Tài chính
7
8
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh Tế Quốc Dân
- Đối với doanh nghiệp nói chung: Việc phân tích tài chính doanh nghiệp
phải cung cấp được đầy đủ, chính xác và kịp thời các thông tin kinh tế cần thiết,
bao gồm các thông tin về công nợ, khả năng thanh toán, khả năng sinh lời cũng
như các nhân tố làm thay đổi nguồn vốn, khả năng thanh toán và hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp. Từ đó giúp các nhà quản lý có thể dự đoán tình hình tài
chính và đưa ra các quyết định đúng đắn, phù hợp cho doanh nghiệp. Mặt khác,
việc phân tích tài chính còn phải cung cấp những thông tin về tình hình khai
thác, sử dụng vốn và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Qua đó mà các
nhà quản lý doanh nghiệp lập kế hoạch khai thác, tạo lập vốn và các biện pháp
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho doanh nghiệp.
- Đối với các đối tượng khác: Việc quan tâm tới tình hình tài chính của
doanh nghiệp không chỉ các nhà quản lý doanh nghiệp mà còn cả các nhà đầu tư,
ngân hàng, cổ đông và cả cơ quan hữu quan Nhà nước…
Vì vậy, khi phân tích tài chính doanh nghiệp phải cung cấp những thông
tin tối thiểu mà họ yêu cầu như: Khả năng thanh toán, tình hình huy động và sử
dụng vốn của doanh nghiệp (hiệu quả sử dụng vốn ?), những thông tin về nguồn
vốn chủ sở hữu, các khoản nợ, kết quả của các quá trình, các sự kiện, các tình
huống làm biến đổi các nguồn vốn và các khoản nợ của doanh nghiệp.
1.2.3 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
Xuất phát từ sự cần thiết và tầm quan trọng của phân tích tài chính doanh
nghiệp cũng như bản chất và nội dung các quan hệ tài chính doanh nghiệp trong
nền kinh tế thị trường, nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp bao gồm:
a) Phân tích khái quát tình hình vốn và nguồn vốn, tình hình thu chi trong
doanh nghiệp
* Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn trong doanh nghiệp
Sinh viên: Hồ Thanh Hải Khoa Ngân hàng – Tài chính
8
9
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn là xem xét, đánh giá sự
thay đổi các chỉ tiêu cuối kỳ so với đầu kỳ trên bảng cân đối kế toán (BCĐKT)
về nguồn vốn và cách thức sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Để tiến hành phân tích ta trình bày BCĐKT dưới dạng bảng cân đối báo cáo
từ tài sản đến nguồn vốn sau đó so sánh số liệu cuối kỳ so với đầu kỳ theo từng chỉ
tiêu để xác định tình hình tăng giảm vốn trong doanh nghiệp theo nguyên tắc:
Sử dụng vốn: Tăng tài sản và giảm nguồn vốn.
Nguồn vốn: Tăng nguồn vốn và giảm tài sản.
Thực chất của việc phân tích này là phân tích sự thay đổi của các khoản
mục trong BCĐKT, cho ta thấy được nguồn vốn tăng giảm là bao nhiêu? Sử
dụng vốn như thế nào? Sự thay đổi này có hợp lý hay không? Từ đó có giải pháp
khai thác các nguồn vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp.
* Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh
Để tiến hành sản xuất kinh doanh doanh nghiệp cần có tài sản bao gồm tài
sản lưu động và đầu tư ngắn hạn, tài sản cố định và đầu tư dài hạn. Để hình
thành hai loại tài sản này phải có các nguồn vốn tài trợ tương ứng bao gồm
nguồn ngắn hạn và nguồn dài hạn.
Nguồn ngắn hạn là nguồn vốn doanh nghiệp sử dụng trong khoảng thời
gian dưới một năm bao gồm nợ ngắn hạn, nợ quá hạn, nợ nhà cung cấp và nợ
phải trả ngắn hạn khác.
Nguồn vốn dài hạn là nguồn vốn doanh nghiệp sử dụng lâu dài cho hoạt
động kinh doanh có thời gian trên một năm, bao gồm: Nguồn vốn chủ sở hữu,
nguồn vốn vay nợ trung dài hạn.
Nguồn vốn dài hạn trước hết để đầu tư hình thành tài sản cố định, phần dư
của nguồn vốn dài hạn và nguồn vốn ngắn hạn được đầu tư hình thành tài sản lưu
Sinh viên: Hồ Thanh Hải Khoa Ngân hàng – Tài chính
9
10
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh Tế Quốc Dân
động. Chênh lệch giữa nguồn dài hạn và tài sản cố định hay giữa tài sản lưu động
và nguồn ngắn hạn được gọi là vốn lưu động thường xuyên. Mức độ an toàn của
tài sản phụ thuộc vào mức độ của vốn lưu động thường xuyên.
Vốn lưu động Nguồn vốn Tài sản Tài sản Nguồn vốn
thường xuyên dài hạn cố định lưu động ngắn hạn
+ Khi nguồn vốn lưu động thường xuyên < 0 nghĩa là nguồn dài hạn
không đủ đầu tư cho tài sản cố định. Doanh nghiệp phải đầu tư vào tài sản cố
định một phần nguồn vốn ngắn hạn. Tài sản lưu động không đủ đáp ứng, nhu cầu
thanh toán nợ ngắn hạn, cán cân thanh toán của doanh nghiệp mất cân bằng.
+ Khi nguồn vốn lưu động thường xuyên = 0 nghĩa là nguồn vốn dài
hạn tài trợ đủ cho tài sản cố định và tài sản lưu động., đủ cho doanh nghiệp trả
các khoản nợ ngắn hạn, tình hình tài chính như vậy là lành mạnh.
+ Khi vốn lưu động thường xuyên > 0 nghĩa là nguồn vốn dài hạn dư
thừa sau khi đầu tư vào tài sản cố định, phần dư thừa sẽ đầu tư vào tài sản lưu
động. Tài sản lưu động lớn hơn nguồn vốn ngắn hạn nên khả năng thanh toán
của doanh nghiệp là tốt.
Như vậy vốn lưu động thường xuyên là một chỉ tiêu tổng hợp rất quan trọng
để đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp. Qua chỉ tiêu cho biết doanh nghiệp
có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn không? Tài sản cố định của
doanh nghiệp có được tài trợ một cách vững chắc bằng nguồn dài hạn hay không?
Nghiên cứu tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh ta còn sử
dụng chỉ tiêu nhu cầu vốn lưu động thường xuyên để phân tích. Nhu cầu vốn lưu
động thường xuyên là lượng vốn ngắn hạn doanh nghiệp cần để tài trợ cho một
phần tài sản lưu động đó là hàng tồn kho và các khoản phải thu.
Sinh viên: Hồ Thanh Hải Khoa Ngân hàng – Tài chính
=
=
__
10
11
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Nhu cầu vốn lưu Tồn kho và các Nợ
động thường xuyên khoản phải thu ngắn hạn
Trong thực tế xảy ra các trường hợp sau:
+ Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên < 0 nghĩa là các nguồn vốn từ bên
ngoài đã dư thừa để tài trợ cho các sử dụng nguồn ngắn hạn của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp không cần nhân thêm vốn ngắn hạn để tài trợ cho chu kỳ kinh doanh.
+ Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên > 0 nghĩa là tồn kho và các
khoản phải thu lớn hơn nợ ngắn hạn, các sử dụng nợ ngắn hạn của doanh nghiệp
lớn hơn các nguồn vốn ngắn hạn mà doanh nghiệp có được từ bên ngoài, doanh
nghiệp phải dùng nguồn vốn dài hạn để tài trợ vào phần chênh lệch. Trường hợp
này doanh nghiệp phải có biện pháp để giải phóng tồn kho và các khoản phải thu
từ khách hàng.
* Phân tích các dòng ngân quỹ của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường tiền của doanh nghiệp là một yếu tố rất quan
trọng. Ở một thời điểm nhất định tiền chỉ phản ánh và có ý nghĩa như một hình
thái biểu hiện của tài sản lưu động. Nhưng trong quá trình kinh doanh, sự vận
động của tiền được xem là hình ảnh trung tâm của hoạt động kinh doanh, phản
ánh năng lực tài chính của doanh nghiệp. Mặt khác, thông tin về luồng tiền của
doanh nghiệp rất hữu dụng trong việc cung cấp cho người sử dụng một cơ sở để
đánh giá khả năng hoạt động của doanh nghiệp trong việc tạo ra tiền và nhu cầu
của doanh nghiệp trong việc sử dụng luồng tiền đó. Ngoài ra, còn giúp doanh
nghiệp lập kế hoạch tài chính ngắn hạn dự báo luồng tiền phát sinh để chủ động
trong đầu tư hoặc huy động vốn tài trợ. Chính vì thế, hệ thống báo cáo tài chính
phải có bảng báo cáo bắt buộc để công khai về sự vận động của tiền thể hiện được
Sinh viên: Hồ Thanh Hải Khoa Ngân hàng – Tài chính
_
=
11
12
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh Tế Quốc Dân
lượng tiền doanh nghiệp đã thực thu chi trong kỳ kế toán (thực tế ở Việt Nam năm
2004 báo cáo này mới thực sự là một báo cáo bắt buộc đối với các doanh nghiệp).
b) Phân tích các chỉ tiêu và tỷ lệ tài chính của doanh nghiệp
Trong phân tích tài chính doanh nghiệp các chỉ tiêu và tỷ lệ tài chính chủ
yếu được phân thành 4 nhóm:
Nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán
Nhóm chỉ tiêu về cơ cấu nguồn vốn và tài sản
Nhóm chỉ tiêu về khả năng hoạt động
Nhóm tỷ lệ về khả năng sinh lời
Tùy vào mục đích phân tích tài chính mà nhà phân tích chú trọng đến
nhóm chỉ tiêu, tỷ lệ này nhiều hơn nhóm chỉ tiêu và tỷ lệ khác. Các chỉ tiêu và tỷ
lệ tài chính cung cấp cho các nhà phân tích khá đầy đủ các thông tin về từng vấn
đề cụ thể liên quan đến tài chính doanh nghiệp. Nhiệm vụ của người phân tích là
phải tìm hiểu mối liên hệ giữa các nhóm chỉ tiêu và tỷ lệ từ đó đưa ra kết luận
khái quát về toàn bộ tình hình tài chính doanh nghiệp. Tuy nhiên, các chỉ tiêu và
tỷ lệ tài chính riêng rẽ thì tự nó không nói lên điều gì mà nó cần được so sánh
với các chỉ tiêu và tỷ lệ ở các năm khác nhau của chính doanh nghiệp đó và chỉ
tiêu, tỷ lệ tương ứng của các doanh nghiệp trong cùng ngành.
* Nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán
Trong quá trình sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp luôn cần huy động
các nguồn tín dụng để tài trợ cho nguồn vốn thiếu hụt của mình. Việc doanh
nghiệp có huy động được vốn hay không phụ thuộc vào khả năng tài chính của
doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp đảm bảo được khả năng thanh toán các khoản
nợ đến hạn thì ngân hàng hay chủ nợ sẽ yên tâm cho doanh nghiệp vay vốn.
Sinh viên: Hồ Thanh Hải Khoa Ngân hàng – Tài chính
12
13
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ánh mối quan hệ tài chính giữa
các khoản phải có khả năng thanh toán trong kỳ với các khoản phải thanh toán
trong kỳ. Việc phân tích các tỷ lệ về khả năng thanh toán không những giúp cho
các chủ nợ giảm được rủi ro trong quan hệ tín dụng và bảo tồn được vốn mà còn
giúp cho doanh nghiệp thấy được khả năng chi trả thực tế để từ đó có biện pháp
điều chỉnh các khoản mục tài sản cho hợp lý nhằm nâng cao khả năng thanh toán.
Nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán bao gồm:
+ Hệ số khả năng thanh toán tổng quát
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát là mối quan hệ giữa tổng tài sản mà
doanh nghiệp đang quản lý sử dụng với tổng nợ phải trả. Hệ số này phản ánh
một đồng nợ của doanh nghiệp được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tài sản.
Tổng tài sản của doanh nghiệp
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát =
Tổng nợ của doanh nghiệp
Nếu hệ số này lớn nó phản ánh khả năng thanh toán của doanh nghiệp là
tốt và ngược lại. Như vậy chỉ tiêu này cho biết nhìn chung doanh nghiệp có khả
năng chi trả các khoản nợ phải thanh toán hay không? Trong tổng nợ cũng có
những khoản chưa đến hạn trả, đã đến hạn trả hoặc quá hạn. Do đó chỉ tiêu này
dùng để xem xét một cách chung nhất khả năng thanh toán làm cơ sở đánh giá
doanh nghiệp mà thôi.
+ Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn
Tài sản lưu động và ĐTNH
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn =
Nợ ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn là mối quan hệ giữa tài sản ngắn hạn
và các khoản nợ ngắn hạn. Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn thể hiện mức độ đảm
Sinh viên: Hồ Thanh Hải Khoa Ngân hàng – Tài chính
13
14
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh Tế Quốc Dân
bảo của tài sản lưu động với nợ ngắn hạn. Nợ ngắn hạn là các khoản nợ phải
thanh toán trong kỳ. Do đó doanh nghiệp phải dùng tài sản thực có của mình để
thanh toán bằng cách chuyển đổi một phần tài sản thành tiền. Trong tổng số tài
sản mà doanh nghiệp quản lý sử dụng và sở hữu chỉ có tài sản lưu động trong kỳ
là có khả năng chuyển đổi thành tiền.
+ Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Tiền và các khoản tương đương tiền
Hệ số khả năng thanh toán nhanh =
Nợ ngắn hạn
Chỉ tiêu này dùng để đánh giá khả năng thanh toán nhanh các khoản nợ
ngắn hạn của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo. Tiền và các khoản tương đương
tiền là những tài sản có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền gồm: Tiền, chứng
khoán ngắn hạn có tính thanh khoản cao.
+ Hệ số thanh toán lãi vay
Lợi nhuận trước lãi vay và thuế
Hệ số thanh toán tiền lãi vay =
Lãi vay
Lãi vay phải trả là một khoản chi phí cố định, nguồn để trả lãi vay là lợi
nhuận gộp từ hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính và hoạt động
khác sau khi đã trừ đi chi phí quản lý. So sánh giữa nguồn để trả lãi với lãi vay
phải trả sẽ cho ta biết doanh nghiệp đã sẵn sàng trả nguồn lãi vay tới mức độ nào.
Hệ số này còn cho ta biết số vốn đi vay đã sử dụng tốt tới mức độ nào và
đem lại một khoản lợi nhuận là bao nhiêu, có đủ bù đắp lãi vay phải trả không.
+ Hệ số thanh toán nợ dài hạn
GTCL của TSCĐ hoạt động từ vay dài hạn
Hệ số thanh toán nợ dài hạn =
Nợ dài hạn
Sinh viên: Hồ Thanh Hải Khoa Ngân hàng – Tài chính
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét