Chuyên đề tốt nghiệp
Nhận thức được điều đó, trong thời gian thực tập tại công ty , sau khi
tìm hiểu thực tế tổ chức công tác kế toán, đặc biệt là kế toán tập hợp chi phí
sản xuất và giá thành sản phẩm em đã quyết định lựa chọn đề tài:
“Công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm tại Công ty TNHH Thế Anh ” để đi sâu nghiên cứu.
Với mục đích vận dụng lý luận về hạch toán kế toán vào nhu cầu thực
tiễn công tác chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở công ty TNHH
Thế Anh, từ đó phân tích những điểm còn tồn tại, đóng góp một số ý kiến
nhằm hoàn thiện công tác kế toán đơn vị. Kết cấu của đề tài ngoài phần mở
đầu và kết luận , nội dung được thể hiện ở 3 chương như sau :
Chương I: Lý luận chung về công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất.
Chương II: Thực trạng tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty TNHH Thế Anh.
Chương III: Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện công tác kế toán
tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty TNHH Thế
Anh.
Trong quá trình nghiên cứu , mặc dù đã cố gắng hết sức và được sự
giúp đỡ nhiệt tình của các cán bộ ở phòng kế toán - tài vụ công ty, đặc biệt
được sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo TS Trần Văn Dung và các thầy cô
giáo trong tổ kế toán, nhưng do thời gian và trình độ kiến thức của bản thân
có hạn, nhất là bước đầu mới tiếp cận với thực tế nên chắc chắn còn có
nhiều thiếu sót và hạn chế. Em rất mong muốn và xin chân thành tiếp thu
những ý kiến đóng góp bổ sung nhằm hoàn thiện hơn nữa đề tài nghiên cứu
này.
5
Chuyên đề tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo hướng
dẫn, của các thầy cô trong tổ kế toán và các cán bộ phòng kế toán - tài vụ
của công ty TNHH Thế Anh đã giúp em hoàn thành bài khoá luận này.
Hà nội, ngày 25 tháng 05 năm 2005
Sinh viên
Đặng Thị Phương Hồng
6
Chuyên đề tốt nghiệp
Chương I
Lý luận chung về công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất.
1.1. Sự cần thiết phải tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm.
1.1.1.Vai trò của tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm trong quá trình tái sản xuất sản phẩm xã hội nói chung và trong
hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng.
Sự phát sinh và phát triển của xã hội loài người gắn liền với quá trình
sản xuất. Nền sản xuất xã hội của bất kỳ phương thức sản xuất nào cũng gắn
liền với sự vận động và tiêu hao của các yếu tố cơ bản tạo nên quá trình sản
xuất: tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Vì thế sự hình
thành nên các chi phí sản xuất để tạo ra giá trị sản phẩm sản xuất là tất yếu
khách quan không phụ thuộc vào chủ quan của người sản xuất. Có thể nói “
Chi phí sản xuất là toàn bộ lao động sống và lao động vật hoá cần thiết mà
doanh nghiệp phải chi ra trong quá trình sản xuất trong một thời kỳ nhất
định và biểu hiện bằng tiền ”.
Chúng ta biết rằng, kết quả của quá trình sản xuất là tạo ra sản phẩm.
Sản phẩm được làm ra đã kết tinh trong nó các khoản hao phí vật chất, định
lượng hao phí vật chất để tạo nên một hoặc một số sản phẩm là yêu cầu cần
thiết, là căn cứ quan trọng để đánh giá chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh
doanh. Vậy chi phí sản xuất tính cho một khối lượng hoặc một đơn vị sản
phẩm lao vụ, dịch vụ công việc do doanh nghiệp sản xuất ra và hoàn thành
chính là giá thành sản phẩm. Giá thành có hai chức năng là: chức năng bù
đắp và lập giá.
Nói tóm lại “ Giá thành sản phẩm là một đại lượng xác định, biểu
hiện mối liên hệ tương quan giữa hai đại lượng: chi phí sản xuất đã bỏ ra và
7
Chuyên đề tốt nghiệp
kết quả sản xuất đã đạt được ”. Tuy nhiên, chúng ta cần phải lưu ý rằng
không phải hễ cứ có chi phí sản xuất phát sinh là đã xác định ngay được giá
thành mà cần phải thấy rằng giá thành là chi phí đã kết tinh trong một kết
quả sản xuất được xác định theo những tiêu chuẩn nhất định.
1.1.2. Đặc điểm và yêu cầu quản lý của công tác kế toán tập hợp
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
Quản lý chi phí sản xuất và giá thành là nội dung quan trọng hàng đầu
trong các doanh nghiệp sản xuất.
Nếu như kế toán chi phí sản xuất cung cấp đầy đủ những thông tin về
các yếu tố trong quá trình sản xuất nhằm nêu rõ chi phí chi cho việc gì, hết
bao nhiêu từ đó giúp doanh nghiệp biết tỉ trọng từng loại chi phí, giám đốc
dự toán chi phí làm cơ sở lập dự toán cho kỳ sau và giúp nhà nước quản lý
doanh nghiệp cũng như ban hành các chính sách, chế độ tạo điều kiện cho
doanh nghiệp hoạt động thì kế toán tính giá thành sản phẩm lại phản ánh
chính xác hiệu quả chi phí đã bỏ vào sản xuất. Chỉ tiêu giá thành là thước đo
mức hao phí sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, là căn cứ để xác định hiệu quả
hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó lựa chọn và quyết định khối lượng sản
phẩm sản xuất ra nhằm đạt lợi nhuận tối đa.
Giá thành cũng là một công cụ quan trọng của doanh nghiệp để kiểm
soát tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và hiệu quả của các biện pháp
tổ chức kỹ thuật. Thông qua tình hình thực hiện giá thành, các nhà lãnh đạo
quản lý có được những thông tin về tình hình sử dụng vật tư, lao động, tiền
vốn, tình hình sản xuất và chi phí bỏ vào sản xuất, tác động và hiệu quả thực
hiện các biện pháp kỹ thuật đến sản xuất, phát hiện và tìm các nguyên nhân
dẫn đến phát sinh chi phí không hợp lý để có biện pháp loại trừ. Giá thành
còn là một căn cứ quan trọng để doanh nghiệp xây dựng chính sách giá cả
đối với từng loại sản phẩm.
Có thể nói rằng, muốn hạ giá thành phải quản lý tốt giá thành và phải
gắn quản lý giá thành với quản lý chi phí sản xuất cấu thành giá thành vì chi
8
Chuyên đề tốt nghiệp
phí sản xuất và giá thành có quan hệ mật thiết với nhau, nếu chi phí sản xuất
tăng thì giá thành tăng và ngược lại và được thể hiện qua công thức sau:
Giá thành = Chi phí sản xuất + Chi phí sản xuất - Chi phí sản xuất
Sản phẩm dở dang đầu kỳ phát sinh trong kỳ dở dang cuối kỳ
Để tìm ra nguyên nhân, nhân tố ảnh hưởng làm tăng, giảm giá thành,
đòi hỏi giá thành sản phẩm phải được phản ánh chính xác, trung thực, khách
quan, rõ ràng thông qua các khoản mục chi phí cấu thành nên giá thành sản
phẩm để từ đó các nhà quản lý dễ dàng phát hiện ra và loại trừ các chi phí
bất hợp lý, lãng phí (đặc biệt là các chi phí chủ yếu ) khai thác khả năng
tiềm tàng trong quản lý. Mặt khác cần quản lý chặt chẽ định mức tiêu hao và
đơn giá của các chi phí đó.
Bên cạnh đó, cần phải xác định đúng nội dung, phạm vi chi phí cấu
thành, thu nhập thông tin theo địa điểm phát sinh cũng như nơi gánh chịu
chi phí. Bởi lẽ thông tin chi phí theo khoản mục chỉ xác định được chi phí
lãng phí song nó không giúp cho chúng ta biết cần tiết kiệm ở bộ phận nào,
địa điểm cụ thể nào hơn nữa, thông tin về chi phí theo địa điểm phát sinh
còn là cơ sở khuyến khích vật chất thúc đẩy sản xuất phát triển.
Định kỳ doanh nghiệp cần tiến hành phân tích chỉ tiêu giá thành cũng
như các bộ phận chi phí cấu thành để tìm ra nguyên nhân, nhân tố ảnh
hưởng để từ đó đề ra các biện pháp tác động thích hợp.
Tóm lại, tổ chức tốt công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm, đảm bảo xác định đúng nội dung, phạm vi chi phí cấu thành trong
giá thành sản phẩm, lượng giá trị các yếu tố chi phí đã được chuyển dịch
vào sản phẩm ( công việc, lao vụ ) đã hoàn thành có ý nghĩa vô cùng quan
trọng và là yêu cầu cấp bách của nền kinh tế thị trường.
1.2. Tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất phục vụ
cho công tác tính giá thành sản phẩm.
1.2.1. Nguyên tắc chung để tập hợp chi phí sản xuất vào giá thành
sản phẩm.
9
Chuyên đề tốt nghiệp
Theo chế độ kế toán hiện hành, để đảm bảo hạch toán đầy đủ, chính
xác chi phí sản xuất để tính giá thành sản phẩm, kế toán cần quán triệt các
nguyên tắc sau:
“ Xác định giá thành sản phẩm và dịch vụ ”:
* Giá thành sản phẩm của dịch vụ gồm:
- Chi phí vật tư trực tiếp : là chi phí nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu
sử dụng trực tiếp tạo ra sản phẩm dịch vụ.
- Chi phí nhân công trực tiếp : gồm tiền lương, tiền công, các khoản
trích nộp BHXH, BHYT của công nhân trực tiếp sản xuất tạo ra sản phẩm
và dịch vụ theo qui định của nhà nước.
- Chi phí sản xuất chung: là các chi phí sử dụng trong hoạt động sản
xuất chế biến của phân xưởng ( bộ phận kinh doanh ) trực tiếp tạo ra sản
phẩm vào dịch vụ như chi phí vật liệu, công cụ lao động nhỏ, khấu hao tài
sản cố định thuộc phân xưởng ( bộ phận kinh doanh ), tiền lương, các khoản
trích theo lương BHXH, BHYT của nhân viên phân xưởng theo qui định
( bộ phận kinh doanh ), chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền
phát sinh tại phân xưởng.
* Giá thành toàn bộ của sản phẩm và dịch vụ đã tiêu thụ gồm :
- Giá thành sản xuất của sản phẩm dịch vụ đã tiêu thụ.
- Chi phí bán hàng: là toàn bộ các chi phí liên quan đến việc tiêu thụ
sản phẩm, dịch vụ bao gồm cả chi phí bảo hành sản phẩm.
- Chi phí quản lý doanh nghiệp: là chi phí chi cho bộ máy quản lý và
điều hành doanh nghiệp, các chi phí liên quan đến hoạt động kinh doanh của
toàn doanh nghiệp.
1.2.2. Nhiệm vụ của kế toán và nội dung tổ chức kế toán tập hợp
chi phí sản xuất và giá thành trong doanh nghiệp.
Để phục vụ tốt công tác quản lý, kế toán cần thực hiện tốt các nhiệm
vụ sau đây :
10
Chuyên đề tốt nghiệp
- Căn cứ vào đặc điểm sản xuất kinh doanh, qui trình sản xuất để xác
định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm.
- Tổ chức tập hợp, kết chuyển hoặc phân bổ chi phí sản xuất theo
đúng đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất bằng phương pháp thích
hợp để cung cấp những thông tin cho việc tính giá thành theo khoản mục chi
phí và xác định đúng sản phẩm dở dang cuối kỳ.
- Vận dụng phương pháp thích hợp để tính giá thành nhằm phản ánh
chính xác giá thành sản phẩm sản xuất ra phục vụ cho việc định giá bán của
sản phẩm hàng hoá mà doanh nghiệp tạo ra trong một thời kỳ.
- Lập các báo cáo về giá thành sản phẩm cũng như chi phí, tham gia
phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, đề xuất các biện
pháp tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm.
* Đối tượng kế toán tập hợp CPSX :
Tổ chức kế toán quá trình sản xuất gồm có hai giai đoạn kế tiếp nhau
và có quan hệ mật thiết : giai đoạn hạch toán chi tiết chi phí sản xuất và giai
đoạn tính giá thành sản phẩm theo đơn vị tính giá thành qui định. Có thể
nói, việc phân chia đó là do sự khác cơ bản về giới hạn tập hợp chi phí trong
hạch toán chi phí sản xuất (đối tượng tập hợp chi phí) và sản phẩm hoàn
thành cần tính giá thành một đơn vị ( đối tượng tính giá thành ).
Tại đây, xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất chính là xác
định phạm vi giới hạn để tập hợp chi phí nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm soát
chi phí và tính giá thành sản phẩm. Thực chất nó là :
- Nơi phát sinh chi phí : phân xưởng, đội trại sản xuất, bộ phận chức năng.
- Nơi gánh chịu chi phí : sản phẩm, công việc, lao vụ do doanh nghiệp
sản xuất, đơn đặt hàng, công trình, hạng mục công trình.
Xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là tiền đề, điều
kiện để tính giá thành theo các đối tượng tính giá thành trong doanh nghiệp.
Vì trong thực tế, một đối tượng kế toán tập hợp chi phí bao gồm nhiều đối
tượng tính giá thành sản phẩm và ngược lại một đối tượng tính giá thành có
11
Chuyên đề tốt nghiệp
thể bao gồm nhiều đối tượng tập hợp chi phí sản xuất. Mặt khác, mỗi quan
hệ giữa hai đối tượng sẽ qui định việc lựa chọn phương pháp và kỹ thuật
tính giá thành.
* Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất :
Chi phí sản xuất phát sinh ở các địa điểm khác nhau thì có nội dung
kinh tế và mục đích khác nhau đối với qúa trình sản xuất chế tạo sản phẩm,
có chi phí chỉ liên quan đến một đối tượng, có chi phí lại liên quan đến
nhiều đối tượng chi phí. Do vậy có hai cách tập hợp chi phí vào các đối
tượng.
- Tập hợp trực tiếp : đối với chi phí chỉ liên quan đến một đối tượng
chịu chi phí ( thường là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực
tiếp ).
- Tập hợp chi phí gián tiếp : đối với chi phí liên quan đến nhiều đối
tượng chịu chi phí. Trước hết kế toán tập hợp chi phí sản xuất theo từng địa
điểm phát sinh chi phí tức là theo tổ, đội, phân xưởng Cuối kỳ, lựa chọn
tiêu chuẩn phân bổ phù hợp để xác định hệ số phân bổ và tính ra chi phí
phân bổ cho từng đối tượng.
Chi phí phân bổ = Hệ số x Tiêu chuẩn phân bổ
cho đối tượng i phân bổ của đối tượng i
Chi phí cần phân bổ
Hệ số =
phân bổ Tổng tiêu chuẩn cần phân bổ
Mỗi loại chi phí được lựa chọn những tiêu chuẩn phân bổ khác nhau
cho phù hợp.
Ví dụ: chi phí nhân công trực tiếp thường chọn chi phí vật liệu trực
tiếp, giờ chạy máy.
* Chứng từ kế toán sử dụng :
Chứng từ gốc liên quan đến chi phí sản xuất phát sinh là các chứng từ
về các yếu tố chi phí như :
12
Chuyên đề tốt nghiệp
- Vật tư : phiếu xuất kho, hoá đơn mua vật tư ( hoá đơn mua hàng hay
hoá đơn giá trị gia tăng ), phiếu chi, giấy báo Nợ ( nếu mua về dùng ngay ).
- Tiền lương : Bảng thanh toán lương, bảng thanh toán BHXH, phiếu
báo làm thêm giờ, phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành.
- Khấu hao tài sản cố định : Bảng tính và phân bổ khấu hao.
- Các khoản khác : Phiếu chi, giấy báo Nợ, hoá đơn ( thông thường
hoặc giá trị gia tăng )
* Tài khoản kế toán sử dụng :
Tuỳ theo từng doanh nghiệp vận dụng phương pháp kế toán hàng tồn
kho: kiểm kê định kỳ hay kê khai thường xuyên mà kế toán tổ chức hệ thống
cho phù hợp.
- Nếu doanh nghiệp áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên thì
tài khoản sử dụng là:
+ Tài khoản 621 : "chi phí nguyên vật liệu trực tiếp ": phản ánh chi
phí nguyên vật liệu trực tiếp sử dụng cho hoạt động sản xuất sản phẩm dịch
vụ của các ngành.
+ Tài khoản 622 : "chi phí nhân công trực tiếp" : phản ánh chi phí lao
động trực tiếp tham gia vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.
+ Tài khoản 627: " chi phí sản xuất chung" : phản ánh chi phí phục vụ
sản xuất kinh doanh chung phát sinh ở các phân xưởng, công trường… phục
vụ sản xuất sản phẩm, lao vụ, dịch vụ gồm : lương nhân viên quản lý phân
xưởng, bộ phận khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ được trích theo qui
định ( 19% ), khấu hao tài sản cố định dùng cho phân xưởng, đội, chi phí
dịch vụ mua ngoài và các chi phí khác bằng tiền liên quan đến hoạt động
của phân xưởng.
+ Tài khoản 154 : "chi phí sản xuất kinh doanh dở dang ": sử dụng
để tập hợp toàn bộ chi phí sản xuất liên quan đến sản xuất chế tạo sản phẩm
và cung cấp số liệu tính giá thành.
13
Chuyên đề tốt nghiệp
- Nếu doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm
kê định kỳ.
Ngoài tài khoản 621, 622, 627 có nội dung giống trường hợp trên, kế
toán còn sử dụng các tài khoản sau :
+ Tài khoản 154 : phản ánh chi phí sản xuất kinh doanh dở dang.
+ Tài khoản 631 : "giá thành sản xuất ": dùng để tập hợp chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm.
1.3. Tổ chức công tác tính giá thành sản phẩm.
1.3.1. Phân loại giá thành.
Để đáp ứng yêu cầu quản lý, hạch toán và kế toán giá thành cũng như
yêu cầu xây dựng giá cả hàng hoá, giá thành được xem xét dưới nhiều góc
độ, phạm vi tính khác nhau.
* Phân loại theo thời gian và cơ sở số liệu tính giá thành.
- Giá thành định mức : là loại giá thành được tính trên cơ sở định mức
các chi phí, để tính giá thành sản phẩm rồi nó được xác định cho một đơn vị
sản phẩm căn cứ vào định mức cho một đơn vị sản phẩm hoàn thành.
- Giá thành kế hoạch : là loại giá thành được tính dựa trên cơ sở chi
phí sản xuất kế hoạch và khối lượng sản phẩm, khối lượng lao vụ, dịch vụ
kế hoạch mà doanh nghiệp dự kiến sản xuất trong một thời kỳ.
- Giá thành thực tế : là loại giá thành được xác định thực tế sau khi
tập hợp và tính giá thành trên cơ sở chi phí thực tế mà doanh nghiệp bỏ ra để
sản xuất một khối lượng lao vụ, dịch vụ hoàn thành.
Giá thành kế hoạch là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, là căn cứ
để so sánh, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện hạ giá thành sản phẩm
của doanh nghiệp; còn giá thành định mức là thước đo chuẩn để xác định kết
quả sử dụng tài sản, vật tư lao động, tiền vốn trong sản xuất, giúp đánh giá
đúng đắn các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà doanh nghiệp sử dụng trong quá
trình sản xuất, kinh doanh. Giá thành thực tế lại là chỉ tiêu tổng hợp phản
ánh kết quả phấn đấu của doanh nghiệp trong việc tổ chức và áp dụng các
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét