Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

kết quả nghiên cứu tham vấn hiện trường các vấn đề về giới trong lâm nghiệp

v
gia của phụ nữ trong các hoạt động khuyến lâm, giáo dục và đào tạo lâm
nghiệp

49
4.4.1 Những giải pháp để cải thiện bình đẳng giới trong lĩnh vực tham vấn 49
4.4.2. Cải thiện bình đẳng giới trong việc tham gia hoạt động tín dụng 49
4.4.3. Cải thiện bình đẳng giới bằng việc tạo lập các chính sách đào tạo ở nông
thôn

50
4.4.4. Cải thiện bình đẳng giới trong việc tham gia hoạt động nghiên cứu khoa
học trong ngành lâm nghiệp

50
4.5. Giải pháp lồng ghép giới trong LTQD 51
4.6 Lồng ghép giới trong vấn đề thể chế, tổ chức lâm nghiệp quốc gia 54

5. Kết luận 55
5.1 Phát triển bền vững 55
5.2 Đối với các hoạt động về vườn ươm, bảo tồn và dịch vụ môi trường 56
5.3 Đối với các vấn đề về phổ biến Luật và các chính sách lâm nghiệp, sự
tham gia của phụ nữ trong các hoạt động khuyến lâm, giáo dục và đào
tạo lâm nghiệp


57
5.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến đời sống lao động nữ trong các LTQD 57

Danh mục tài liệu tham khảo 59

























vi
Danh mục các bảng

Bảng 1: Dung lượng và mẫu tham vấn hiện trường 3
Bảng 2: Phân công lao động của phụ nữ và nam giới M’nông 8
Bảng 3: Phân công lao động trong lâm trường, doanh nghiệp các tỉnh 8
Bảng 4: Tỷ lệ lao động tham gia vào khai thác và chế biến trong các LTQD 9
Bảng 5: Trình độ học vấn của cán bộ, công nhân viên trong các lâm trường 9
Bảng 6: Phân công công việc giữa phụ nữ và nam giới trong hoạt động sản
xuất nông lâm nghiệp

13
Bảng 7: Phân công lao động trong một số các hoạt động trồng rừng và vườn
ươm

15
Bảng 8: Sự tham gia các khoá tập huấn/đào tạo của cán bộ của các lâm
trường

16
Bảng 9: Xếp hạng mức độ ảnh hưởng của các yếu tố 16
Bảng 10: Phân chia lao động trong các hoạt động lâm, nông nghiệp của các hộ
gia đình nhận đất giao khoán, giao đất lâm nghiệp

17
Bảng 11: Trình độ chuyên môn của cán bộ giáo viên trường Công nhân kỹ
thuật lâm nghiệp trung ương 1

23
Bảng 12: Biểu thống kê phân công lao động của phòng “Giáo dục môi trường
và du lịch sinh thái

29
Bảng 13: Thống kê phân công lao động của Ban du lịch: 30
Bảng 14: Xếp hạng mức độ quan trọng các nguồn thu nhập của các hộ gia đình
cán bộ, công nhân viên lâm trường

32
Bảng 15: Sự khác biệt giới trong việc phân chia lao động trong công việc gia
đình

33
Bảng 16: Quyền quyết định của vợ, chồng và các thành viên trong gia đình 33
Bảng 17: Phân chia lao động trong các hoạt động lâm, nông nghiệp của các hộ
gia đình lâm trường viên nhận đất giao khoán của lâm trường để phát
triển sản xuất


34
Bảng 18: Sự khác nhau về giới về việc sử dụng tài sản trong gia đình của vợ,
chồng và các thành viên trong gia đình

35
Bảng 19: Sự tham gia của vợ, chồng và các thành viên trong gia đình các hộ
cán bộ, công nhân viên của lâm trường vào các hoạt động xã hội

35
Bảng 20: Xếp hạng mức độ ảnh hưởng của một số chính sách ảnh hưởng đến
đời sống của nữ cán bộ, công nhân viên

36
Bảng 21: Số lao động dôi dư ước tính sau khi chuyển đổi, sắp xếp lại theo tinh
thần Nghị định 200 về sắp xếp, đổi mới và phát triển lâm trường
quốc doanh


38
Bảng 22: Số lượng lao động dôi dư theo các nguyên nhân khác nhau sau khi
chuyển đổi (sắp xếp lại lâm trường theo Nghị định 200/2004/NĐ-CP
về sắp xếp, đổi mới và phát triển lâm trường quốc doanh)


39




vii
Danh mục các từ viết tắt

BTTT Bảo tồn thiên nhiên
BVR & PTR Bảo vệ rừng và Phát triển rừng
CNKT Công nhân kỹ thuật
CIDSE
ĐDSH Đa dạng sinh học
HGĐ Hộ gia đình
KHKT Khoa học kỹ thuật
KTXH Kinh tế xã hội
LTQD Lâm trường quốc doanh
MRDP Chương trình phát triển nông thôn miền núi phía Bắc
NN & PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
NGO’s Các Tổ chức phi chính phủ
PCCCR Phòng cháy chữa cháy rừng
PNVN Phụ nữ Việt Nam
PTNT Phát triển nông thôn
QHSDĐ Quy hoạch sử dụng đất
QLBVR Quản lý bảo vệ rừng
SNV Tổ chức phát triển Hà Lan
TKTD Tiết kiệm tín dụng
UBDT Uỷ ban dân tộc
UBND Uỷ ban nhân dân
VSTBPN Vì sự tiến bộ của phụ nữ
VQG Vườn quốc gia



















viii
Tóm tắt báo cáo

Nghiên cứu này nhằm cung cấp cơ sở cho việc hỗ trợ xây dựng lồng ghép giới trong
Chiến lược lâm nghiệp quốc gia giai đoạn 2006 – 2020 của Việt Nam. Đây là kết quả
nghiên cứu của nhóm công tác giới của Bộ Nông nghiệp và PTNT do Chương trình Hỗ
trợ ngành lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và PTNT hỗ trợ.

Các nội dung nghiên cứu:

- Giới và vấn đề lập quy hoạch sử dụng đất, giao đất lâm nghiệp và phát triển bền
vững.
- Vai trò của phụ nữ trong phát triển sản xuất, khai thác, chế biến lâm sản quy mô
vừa và nhỏ.
- Vai trò của phụ nữ trong hoạt động trồng rừng và vườn ươm.
- Vấn đề giới trong việc phổ biến luật và các chính sách lâm nghiệp, sự tham gia
của phụ nữ trong các hoạt động khuyến lâm, giáo dục và đào tạo lâm nghiệp.
- Vấn đề giới trong quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng, bảo vệ rừng, bảo tồn
và các dịch vụ môi trường.
- Vấn đề giới trong lâm trường quốc doanh và tác động của chính sách đổi mới
LTQD đến đời sống của lao động nữ.

Mục tiêu nghiên cứu:

- Phân tích hiện trạng các vấn đề về giới trong lâm nghiệp.
- Cung cấp thông tin đầu vào để lồng ghép các vấn đề về giới vào Chiến lược lâm
nghiệp quốc gia giai đoạn 2006 – 2020.

Phương pháp nghiên cứu:

Công tác nội nghiệp:

- Các tiểu nhóm chuẩn bị đề cương nghiên cứu, bộ câu hỏi điều tra đi thực địa, thu thập
các tài liệu liên quan đến các chủ đề nghiên cứu, liên hệ với các địa phương đến điều tra.

- Tổ chức các cuộc thảo luận giữa các tiểu nhóm và các chuyên gia có liên quan để đóng
góp ý kiến về các vấn đề nghiên cứu và bộ câu hỏi điều tra.

Công tác ngoại nghiệp:

- Đi thực địa tại các tỉnh Nghệ An, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Gia Lai, Hà Tây, Hoà
Bình. Các tiêu chí lựa chọn các tỉnh nghiên cứu bao gồm: (i) Các tỉnh thuộc các vùng
sinh thái khác nhau đại diện cho các tỉnh miền Bắc, Trung và Tây nguyên; (ii) Có diện
tích rừng tự nhiên lớn; (iii) Thực hiện tốt các hoạt động giao đất giao rừng, trong đó tỉnh
Hoà Bình là tỉnh có hoạt động này sớm nhất; (iv) Có các khu bảo tồn tự nhiên và; (v) Có
ix
các lâm trường và các nhà máy chế biến lâm sản, nông dân tham gia vào trồng rừng
nguyên liệu phục vụ cho các nhà máy, phát triển nhanh diện tích rừng sản xuất.

- Đối tượng tập trung để tham vấn là thôn/ bản và các lâm trường, doanh nghiệp chế
biến lâm sản. Trong mỗi tỉnh các thôn/bản và các lâm trường được lựa chọn không bị
trùng lặp giữa các nhóm tham vấn. Tại cấp huyện và cấp cơ sở xã, thôn và lâm trường
các nhóm làm việc độc lập và riêng biệt. Tuy nhiên, ở cấp tỉnh, các nhóm sẽ có các buổi
tham vấn chung với các nội dung khác nhau, các cơ quan tham vấn cấp tỉnh gồm sở
nông nghiệp và PTNT, Chi cục lâm nghiệp, và Chi cục kiểm lâm.

- Thảo luận nhóm: Các cán bộ đoàn điều tra, khảo sát tiến hành thảo luận nhóm với các
hộ nông dân sống phụ thuộc vào rừng về các vấn đề liên quan đến dân tộc dựa vào tình
hình thực tế của các địa phương. Mỗi nhóm gồm 25 người tham gia, và sẽ được chia
thành 3 nhóm nhỏ: một nhóm toàn phụ nữ, một nhóm toàn nam giới và một nhóm bao
gồm cả nam giới và phụ nữ (theo dự kiến).Trên thực tế số cán bộ tham gia thảo luận
nhóm và trả lời phỏng vấn ở các lâm trường quốc doanh là 221 người.

- Phỏng vấn bán cấu trúc và trực tiếp: Tập trung vào phỏng vấn các đối tượng cả nam và
nữ, cả cấp quản lý và cấp hộ nông dân, hình thức phỏng vấn độc lập. Câu hỏi để phỏng
vấn các cấp quản lý và bộ câu hỏi được chuẩn hoá dành cho phỏng vấn hộ gia đình được
thiết kế dựa vào các yêu cầu nội dung cần thu thập.

Các phát hiện nghiên cứu và khuyến nghị:
a. Giới và vấn đề lập QHSDĐ, GĐLN và phát triển bền vững
Các phát hiện:
- Địa phương chưa có cách tiếp cận đúng trong quy hoạch sử dụng đất và giao đất, ảnh
hưởng đến cuộc sống của phụ nữ;

- Dân số tăng nhanh gây sức ép lên tài nguyên và ảnh hưởng lớn đến đời sống của đồng
bào dân tộc ít người, trong đó có phụ nữ;

- Sự phối kết hợp giữa các cơ quan chức năng địa phương với cộng đồng người dân địa
phương, trong đó có phụ nữ, chưa thật tốt. Việc chưa huy động được người dân địa
phương, đặc biệt là chị em phụ nữ tham gia tích cực vào công tác quản lý rừng bền vững
một phần là do chưa có cơ chế chính sách hợp lý để bảo đảm đời sống và đáp ứng các
nhu cầu hàng ngày của người dân, đặc biệt là quyền sử dụng đất và cơ chế hưởng lợi.

Khuyến nghị:
- Điều tra hiện trạng sự tham gia của phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ dân tộc thiểu số trong
công tác quy hoạch sử dụng đất;
- Xác định rõ quyền sử dụng đất có sự tham gia của tất cả các bên, đặc biệt là phụ nữ;
- Tăng cường sự phối hợp trong việc quản lý bảo vệ rừng gắn với giảm nghèo;
- Nâng cao năng lực về thực thi chính sách, phát triển tổ chức thể chế địa phương;
- Nâng cao năng lực về phương pháp tiếp cận, giám sát quản lý kế hoạch có sự tham gia;

x
- Tổng kết kinh nghiệm truyền thống về quản lý rừng của người dân địa phương và có
kế hoạch nhân rộng những kinh nghiệm tốt với sự tham gia tích cực của phụ nữ;
- Bố trí công việc hợp lý để phát huy tối đa thế mạnh của phụ nữ

b. Vai trò của phụ nữ trong phát triển sản xuất, khai thác, chế biến lâm sản
quy mô vừa và nhỏ (sản xuất chế biến và thị trường)
Các phát hiện:

- Sản xuất, khai thác lâm sản ngoài gỗ, cải thiện đời sống của đồng bào địa phương
- Quyền sử dụng đất không rõ ràng, đất canh tác thiếu nghiêm trọng, cơ chế hưởng lợi
chưa rõ ràng, quyền của phụ nữ còn hạn chế.
- Nhu cầu đời sống không được bảo đảm dẫn đến phá rừng
- Phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ dân tộc thiểu số thiếu các cơ hội tiếp cận nguồn lực
- Gánh nặng kiếm sống vẫn chất trên vai người phụ nữ
- Thiếu cán bộ địa phương có khả năng và kiến thức về lồng ghép giới trong các hoạt
động lâm nghiệp
- Phụ nữ đảm đương các công việc nặng và độc hại với tỷ lệ khá cao tại các xí nghiệp
chế biến lâm sản
- Phụ nữ ít cơ hội được bổ nhiệm các vị trí lãnh đạo

Khuyến nghị:
- Bố trí đúng việc để phát huy năng lực, sở trường của chị em
- Có kế hoạch khôi phục lại các nghề truyền thống của chị em
- Xây dựng các chương trình tạo thêm cơ hội việc làm cho chị em
- Xác định cơ cấu cây trồng và tăng cường hỗ trợ kỹ thuật:
- Tăng cường năng lực để chị em có thể tìm kiếm và mở rộng thị trường tiêu thụ sản
phẩm, dịch vụ
- Nghiên cứu lại chế độ nghỉ hưu, thai sản cho chị em làm việc nặng nhọc, độc hại
trong ngành lâm nghiệp
- Xây dựng và thực hiện các chương trình giảm nhẹ sự vất vả cho phụ nữ
- Nâng cao hiệu quả chương trình dự án:
- Lồng ghép giới trong chương trình giảng dạy ở các trường sư phạm, các trường phổ
thông và chương trình tập huấn
- Xây dựng cơ chế và quy trình giám sát đánh giá.

c. Vấn đề giới trong việc phổ biến luật và các chính sách lâm nghiệp, sự tham
gia của phụ nữ trong các hoạt động khuyến lâm, giáo dục và đào tạo lâm nghiệp

Các phát hiện:
Đối với công tác tín dụng
- Phụ nữ được tiếp cận nguồn tín dụng còn hạn chế, thủ tục vay vốn còn phức tạp.
xi
- Phụ nữ mới chỉ được tiếp cận nguồn tín dụng qua dự án hoặc tín chấp (ở một số
tỉnh).

Công tác KNKL
- Chưa có địa phương nào mở các lớp học khuyến lâm
- Chưa có lớp khuyến nông nào dành riêng cho phụ nữ hay ưu tiên cho phụ nữ.

Công tác đào tạo
Phụ nữ ít có cơ hội được tham gia các khoá đào tạo nâng cao trình độ học vấn hơn nam
giới

Công tác nghiên cứu
Phụ nữ vẫn còn nhiều hạn chế trong nghiên cứu lâm nghiệp:
- Năng lực nghiên cứu của phụ nữ hạn chế so với nam giới;
- Phụ nữ ít có cơ hội tham gia nghiên cứu khoa học.

Khuyến nghị:
Đối với công tác tín dụng
- Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT cần: Đơn giản hoá thủ tục vay vốn; sửa đổi chính
sách vay vốn; tăng dịch vụ hỗ trợ cho người vay vốn nông thôn.
- Tăng lượng vốn vay dài hạn cho sản xuất lâm nghiệp của Ngân hàng Nông nghiệp và
PTNT, Ngân hàng Chính sách xã hội và các tổ chức tín dụng khác.
- Đào tạo về giới cho cán bộ Ngân hàng cấp huyện
- Hội Phụ nữ thường xuyên cung cấp thông tin về nhu cầu vay vốn của phụ nữ trong
Ngân hàng chính sách xã hội cấp huyện và tỉnh.
- Cung cấp đào tạo kỹ năng quản lý tài chính và đào tạo khuyến nông, khuyến lâm cho
phụ nữ kết hợp với các khoản vay cho chị em.
- Nhà nước bố trí vốn cho hộ gia đình vay để phát triển kinh tế như trồng rừng, chăn
nuôi, phát triển ngành nghề với lãi suất ưu đãi, phù hợp với chu kỳ của từng loài cây
trong lâm nghiệp được trả gốc và lãi sau khi đã thu hoạch.

Đối với công tác đào tạo
- Chính sách tuyển dụng và đề bạt nên chú trọng tới công bằng giới ở tất cả các cấp.
- Truyền bá kiến thức về giới trong cơ quan
- Có chính sách rõ ràng nhằm đưa vấn đề công bằng giới trong cơ quan.
- Có cán bộ chuyên trách hoặc bộ phận chuyên trách cho các vấn đề về giới. Người
đứng đầu bộ phận phải có vị trí và khả năng phù hợp để có thể lãnh đạo tốt và ra
những quyết định đúng đắn, kịp thời.
- Tạo điều kiện mở lớp bồi dưỡng kiến thức dành riêng cho phụ nữ.
- Chính sách tuyển dụng và đề bạt nên chú trọng tới công bằng giới ở tất cả các cấp.
- Tăng cường đào tạo về phương pháp nghiên cứu cho phụ nữ

Đối với công tác nghiên cứu khoa học
- Tạo điều kiện mở lớp bồi dưỡng kiến thức dành riêng cho phụ nữ, đồng thời, tạo cơ
hội cho phụ nữ được tham gia công tác nghiên cứu khoa học hoặc làm chủ nhiệm các
xii
đề tài độc lập.
- Khuyến khích phụ nữ phát minh sáng kiến hay các ý tưởng cho công tác nghiên cứu
khoa học.

Đối với công tác KNKL
- Bổ sung và tăng cường cán bộ KNKL xã.
- Quan tâm chú trọng công tác cung cấp dịch vụ KNKL cấp thôn, bản.
- Đối tượng được tham gia các lớp tập huấn KNKL là các hộ dân hơn là các lãnh đạo
và cán bộ KNKL.
- Tăng số cán bộ nữ làm công tác KNKL, đồng thời bổ sung kiến thức về giới cho độ
ngũ cán bộ này. Ngoài ra, cần hỗ trợ tăng cường nữ cán bộ làm công tác đào tạo
KNKL tình nguyện.
- Khi xây dựng tài liệu giảng dạy về KNKL cần đảm bảo phân tích nhu cầu đào tạo về
nhạy cảm giới.
- Bổ sung, đưa thêm các nội dung về hoạt động sản xuất lâm nghiệp và chế biến, bảo
quản lâm sản trong các bài giảng khuyến nông khuyến lâm.
- Tạo điều kiện cho phụ nữ tiếp cận các dịch vụ KNKL: bố trí cho phụ nữ tham gia
thực hiện các mô hình trình diễn, các khoá đào tạo của khuyến nông.

d. Các hoạt động về vườn ươm, bảo tồn và dịch vụ môi trường
Các phát hiện

Việc đề bạt cán bộ, tiếp cận với các nguồn lực/đào tạo trong lĩnh vực bảo vệ, phát triển
rừng và dịch vụ môi trường nhìn chung chưa nhạy cảm về giới. Phụ nữ vẫn bị coi là
phái yếu so với nam giới, việc phân công lao động vẫn theo truyền thống; Nam giới
dược phân công những việc được cho là quan trọng, việc nặng, ngoài cộng đồng; Phụ nữ
được phân công những việc được cho là việc nhẹ, dễ dàng, hậu cần, việc nhà trừ trường
hợp cơ quan Hội Phụ nữ các cấp.

Thiếu sự hiện diện của phụ nữ ở các vị trí lãnh đạo của các Chi cục, Lâm trường, nếu có
chỉ ở các vị trí ít quan trọng. Phụ nữ hầu như đã đựơc bố trí công việc theo cảm nhận đó
là giao những việc nhẹ hơn, thường là công việc trong văn phòng, vườn ươm và chăm
sóc rừng trồng. Số cán bộ nữ làm việc tại văn phòng này cũng có đựơc bổ nhiệm nhưng
không ở các vị trí quan trọng, thường chỉ là kế toán trưởng, cấp Uỷ, đoàn thanh niên
hoặc đội trưởng của vườn ươm (bình quân 15%).

Thiếu nguồn cán bộ nữ tiềm năng để bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo. Chưa có chính
sách dựa trên đặc thù riêng của ngành lâm nghiệp, vì vậy đối với lao động nữ làm các
công việc nặng nhọc (trồng rừng) chưa được thường xuyên luân chuyển và có những
chế độ đãi ngộ riêng.

Liên quan đến lĩnh vực dịch vụ môi trường vẫn tồn tại sự phân biệt trong phân công lao
động giữ nam và nữ. Phụ nữ thường được phân công làm những việc cho là hợp với
phụ nữ không đòi hỏi trình độ chuyên môn cao nhưng không bền vững và lâu dài.
xiii
Đối với các làng du lịch văn hoá (thuộc dự án bảo tồn ĐDSH dựa trên sinh thái cảnh
quan) kinh doanh còn tự phát, hình thức kinh doanh đơn giản (chủ yếu phục vụ ăn uống,
ngủ nhà sàn, nghe ca nhạc…v.v), cá biệt một số hộ gia đình còn chưa thống nhất với cơ
chế hưởng lợi.

Khuyến nghị:
- Tăng cường kỹ năng chuyên môn và giới cho các cán bộ bảo vệ rừng, dịch vụ môi
trường để họ có thể thực hiện lồng ghép giới trong đơn vị.

- Xây dựng các tiêu chí để phân tích đánh giá năng lực, các nhu cầu khác biệt giữa nam
và nữ để bố trí lao động phù hợp

- Tăng suất đầu tư cho các VQG, khu BTTN có đủ các điều kiện làm du lịch sinh thái.

5. Các yếu tố ảnh hưởng đến đời sống lao động nữ trong các LTQD
Các phát hiện:

- Những định kiến của cán bộ, công nhân viên trong các lâm trường về vai trò và trách
nhiệm của người phụ nữ vẫn còn tiềm ẩn trong suy nghĩ và hành vi của cả nam và nữ,
gây nên sự khác biệt về giới và sự mất công bằng trong lâm trường, gia đình các hộ lâm
trường viên và trong xã hội.

- Nam giới chiếm ưu thế và là người chủ yếu điều hành các hoạt động trong lâm trường,
xã hội và gia đình. Gánh nặng về công việc gia đình cũng như trình độ học vấn ảnh
hưởng đến sự tham gia của phụ nữ trong các hoạt động công việc trong lâm trường và
xã hội.

- Lao động nữ trong các lâm trường thường đảm nhiệm các công việc ít nặng nhọc hơn
như các hoạt động vườn ươm, rừng trồng vì lý do sức khoẻ. Nam giới kiểm soát chủ yếu
nguồn lực trong lâm trường cũng như gia đình. Vì vậy, phụ nữ thường rơi vào vị thế bất
lợi và bị thua thiệt trong tiếp cận và quản lý các nguồn lực và ít được hưởng lợi hơn nam
giới từ các thành quả của các hoạt động phát triển nói chung và các hoạt động phát triển
lâm nghiệp nói riêng.

- Chính sách đổi mới LTQD ảnh hưởng đến lao động nữ nhiều hơn nam (lao động dôi
dư nữ nhiều hơn).

Khuyến nghị:

- Tiến hành tập huấn/đào tạo về giới cho cán bộ, công nhân viên các lâm trường đặc biệt
là các nhà lãnh đạo trong lâm trường;

- Quan tâm đào tạo, đề bạt cán bộ nữ trong các lâm trường.

xiv
- Đề nghị hỗ trợ các cán bộ, công nhân viên nữ bị dôi dư vay vốn để phát triển sản xuất
tạo thu nhập cho gia đình: chăn nuôi, làm vườn, làm các ngành nghề truyền thống…

- Bố trí việc làm cho lao động nữ vào các công việc phù hợp hơn với sức khoẻ (Vườn
ươm, trồng rừng, văn phòng).

- Ưu tiên nâng bậc lương cho cán bộ, công nhân viên nữ.

- Đề nghị có chế độ nghỉ hưu tự nguyện cho lao động nữ làm các công việc lao động sản
xuất trực tiếp trong các lâm trường quốc doanh ở độ tuổi từ 45 – 50 (đối với số công
nhân viên hiện nay không có đủ sức khoẻ để đảm nhiệm công việc). Về lâu dài để đảm
bảo sức khoẻ cho lao động nữ, đề nghị cải thiện điều kiện và môi trường làm việc cho
họ.

- Đề nghị có chính sách hỗ trợ về mặt tinh thần và kinh tế giúp đỡ những phụ nữ có
hoàn cảnh khó khăn, đặc biệt là những phụ nữ không lập gia đình nhưng có con và nuôi
con một mình.

- Đề nghị tiếp tục có những nghiên cứu sâu hơn về giới trong các lâm trường quốc
doanh.





Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét