Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của Ngân hàng Đầu tư và phát triển Chi nhánh Thăng Long

c, Đối với tổ chức tín dụng, không ngừng nâng cao trình độ quản lý, hiện đại
hoá công nghệ, nâng cao năng lực hoạt động kinh doanh, lợi nhuận ngày
càng cao.
Mục tiêu cao nhất của một Ngân hàng thương mại là lơi nhuận, cổ tức chia
cho cổ đông ngày càng gia tăng và ổn định. Để đạt được mục tiêu cao nhất
đó thì Ngân hàng cần phải khẳng địng được vị thế của mình trên thị trường,
có uy tín đối với khách hàng. Điều đó phải đòi hỏi không ngừng vươn lên về
cạnh tranh trên thương trường. Muốn vậy ngoài việc phải đáp ứng được các
yêu cầu cần về các tiêu chuẩn chất lượng với khách hàng, phải còn có các
điều kiện đủ khác, đó là quảng bá, khuyến mại, tiếp thị và làm tốt có hiệu
quả các khâu quản trị - điều hành khác nữa.
4. Đặc điểm cạnh tranh trong hoạt động Ngân hàng.
So với các hoạt động kinh doanh chung trong nền kinh tế, cạnh tranh trong
hoạt động Ngân hàng có các đặc điểm riêng biệt sau:
a, Đối với khách hàng.
Không giống với các loại hình kinh doanh khác trong nền kinh tế thị
trường, hoạt động Ngân hàng là một loại hình kinh doanh tiền tệ. Cũng
chính vì vậy mà các khách hàng của nó cũng quan tâm rất khác đến sản
phẩm dịch vụ của Ngân hàng cung cấp với các sản phẩm dịch vụ mà các
doanh nghiệp cung cấp. Các động cơ chủ yếu thúc đẩy khách hàng mua các
hoạt động dịch vụ của Ngân hàng là:
+ Lơi nhuận hoặc tiết kiệm. Tìm kiếm lợi nhuận là động cơ quan trọng tìm
tới các dịch vụ Ngân hàng của các chủ thể thị trường bán lẻ. Với các chủ thể
này thì lãi suất có ý nghĩa to lớn.
+ Tính linh hoạt của dịch vụ. Khách hàng rất chú ý tới tính linh hoạt của
dịnh vụ đó, là dịch vụ có thể thích nghi với những nhu cầu thay đổi.
+ Chất lượng dịch vụ. Khách hàng quan tâm đến chất lượng dịch vụ, đó
cũng là cơ sở cho sự cạnh tranh phi giá. Song cũng cần chú ý rằng nhiều khi
giá rẻ nhưng chất lượng dịch vụ không tốt cũng không thu hút được khách
hàng.
+ Tốc độ. Đây cũng là điều quan tâm của khách hàng bởi vì tốc độ dịch vụ
nhanh cũng có nghĩa là chu chuyển vốn nhanh, do đó giảm được chi phí sử
dụng vốn hơn nữa, nhiêu khi đảm bảo được kịp thời, thời cơ cho việc sử
dụng vốn của khách hàng.
+ An toàn. Nơi bảo quản vững chắc tiền vốn của mình, nều như người gửi
tiền chọn được Ngân hàng gửi tiền tốt.
-5-
+ Việc phục vụ được đảm bảo. Thường thường khách hàng và Ngân hàng
có quan hệ lâu dài và tín nhiệm lẫn nhau, vì vậy việc đảm bảo phục vụ kịp
thời các yêu cầu của nhau là cơ sở cho quan hệ lâu dài.
+ Thuận tiện. Khách hàng rất quan tâm tới các dịch vụ, sản phẩm Ngân
hàng thuận tiện cho mình. Ngân hàng thuận tiện cũng là điều khách hàng lựa
chọn để giao dịch.
+ Danh giá, tiếng tăm và kỹ thuật hiện đại. Đây cũng là một tiêu chuẩn lựa
chọn Ngân hàng của khách hàng bởi vì đó cũng là tiêu chuẩn để phòng ngừa
rủi ro khi đầu tư vốn.
Đó là những động cơ chủ yếu mang tính chất lý tính thúc đẩy khách hàng
mua các sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng.
Đối tượng khách hàng của loại hình kinh doanh này là rất đông đảo, nhất là
với các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, khách hàng hầu hết là công
dân đến tuổi trưởng thành được mở tài khoản và giao dịch với Ngân hàng.
Đối với Việt Nam thì hiện nay loại đối tượng khách hàng này rất ít, nhưng
với sự phát triển ngày càng tăng của nền kinh tế nước ta thì đây là những
khách hàng rất tiềm năng. Tiếp đến là các nhà kinh doanh, doanh nghiệp, tổ
chức, cơ quan, … Nhìn chung, đó là những người có nhu cầu mở tài khoản,
tiền gửi, vay vốn, thanh toán và thực hiện các dịch vụ Ngân hàng khác.
Khách hàng là đối tường cạnh tranh, phục vụ thu hút, cung cấp dịch vụ, …
của các Ngân hàng bao gồm:
- Khách hàng cá nhân
- Khách hàng là doanh nghiệp, công ty.
- Khách hàng là cơ quan Chính phủ, quốc gia, tổ chức chính trị - xã hôi,
tổ chức phi Chính phủ, …
- Là bản thân Ngân hàng đối tác.
Đặc điểm này quy định loại hình, tính chất và cấu chức tổ chức của mỗi
Ngân hàng cũng như của hệ thống Ngân hàng. Đồng thời, cùng với sự phát
triển của văn minh nhân loại, yêu cầu của khách hàng về cung cấp các sản
phẩm và dịch vụ Ngân hàng diễn ra mọi lúc, mọi nơi, nhanh nhất, tiện lợi
nhất và chất lượng ngày càng cao.
b, Đối với Ngân hàng.
Là tổ chức, là pháp nhân, được cơ quan chức năng: Chính phủ, Ngân hàng
Trung ương hoặc Bộ tài chính cấp giấy phép thành lập và hoạt động với các
điều kiện cụ thể, được hoạt động Ngân hàng ở một khu vực, trong cả nước
-6-
hay cả phạm vi quốc tế. Có nhiều loại Ngân hàng và tổ chức trung gian tài
chính, bao gồm:
- Ngân hàng thương mại
- Ngân hàng tiết kiệm
- Ngân hàng đầu tư và phát triển
- Ngân hàng chuyên ngành: giao thông, bưu điện, …
- Ngân hàng chính sách
- Công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính
- Quỹ tín dụng, hợp tác xã tín dụng, ….
Ngân hàng có trụ sở giao dịch cố định gắn liền với các khu dân cư, khu vực
kinh doanh, đầu mối giao thông, … Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ
của công nghệ thông tin còn có Ngân hàng ảo, Ngân hàng tại nhà (Home
Banking), Ngân hàng trên mạng Internet (Banking Internet), …
c, Đối với mỗi thị trường, nền kinh tế và cơ quan quản lý.
Đặc điểm, tính chất và nội dung cạnh tranh trong hoạt động Ngân hàng của
mỗi quốc gia tuỳ thuộc vào: thể chế chính trị, môi trường pháp lý, trình độ
phát triển kinh tế, đường lối chính sách trong từng thời kỳ và phong tục tập
quán. Đối với các nước có nền kinh tế thị trường phát triển hoạt động Ngân
hàng cũng phát triển và cạnh tranh rất sôi động, các cơ chế quản lý phần
nhiều là sử dụng công cụ gián tiếp, hoặc các chế tài quy định trong luật
chuyên ngành. Còn đối với các nước chậm phát triển hay đang trong quá
trình chuyển đổi thì các công cụ quản lý trực tiếp, các biện pháp hành chính
được sử dụng nhiều hơn.
d, Yêu cầu về quản lý và cơ chế điều hành cạnh tranh trong hoạt động Ngân
hàng.
Quản lý về hoạt động cạnh tranh trong hoạt động Ngân hàng, các quốc gia
đều có bộ luật riêng về Ngân hàng (ở Việt Nam có luật Ngân hàng, luật các
Tổ chức tín dụng) và có cơ quan chuyên môn riêng quản lý về lĩnh vực này.
Mục tiêu quản lý là bảo vệ quyền lợi khách hàng - người gửi tiền, chống độc
quyền, đảm bảo an toàn cho hệ thống Ngân hàng và hệ thống tiền tệ, thực
hiện chính sách tiền tệ quốc gia.
-7-
II. Các biện pháp sử dụng trong cạnh tranh Ngân hàng.
1. Sử dụng các công cụ cạnh tranh.
a, Lãi suất.
Lãi suất là tỷ lệ phần trăm của số tiền có được so với số tiền gốc mà người
gửi tiền nhận thêm được từ Ngân hàng hay người vay phải trả cho Ngân
hàng về khoản vốn vay. Nói ngắn gọn, lãi suất là giá cả sử dụng vốn. Ngân
hàng nhận tiền gửi, huy động vốn trong xã hội phải trả lãi cho người gửi
tiền, người vay vốn của Ngân hàng thì phải trả tiền lãi vay cho Ngân hàng.
Trong cạnh tranh, Ngân hàng luôn mong muốn thu được mức lãi suất cho
vay cao nhất và trả lãi tiền gửi - lãi suất huy động vốn thấp nhất. Ngược lại,
khách hàng của Ngân hàng, nếu là người vay vốn thì muốn trả lãi suất thấp
nhất, nếu là người gửi tiền thì muốn hưởng mức lãi suất cao nhất. Để giải
quyết mâu thuân này, đòi hỏi cả một nghệ thuât trong quản trị, điều hành của
mỗi Ngân hàng, sao cho luôn luôn thích ứng với diễn biến của thị trường và
diễn biến của lãi suất, giành thắng lợi trong cạnh tranh.
b, Tỷ giá hối đoái.
Tỷ giá hối đoái là mối quan hệ so sánh, là tỷ lệ trao đổi giữa đồng tiền của
quốc gia này với đồng tièn của quốc gia khác, hay nói cách khác, tỷ giá hối
đoái là giá cả của một đồng tiền tính ra một đồng tiền khác
Có ba loại giao dịch tỷ giá: giao dịch giao ngay, giao dịch kỳ hạn và giao
dịch hoán đổi. Cũng giống như các loại giá cả khác, xử lý mẫu thuẫn về giá
cả giữa người mua, người bán trong giao dịch tỷ giá là một nghệ thuật quản
trị điều hành trong chiến lược cạnh tranh Ngân hàng.
c, Phí dịch vụ.
Phí dịch vụ là số tiền mà khách hàng phải trả cho Ngân hàng về một loại
dịch vụ nào đó, hay Ngân hàng phải trả cho người cung cấp dịch vụ.
Hoạt động Ngân hàng ngày càng phát triển, các loại dịch vụ Ngân hàng
ngày càng phát triển và đa dạng. Có thể kể đến một số loại phí dịch vụ chính
của một Ngân hàng như sau:
- Phí bảo lãnh
- Phí thanh toán, chuyển tiền
- Phí tư vấn, cung cấp thông tin.
- Phí giữ hộ (ngân quỹ), …
-8-
Trong quản trị điều hành về kĩnh vực này, ngoài việc đưa ra mức phí hấp
dẫn cho khách hàng thì vấn đề quan trọng tiếp theo là chất lượng dịch vụ
ngày càng hoàn hảo và tiện lợi.
2. Sử dụng các ngiệp vụ và đưa các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng.
- Tiền gửi, huy động vốn: Mục tiêu cạnh tranh của mỗi Ngân hàng là làm
sao huy động được khối lượng vốn đủ lớn phục vụ cho kinh doanh với lãi
suất thấp nhất. Nghệ thuật cạnh tranh là đa dạng hoá các hình thức gửi tiền
và huy động vốn với việc tổ chức giao dịch tiện lợi.
- Cho vay, bảo lãnh, cho thuê, đầu tư, … lĩnh vực này có thể được gọi là sử
dụng vốn. Mục tiêu là làm sao sử dụng tối đa guồn vốn trong phạm vi cho
phép bảo đảm an toàn, chất lượng cao, thu được nhiều lãi. Nghệ thuật cạnh
tranh cũng là đa dạng hoá các hình thức, linh hoạt lãi suất, làm tốt công tác
tiếp thị, …
- Chiết khấu, tái chiết khấu, … mục tiêu cũng là có mức chiết khấu hợp lý,
khối lượng chiết khấu đủ lớn, khách hàng đông đảo, … nhằm thu được lợi
nhuận từ nghiệp vụ ngày càng cao.
- Kinh doanh hối đoái, thu đổi ngoại tệ, … mục tiêu cũng là thu được lợi
nhuận ngày càng cao. Phương pháp là luôn đưa ra mức tỷ giá và dự đoán
biến động tỷ giá chính xác để quyết định khối lượng mua, bán ngoại tệ, thu
đổi ngoại tệ hợp lý, thu hút khách hàng đông đảo. Yêu cầu của khách hàng là
uy tín Ngân hàng, thuận tiện, mức tỷ giá hợp lý.
- Dịch vụ khác: ngân quỹ, tư vấn, … Đây cũng là một nhóm dịch vụ Ngân
hàng, mục đích là thu phí, bổ sung cho tăng lợi nhuận của Ngân hàng. Yêu
cầu của khách hàng là uy tín Ngân hàng, chất lượng dịch vụ, tính tiện lợi và
mức phí hợp lý.
3. Cạnh tranh về khách hàng.
Đối tượng cạnh tranh của Ngân hàng chính là thu hút khách hàng, mỗi
nhóm khách hàng có chiến lược, phương pháp nghệ thuật cạnh tranh phù
hợp, tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi Ngân hàng. Có thể chia khách
hàng theo các nhóm sau đây:
- Khách hàng cá nhân: thường là mục tiêu của các Ngân hàng thiên về bán
lẻ, yêu cầu cạnh tranh là đáp ứng được tiện ích cho khách hàng với mức phi,
lãi suất, tỷ giá thoả mãn được nhu cầu của họ.
- Khách hàng là các công ty, dự án: thường là mục tiêu của các Ngân hàng
lớn, thiên về bán buôn. Nội dung cạnh tranh là đáp ứng được nhu cầu về quy
mô vốn, thời gian, lãi suất và các dịch vụ khác của các công ty, dự án.
-9-
- Khu vực thị trường đang lên: trong cạnh tranh, các Ngân hàng lớn thường
có chiến lược chủ động vươn ra mở chi nhánh, văn phong đại diện hay đầu
tư dự án ở khu vực thị trường đang lên, nhất là các nước đang phát triển
- Chính phủ: thường là các dự án đầu tư quốc gia, yêu cầu vốn lớn, có rủi
ro thấp. Yêu cầu là quy mô vốn lớn, thời gian và lãi suất hợp lý.
- Đối tường khác: Ngân hàng đối tác, tổ chức phi Chính phủ.
4. Sử dụng nghệ thuật cạnh tranh trong kinh doanh.
Nghệ thuật cạnh tranh là tổng hợp các biện pháp, phương pháp, tổ chức các
khâu nghiệp vụ, kỹ thuật trong khâu quản trị, điều hành, tác nghiệp của mỗi
Ngân hàng nhằm đạt được các mục tiêu cạnh tranh của mình. Nghệ thuật
cạnh tranh của một Ngân hàng có thể phân chia như sau:
- Hiện đại hoá công nghệ Ngân hàng: đó là việc ứng dụng những thành tựu
mới nhất của tiến bộ khoa học vào các khâu trong hoạt động Ngân hàng, tập
trung đó là thanh toán, thẩm định dự án, thu thập thông tin, khách hàng,
chuyển tiền, kinh doanh hối đoái, …
- Mở rộng màng lưới giao dịch: với việc thiết lập chi nhánh, phòng giao
dịch, văn phòng giao dịch, … tại các khu vực mới, có tiềm năng về phát
triển thị trường.
- Đa dạng hoá nghiệp vụ: bao gồm đa dạng hình thức thu hút tiền gửi và
huy động vốn, đa dạng hình thức cho vay, mở ra nhiều loại hình dịch vụ
Ngân hàng. Xu hướng là luôn đưa ra các loại sản phẩm và dịch vụ mới với
chất lượng hoàn hảo. Hoặc là thiên về Ngân hàng bán buôn, hoặc là thiên về
nghiệp vụ Ngân hàng bán lẻ.
- Tiếp thị, khuyến mại, quảng cáo: đây là khâu rất quan trọng trong nghệ
thuật cạnh tranh nhằm làm cho khách hàng biết đến các sản phẩm dịch vụ
mới của Ngân hàng, tăng uy tín và đông đảo mọi người biết đến Ngân hàng.
Chủ động tìm đến với khách hàng, săn lùng tìm kiếm dự án lớn và khả thi,
thu hút đông đảo khách hàng, nhất là khách hàng lớn, có uy tín.
- Quản lý tài chính: mục tiêu là tiết kiệm tới mức thấp nhất chi phí bỏ ra,
đầu tư hợp lý và có hiệu quả cho các hoạt động, giảm chi phí, tăng lợi
nhuận. Mức phí và lãi suất có sức hấp dẫn khách hàng.
- Quản trị, điều hành: tổng hợp các biện pháp, phương pháp nghệ thuật
trong tổ chức hoạt động Ngân hàng sao cho đạt được mục tiêu cạnh tranh.
Nó còn bao gồm cả nghệ thuật xử lý các tình huống kinh doanh, cũng như
đưa ra các chiến lược ngắn hạn, trung dài hạn, luôn luôn thích ứng với mọi
tình hình.
-10-
- Nhân sự: có thể nói yếu tố con người có tính chất quyết định trong cạnh
tranh, nó bao gồm trình độ, năng lực cán bộ, nhân viên, nghệ thuật và
phương pháp làm việc, nghệ thuật và thái độ giao dịch, tiếp xúc với khách
hàng. Trong môi trường cạnh tranh, đòi hỏi trình độ cán bộ ngày càng cao,
giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, sử dụng thành thạo các phương tiện, thiết bị
hiện đại, xử lý linh hoạt và có hiệu quả trong mọi tình huống và làm thoả
mãn tâm lý, thị hiếu, nhu cầu của khách hàng trong giao dịch. Đòi hỏi ở cán
bộ, nhân viên là mang lại lợi nhuận ngày càng tăng cho Ngân hàng, làm cho
uy tín Ngân hàng ngày càng cao, Ngân hàng ngày càng vững mạnh. Phương
pháp để có được đội ngũ cán bộ, nhân viên theo yêu cầu là qua thi tuyển với
các chỉ tiêu về đào tạo, kinh nghiệm, phong cách, khả năng làm việc, …; qua
bồi dưỡng nghiệp vụ, qua đào tạo tại chỗ, …
- Vấn đề khác; tranh thủ sự ủng hộ của chính quyền địa phương, quan hệ
tốt với Chính phủ, cơ quan chức năng, có đội ngũ cộng tác viên hoạt động
hiệu quả.
III. Cơ chế điều chỉnh, quản lý cạnh tranh trong hoạt động
Ngân hàng.
Đây là vấn đề tất yêu khách quan trong quá trình cạnh tranh và hợp tác,
nhằm phát huy những ưu điểm, nâng cao hiệu quả và hạn chế những mặt
nhược điểm của nó. Tất cả các nước dù mới bước sang nền kinh tế thị trường
hay có nền kinh tế thị trường phát triển đều có cơ chế quản lý và điều chỉnh
cạnh tranh trong hoạt động Ngân hàng, chỉ có điều khác là ở mức độ và tính
chất. Các xu hướng được chủ yếu khái quát như sau:
1. Luật pháp.
Đây là công cụ trực tiếp, có hiệu quả nhất của quản lý và điều chỉnh cạnh
tranh trong hoạt động Ngân hàng.
Nội dung này được quy định thành các điều khoản trong luật Ngân hàng
Trung ương, luật Ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng ở hầu hết các
nước trên thế giới. Nội dung chế tài quy định về thanh tra, kiểm soát, giới
hạn huy động tiền gửi, giới hạn cho vay, cho vay hợp vốn, đồng tài trợ, chấp
hành về lãi xuất, tỷ giá, quản lý ngoại hối, bảo đảm an toàn thanh toán, kho
quỹ, chống gian lận khác, các hình thức xử phạt, … nhằm mục đích bảo vệ
quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm an toàn hệ thống tiền tệ (trong luật chuyên
ngành có quy định cụ thể về cạnh tranh trong hoạt động Ngân hàng). Nhìn
chung, chưa có nước nào ban hành đạo luật riêng về cạnh tranh trong hoạt
động Ngân hàng.
-11-
2. Ngân hàng Trung ương thanh tra, giám sát, kiểm soát.
Nhìn chung, chức năng của Ngân hàng Trung ương ở tất cả các nước là xây
dựng và điều hành thực hiện chính sách tiền tệ, thực hiện các nghiệp vụ
Ngân hàng Trung ương. Còn chức năng thanh tra, giám sát hoạt động Ngân
hàng, có nước thì thuộc về Ngân hàng Trung ương, có nước thì thuộc về Bộ
tài chính.
- Điều hành chính sách tiền tệ và thực hiện nghiệp vụ Ngân hàng Trung
ương là công cụ gián tiếp điều chỉnh hoạt động cạnh tranh của Ngân hàng
theo mục tiêu đề ra.
- Thanh tra, giám sát là biện pháp trực tiếp mà Ngân hàng Trung ương hay
Bộ tài chính thực hiện quản lý hoạt động Ngân hàng.
- Các công cụ trực tiếp và gián tiếp thực hiện đồng thời, kết hợp với nhau.
Đối với các nước có hoạt động Ngân hàng phát triển, công cụ gián tiếp được
sử dụng nhiều hơn, ngược lại, các nước có hoạt động Ngân hàng đang trong
quá trình chuyển đổi, công cụ trực tiếp được chú trọng sử dụng hơn.
3. Kiểm toán.
Ở hầu hết các nước, luật định yêu cầu có kiểm toán bắt buộc đối với hoạt
động Ngân hàng. Có 3 loại kiểm toán: kiểm toán Nhà nước, kiểm toán độc
lập và kiểm toán nội bộ. Thông qua công tác kiểm toán, xác định sự trung
thực, tính chính xác của các báo cáo tài chính, từ đó phát hiện, uốn nắn
những hoạt động cạnh tranh không đúng từ những vấn đề hạch toán, những
vấn đề thể hiện trên báo cáo tài chính.
4. Tự giám sát.
Cần được nhận thức rằng, luật pháp, hoạt động của cơ quan quản lý, các
công cụ trực tiếp, gián tiếp điều chỉnh hoạt động Ngân hàng, tất cả là yếu tố
bên ngoài, còn vấn đề quan trọng, có tính chất quyết định, là tự bản thân các
Ngân hàng phải tự bảo vệ mình, bảo vệ lợi ích của mình trong các hoạt động
cạnh tranh của Ngân hàng. Các biện pháp bảo vệ được quy định trong: điều
lệ của Ngân hàng, quy chế và quy trình nghiệp vụ, công tác nhân sự, hoạt
động kiểm soát và kiểm toán nội bộ, quy chế Hội đồng quản trị, cổ đông của
Ngân hàng.
5. Các yếu tố khác.
Các yếu tố khác có thể tac động mức độ khác nhau, điều chỉnh hoạt động
cạnh tranh của các Ngân hàng bao gồm: thị trường, khách hàng, dư luận xã
hội, phương tiện truyền thông, Hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng.
-12-
- Thị trường có tính chất điều tiết rất quan trọng. Nếu Ngân hàng nào
không vươn lên được trong cạnh tranh sẽ dần dần mất thị phần, thua lỗ kéo
dài, dẫn đến phá sản. Ngược lại, có Ngân hàng chỉ mải mê đến việc mở
mang thị phần, thu hút khách hàng, tăng trưởng quá nhanh dẫn đến không
kiểm soát nổi chi phí và chất lượng, nợ quá hạn có thể cao, chi phí lớn, thua
lỗ, mất khả năng thanh toán, dẫn đến bị phá sản, thị trường không cho phép
Ngân hàng hạ phí, hạ lãi suất xuống mức quá thấp hay quá cao hoặc muốn
tồn tại được buộc các Ngân hàng phải hợp tác với nhau.
- Khách hàng, đối tượng cạnh tranh của Ngân hàng là khách hàng. Nếu
Ngân hàng làm thoả mãn yêu cầu của khách hàng thì sẽ làm tăng uy tín của
Ngân hàng, luôn thu hút được khách hàng một cách ổn định, lâu dài. Kinh tế
thị trường càng phát triển, nhu cầu thị hiếu của khách hàng ngày càng đa
dạng, trình độ ngày càng cao. Do đó, họ có những đánh giá đích thực về uy
tín, chất lượng, giá cả, …đáp ứng của Ngân hàng để lựa chọn lâu dài.
- Dư luận xã hội, phương tiện truyền thông có tác dụng góp phần làm tăng
hay giảm uy tín của Ngân hàng, làm cho khách hàng biết đến một cách
nhanh nhất và rộng rãi nhất các sản phẩm, dịch vụ mới của Ngân hàng cũng
như chất lượng của nó. Dư luận và phương tiện truyền thông còn phê phán,
bình luận, dự đoán những cách cạnh tranh bất hợp pháp, cạnh tranh không
bình đẳng, … trong hoạt động Ngân hàng.
- Hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng, ở hầu hết các nước, đều có hiệp hội này.
Tiếp nhận và giải quyết các khiếu nai, kiến nghị và tranh chấp giữa khách
hàng và người bán hàng nói chung hay Ngân hàng cung cấp các sản phẩm
dịch vụ ngân hàng nói riêng.
IV. Khái quát tình hình cạnh tranh trong hoạt động Ngân
hàng ở Việt Nam hiện nay.
1. Hệ thống tổ chức và quản lý.
Thực hiện công cuộc đổi mới nền kinh tế đất nước, cuối thập kỷ 80, ở nước
ta, hệ thống Ngân hàng từ I cấp chuyển thành II cấp. Ngân hàng Nhà nước
làm chức năng quản lý, còn các Ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng
thực hiện chức năng kinh doanh. Tháng 5/1990, hai pháp lệnh Ngân hàng có
hiệu lực thi hành, hệ thống Ngân hàng đã được phát triển mạnh mẽ về nhiều
mặt. Tháng 10/1998, luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và luật các Tổ
chức tín dụng có hiệu lực thi hành. Đến nay, sau hơn 10 năm đổi mới và
phát triển, hệ thống Ngân hàng ở Việt Nam đã phát triển phong phú về hình
thức: Ngân hàng thương mại, Ngân hàng chính sách, hợp tác xã tín dụng,
quỹ tín dụng nhân dân; đa dạng về loại hình sở hữu: nhà nước, tập thể, cổ
-13-
phần, liên doanh, 100% vốn đầu tư nước ngoài; đông đảo về số lượng. Cụ
thể:
Tên Ngân hàng Vốn điều lệ
(tỷ đồng)
Số chi
nhánh
Cán bộ
(người)
Ngân hàng
đại lý
I.Khối NHTM Quốc doanh
1. NH No&PTNT 2.200 1.468 22.797 450
2. NHĐT&PT VN 1.100 102 4.786 565
3. NH Ngoại thương VN 1.100 19 2.836 1.200
4. NH Công thương VN 1.100 93 12.486 430
II. Khối NH chính sách
1. NH phục vụ người nghèo 900 63
2. NH phát triển nhà ĐBSCL 600 3 95
III NH Thương mại
1. NHTM CP Á Châu 340 11
2. NHTM CP Exim Bank VN 250 4
3. NHTM CP Quân đội 145,640 2+2*
4. NHTM CP Châu Á – TBD 70 1+3*
5. NHTM CP Đông Á 85 7
……………………………….

Chú thích:
- Nguồn: Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam tính đến tháng 6/2000.
- 2*, 3*: 2 Phòng giao dịch, 3 Phòng giao dịch.
2. Thực trạng năng lực cạnh tranh trong hoạt động Ngân hàng ở Việt
Nam hiện nay.
a, Vốn điều lệ
Các Ngân hàng thương mại (NHTM) quốc doanh và khối NH chính sách
có tổng số vốn điều lệ khoảng 7.000 tỷ đồng (khoảng 500 triệu USD), khối
NHTM cổ phần đô thị và công ty tài chính cổ phần có số vốn điều lệ khoảng
-14-

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét