Nguyễn Quang Hưng Luận văn tốt
nghiệp
Âm điệu (audio)
Hình ảnh (image) Các file dữ liệu ảnh được sử dụng trong các tài liệu
multimedia rất đa dạng. Nhưng những hình ảnh mà Web Browser có thể
hiển thị là các ảnh có dạng * . GIF, * JPEG, *.XBM.*.XBM là dạng ảnh
Bitmap dùng cho hệ thống Windows và chỉ hỗ trợ cho 2 màu. Hầu hết
các trình duyệt trên PC và Mac đều có thể sử dụng hiển thị dạng ảnh
này. Nhưng dạng ảnh này được tạo trên hệ điều hành Unix.GIF : được
hỗ trợ 256 màu, nói chung đây là dạng ảnh nén và là những ảnh có kích
thước lớn. GIF bị giới hạn trong phạm vi hẹp hơn rất nhiều khi chọn
màu. sử dụng GIF có nhiều điểm lợi hơn và là dạng đồ họa phổ biến
nhất được dùng trên trang Web. GIF có hiệu quả cao và tính năng nén
bên trong làm cho hình ảnh tương đối nhỏ. GIF hỗ trợ tính trong suốt và
xen kẽ là các tính năng có thể nâng cao sự hấp dẫn.
Video (hình ảnh động-motion image) Dạng dữ liệu kết hợp dữ liệu ảnh
động và dữ liệu âm thanh động vào 1 file gọi là dữ liệu video. File chứa
dữ liệu video gọi là file loại AVI. Ưu điểm của file loại AVI. Khi thể
hiện các file AVI có cảm giác rất thực, mọi việc diễn ra như trong thực
tế. Có được như thế là vì sự chuyển động của ẩnh trên màn hình và âm
thanh phát ra từ card âm thanh đã đồng bộ với nhau. Nhược điểm của
file loại AVI. Khó thay đổi dữ liệu.
Animation (hình ảnh sử dụng theo nguyên tắc chiếu phim). Dạng dữ
liệu kết hợp dữ liệu ảnh và dữ liệu âm thanh động trong quá trình thể
hiện tạo ra dữ liệu animation.Ưu điểm của dữ liệu animation. Trong chế
độ hiển thị theo nguyên tắc chiếu phim animation, các ảnh bitmap được
chứa trong nhiều file, thứ tự xuất hiện của các ảnh theo kịch bản là thứ
tự đọc các file ảnh. Tương tự như vậy đối với âm thanh. Các file âm
thanh được chuẩn bị trước thường là file dạng wav. Thứ tự xuất hiện âm
thanh tuân theo thứ tự đọc các file dạng wav.Điều này chứng tỏ dữ liệu
animation dùng nhiều file vì vậy việc thay đổi rất đơn giản. Nhược điểm
của dữ liệu animation. Nhược điểm duy nhất là do sử dụng nhiều file
ảnh và âm thanh trong 2 quá trình độc lập nhau vì vậy tính đồng bộ
không cao, chất lượng thể hiện không tốt, không có cảm giác thực.
c. Từ điển mutimedia
5
Nguyễn Quang Hưng Luận văn tốt
nghiệp
Ngày nay với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin nói
chung và công nghệ multimedia nói riêng đã đem lại một hình thức mới
cho từ điển - Từ điển Multimedia. Với khả năng lưu trữ lớn,tìm kiếm
thông tin nhanh của máy tính, đa dạng về thông tin thì nguồn thông tin
mà từ điển multimedia đem lại không chỉ là những tri thức được thể
hiện bằng chữ mà còn kèm theo cả âm thanh hình ảnh một cách trực
quan sinh động mang lại cho con người lượng thông tin nhiều hơn
phong phú hơn.
2. Các hệ thống đang sử dụng
Hiện nay trong cuộc sống hàng ngày của con người không thể thiếu
được các công cụ tra cứu, nhất là học sinh sinh viên các bộ từ điển đã
phần nào thoả mãn được các nhu cầu tra cứu, hoc tập của họ.
Cũng nằm trong việc đáp ứng nhu cầu bức xúc đó các bộ phần mềm từ
điển ra đời. Ngay từ khi mới xuất hiện nó đã trở thành một công cụ
đồng hành của giới nghiên cứu cũng như những người yêu thích tin
học. Tuy nhiên với sự phát triển không ngừng của xã hội thì những phần
mềm từ điển cũng phải không ngừng phát triển để bắt kịp vơi đà tăng
trưởng đó. Từ điển multimedia ra đời không nằm ngoài xu hướng đó.
Ngoài khả năng tra cứu bằng những đoạn văn bản thông thường thì nó
còn cung cấp cho người sử dụng những thông tin được cập nhật bằng
hình ảnh, âm thanh.
Tuy nhiên một khó khăn cho người dùng là việc cập nhật thông tin cho
từ điển. Với sự khác nhau về cách sử dụng của mỗi loại nguồn tin hình
ảnh, âm thanh, tiếng nói thì đối với người không thạo sử dụng sẽ rất
lúng túng trong quá trình cập nhật thông tin cho từ điển.
3. Yêu cầu của hệ thống từ điển multimedia
Yêu cầu chung
Để khắc phục những nhược điểm qua phần đánh giá ở phần trên,
chương trình xây dựng từ điển multimedia được xây dựng với các yêu cầu
như sau:
6
Nguyễn Quang Hưng Luận văn tốt
nghiệp
- Xây dựng phần mềm theo tiêu chuẩn hiện đại đáp ứng những nhu cầu về
tra cứu của người sử dụng.
- Từ thực tế sử dụng chúng ta thấy rằng ngoài việc tra cứu và tìm kiếm
thông tin thì người sử dụng cũng có nhu cầu cập nhật những thông tin
mới. Để đáp ứng nhu cầu bức thiết đó chương trìng phải có những công
cụ hỗ trợ cho việc cập nhật thông tin một cách dễ dàng hiệu quả.
- Chương trình phải được bảo mật về thông tin, có chế độ cảnh báo đối
với người dùng lạ.
a. Yêu cầu về tra cứu
- Tra cứu tác phẩm theo từng loại hình văn hoá nghệ thuật:
- Âm nhạc
- Văn thơ
- Phim ảnh
- Tranh ảnh
b. Các yêu cầu dữ liệu vào của chương trình
Dữ liệu mà chương trình sử dụng và quản lý rất đa dạng và phân tán cho
nên phải đảm bảo một số các yêu cầu:
- Các định dạng file phải chính xác tuyệt đối.
- Mọi thay đổi về vị trí file dữ liệu đều cần phải cập nhật lại.
c. Các yêu cầu bảo mật hệ thống
- Công nghệ bảo mật thông tin của hệ thông phải thuận tiện, chắc chắn
tuy nhiên phải tránh gây phiền hà đối với người sử dụng.
7
Nguyễn Quang Hưng Luận văn tốt
nghiệp
Chương II
PHÂN TÍCH HỆ THỐNG
1. Phân tích dữ liệu hệ thống
Trước hết thiết kế dữ liệu là phải tạo ra một cơ sở dữ liệu lưu trữ
thông tin của các đối tượng quản lý như ấn phẩm, tác giả, thể loại sao cho
thông tin không bị lưu trữ dư thừa về mặt logic (không bị trùng lặp) và khi
cần có thể truy xuất thông tin theo yêu cầu cho trước. Có nhiều cách thiết
kế cơ sở dữ liệu ý niệm, tuy nhiên thông dụng và hữu hiệu nhất là sơ đồ
thực thể quan hệ. Mục tiêu của phần này là phải xây dựng được sơ đồ quan
hệ thực thể các ấn phẩm văn hoá.Cho phép biểu diễn các thông tin về
những mối quan hệ quan trọng giữa chúng. Mô hình dữ liệu làm nền tảng
cho việc thiết kế cơ sở dữ liệu trên máy tính.
Định nghĩa những vùng dữ liệu chính xuất hiện trong bài toán, đối với
việc quản lý các ấn phẩm văn hoá trong giới hạn của bài luận văn này tôi
chỉ đề cập đến hệ thống dữ liệu tra cứu và cập nhật thông tin cho các ấn
phẩm.
- Nghiên cứu trong trường hợp quản lý các ấn phẩm chúng ta thấy rằng
những thực thể cần nghiên cứu như :
Tác giả
Tác phẩm
Thể loại
Nội dung tác phẩm
- Giữa các đối tượng này có mối quan hệ như sau:
Một tác phẩm chỉ có duy nhất một tác giả ngược lại một tác giả lại có
thể có nhiều tác phẩm, chúng có quan hệ một - nhiều.
8
Nguyễn Quang Hưng Luận văn tốt
nghiệp
Mỗi thể loại cũng có nhiều tác phẩm nhưng mỗi tác phẩm chỉ được
xếp vào một thể loại mà thôi, chúng có quan hệ một - nhiều.
Giữa tác phẩm và nội dung có mối quan hệ nhiều - nhiều có nghĩa là
một ấn phẩm có thể có nhiều nội dung khác nhau ngược lại một nội
dung lại có thể xuất hiện ở nhiều ấn phẩm (ví dụ như một đĩa CD âm
nhạc có thể có nhiều bài hát và một bài hát lại có thể xuất hiện ở nhiều
đĩa CD khác nhau)
Chúng ta có hình thể hiện sau đây:
Đối với mỗi thực thể ta có những thuộc tính như sau:
Tác giả
- Tên tác giả (*)
- Thể loại
- Thông tin tác giả
Tác phẩm
- STT (*)
- Tên tác phẩm
- Thể loại
9
Nguyễn Quang Hưng Luận văn tốt
nghiệp
- Tác giả
- Năm xuất bản
- Nhà xuất bản
- Nội dung tác phẩm
Thể loại
- Thể loại (*)
- Loại hinh
Nội dung
- Nội dung
- Loại hình (loại hình của nội dung)
- Đường dẫn (đường dẫn tới file chứa nội dung)
2. Phân tích các chức năng của hệ thống
Qua khảo sát các yêu cầu đối với hệ thống từ điển ấn phẩm, phần này
chúng ta tiếp tục phân tích cấu trúc logic của hệ thống. Qua đó có thể nhận
biết được mối quan hệ trong hệ thống, làm tiền đề cho các bước tiếp theo.
Cách tiếp cân bài toán ở đây là ta đi từ chức năng tổng quát, phân tích
thành các chức năng nhỏ hơn.
2.1 Chức năng tổng quát
Đối với một hệ thống từ điển nói chung bao gồm các chức năng như
sau:
Chức năng bảo mật và an toàn hệ thống
Chức năng tra cứu
Chức năng cập nhật thông tin
10
Nguyễn Quang Hưng Luận văn tốt
nghiệp
2.2 Các chức năng
2.2.1 Chức năng bảo mật hệ thống:
Đối với một ứng dụng liên quan đến cơ sở dữ liệu luôn đòi hỏi thông
tin mà nó quản lý phải được bảo vệ chắc chắn. Có hai loại nguy cơ dẫn đến
hư hỏng , mất mát thông tin là: nguy cơ từ các sự cố kĩ thuật như hỏng hóc
về phần cứng, bộ phận lưu giữ thông tin(đĩa cứng, đĩa mềm ), các nguy cơ
làm sai lạc thông tin từ những ý đồ xấu, từ sự sử dụng sai quy định hay
thiếu hiểu biết. Đây là những nguy cơ không thể tránh khỏi đối với mọi hệ
thông tin.
Việc hạn chế tới mức tối đa thiệt hại do nguy cơ sự cố kĩ thuật được
gọi là công tác an toàn thông tin của ứng dụng. Công việc phòng chống
nguy cơ phá hoại, ăn cắp hoặc làm hỏng thông tin do sử dụng sai mục đích
được gọi là công tác bảo mật.
Để đảm bảo an toàn dữ liệu của hệ thống, trong sơ sở dữ liệu phải có
cơ chế sao lưu định kì ra các công cụ lưu trữ và bảo quản nơi an toàn.
Để thực hiện bảo mật dữ liệu chương trình phải tạo lập các kiểm soát
đối với người dùng, trong đó có phân biệt rõ ràng đối với người sử dụng.
Các thông tin về người dùng sẽ được lưu trữ có hệ thống trong cơ sở dữ
liệu đặc trưng.
2.2.2 Chức năng cập nhật thông tin.
Làm nhiệm vụ cập nhật các dữ liệu đầu vào của chương trình. Do tính
chất dữ liệu của hệ thống, chức năng này đòi hỏi người thực hiện phải có
tinh thần trách nhiệm cao và có nghiệp vụ theo yêu cầu công việc. Nhìn từ
phía phân tích hệ thống, chúng ta thấy nổi lên các vấn đề như sau:
Trùng lặp về tên gọi của dữ liệu dẫn đến nhầm lẫn trong tìm kiếm
và tra cứu thông tin.
Dữ liệu của chương trình là các file nằm rải rác trên thiết bị lưu
trữ (ổ cứng) cho nên không thể đảm bảo được việc mất mát thông
tin sẽ không sảy ra.
11
Nguyễn Quang Hưng Luận văn tốt
nghiệp
Do sự đa dạng và phong phú của dữ liệu hệ thống, chỉ mốt sai sót
nhỏ cũng dẫn đến một khả năng là chương trình không nhận biết
được về nhận dạng tập tin và sẽ hiển thị thông tin sai về mặt nội
dung.
Đối với các vấn đề trên chúng ta có cách giải quyết như sau:
Xử lý trùng lặp về tên gọi của thông tin, xét về khía cạnh các ấn
phẩm như ở phần phân tích dữ liệu chúng ta biết rằng một tác
phẩm chỉ có một tác giả ngược lại một tác giả lại có nhiều tác
phẩm vậy thì với khoá tìm kiếm gồm hai thuộc tính là tác giả và
tác phẩm ta có thể xác định được chính xác một ấn phẩm như
mong muốn. Vậy thì việc cập nhật thông tin cho một ấn phẩm
nhất thiết phải đầy đủ hai thông tin là tên tác phẩm và tên tác giả.
Xử lý về việc thông tin nằm phân tán trên các thiết bị lưu trữ, một
giải pháp được đưa ra là sao lưu toàn bộ dữ liệu của chương trình
vào một nơi quy định mà độ an toàn thông tin cao hơn (như đĩa
CDROM hay băng từ) đề phòng trường hợp mất mát thông tin thì
chương trình sẽ tìm trên các thiết bị lưu trữ và khôi phục lại dữ
liệu đã bị mất. Việc này tỏ ra rất hữu ích tuy nhiên nó cũng có hạn
chế là nó sẽ chiếm nhiều tài nguyên của hệ thống.
Về sự đa dạng của thông tin cho nên phải có cơ chế kiểm tra
nghiêm ngặt các thông tin đầu vào. Thứ hai phải phân loại thông
tin theo các chủng loại sau:
Hình ảnh(picture)
Âm thanh (audio)
Văn bản (text)
Hình ảnh động (video)
Khi cập nhật các thông tin này ta có cơ chế lọc thông tin cho từng
chủng loại trên và cho phép người sử dụng có thể được xem
thông tin trước khi nó được đưa vào cơ sở dữ liệu để quản lý.
Điều này đảm bảo cho thông tin đầu vào luôn luôn đúng đắn về
mặt nội dung cũng như cho logic của hệ thống .
12
Nguyễn Quang Hưng Luận văn tốt
nghiệp
2.2.3 Chức năng tra cứu thông tin.
Đây là chức năng đáp ứng những yêu cầu về tra cứu thông tin của
người sử dụng. Do tính chất cũng như nhu cầu của bài toán chức
năng này phải đáp ứng những yêu cầu cụ thể sau:
Có thể tra cứu các tác phẩm của một tác giả
Có thể tra cứu các tác phẩm của một trong một giai đoạn (theo
năm xuất bản).
Liệt kê các tác phẩm của một nhà xuất bản đã từng ấn hành.
Có thể truy xuất nội dung của một tác phẩm theo từng loại hình
khác nhau có thể là một bức tranh, một đoạn truyện ngắn một bản
nhạc hay một bộ phim.
Tất cả những điều đó nằm trong chức năng tra cứu. Thao tac của
chức năng này là truy xuất các thông tin của một ấn phẩm trong
cơ sở dữ liệu sau đó thể hiện lên trên biểu mẫu.
Chương III
13
Nguyễn Quang Hưng Luận văn tốt
nghiệp
THIẾT KẾ CHƯƠNG TRÌNH TỪ ĐIỂN
SƠ ĐỒ THUẬT TOÁN CỦA CHƯƠNG TRÌNH
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét