Quan điểm của Keynes về lí thuyết tiền tệ và giá cả, ứng dụng của lí thuyết đó
tại Việt Nam
III. Đánh giá chung về quan điểm của Keynes.
IV. Sự vận dụng lí thuyết của Keynes trong nền kinh tế Việt Nam.
B: NỘI DUNG
I. VÀI NÉT VỀ JOHN MEYNAD KEYNES
J.M.Keynes sinh ngày 5/6/1883 tại Cambridge (Anh) trong một gia đình
cố văn hóa và được chăm sóc đầy đủ. Bố ông là John Neville Keynes, giảng
dạy tại một trường đai học ở Cambridge. Mẹ ông là Florence Ada, là một
trong những người đầu tiên tốt nghiệp trường Newham. Năm 1932, bà được
bầu làm thị trưởng Cambridge và nổi tiếng về chủ nghĩa nữ quyền. Có thể nói
bố mẹ của Keynes là những công dân tiến bộ đậm màu sắc vị tha.
J.M.Keynes là nhà kinh tế học người Anh, giáo sư trường đại học
Cambridge, một nhà hoạt động xã hội, một chuyên gia trong lĩnh vực tài
chính tiền tệ, thống đốc ngân hàng Anh, cố vấn kinh tế chính phủ Anh về
ngân khố quốc gia, chủ bút tạp chí nhà kinh tế.
Năm 1925, ông kết hôn với một nữ diễn viên chính Liu Boves Kaia của
đoàn múa bale nga, sinh được hai người con.
Tác phẩm nổi tiếng của J.m.Keynes "Lí thuyết chung về việc làm, tiền tệ
và giá cả" xuất bản năm 1936, Trong đó ông trình bày một số quan điểm cơ
bản đặc biệt phê phán các quan điểm của trường phái cổ điển, tân cổ điển và
một số vấn đề lý luận, chủ yếu là quan điểm thị trường tự điều chỉnh. Đồng
thời, ông đã nêu lên quan điểm về vấn đề khủng hoảng, thất nghiệp và vai trò
điều tiết của nhà nước.
Giáo viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Đăng Bằng
Sinh viên thực hiện: Lê Thị Hương 50b1 Kế toán DHVinh
5
Quan điểm của Keynes về lí thuyết tiền tệ và giá cả, ứng dụng của lí thuyết đó
tại Việt Nam
Ông được các học giả phương tây coi là người có tính sáng tạo, Là nhà
kinh tế có ảnh hưởng rất lớn đối với kinh tế học phương tây hiên đại và chính
sách kinh tế của các chính phủ.
II. QUAN ĐIỂM CỦA KEYNES VỀ LÍ THUYẾT TIỀN TỆ VÀ GIÁ CẢ
Vào những năm 30 của thế kỉ 20 khủng hoảng và thất nghiệp ở các nước
tư bản phương tây sảy ra thường xuyên và ngày càng nghiêm trọng, đặc biệt
là cuộc đại khủng hoảng 1929-1933 đã chứng tỏ lí thuyết của trường phái cổ
điển và tân cổ điển bị mất sức thuyết phục làm tan rã tư tưởng tự do kinh tế.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất mang tính xã hội cao đòi hỏi sự can
thiệp của nhà nước vào nền kinh tế, tình trạng độc quyền ra đời và bắt đầu
bành trướng thế lực
Sự thành công trong quản lí nhà nước Xô Viết tác động vào tư tưởng các
nhà kinh tế tư bản. Trong bối cảnh đó J.M.Keynes quan tâm đến khủng hoảng
kinh tế đã từng diễn ra nhất là ở Mỹ và Anh. Ông đã từ bỏ phương pháp tư
duy, diễn đạt truyền thống và học thuyêt của Keynes ra đời. Trường phái
Keynes đã có ảnh hưởng nhiều trong đời sống các nước tư bản chủ nghĩa
nhưng năm 1950-1960 nhất là chính sách của chính phủ.
Ông đã viết rất nhiều tác phẩm nổi tiếng, đặc biệt là tác phẩm "lí thuyết
chung về việc làm, tiền tệ và giá cả" xuất bản năm 1936. Giới kinh tế học
phương tây đánh giá quyển sách đã dẫn đến một cuộc cách mạng trong kinh tế
học. Nó thể hiện được đầy đủ tư tưởng đặc điểm học thuyết của Keynes.
Là hệ thống lí luận kinh tế vĩ mô lấy lí thuyết chung về tiền tệ việc làm,
giá cả làm chung tâm. Lấy nguyên lí cầu hữu hiệu làm nền tảng. Ông hoàn
toàn vứt bỏ định lí Say mà các nhà kinh tế học truyền thống vẫn tin theo
"cung tạo cầu".Nguyên lí cầu hữu hiệu khẳng định rằng lượng cung hàng hóa
do lượng cầu quyết định. Do đó vào những thời kì suy thoái kinh tế nếu tăng
lượng cầu đầu tư hàng hóa công cộng thì sản xuất và việc làm tăng theo. Về
Giáo viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Đăng Bằng
Sinh viên thực hiện: Lê Thị Hương 50b1 Kế toán DHVinh
6
Quan điểm của Keynes về lí thuyết tiền tệ và giá cả, ứng dụng của lí thuyết đó
tại Việt Nam
nội dung đề cao vai trò điều tiết vĩ mô của nhà nước, dựa trên phương pháp
phân tích vĩ mô hiện đại nghiên cứu các tổng lượng kinh tế như tổng cầu, tổng
cung, tổng đầu tư, tổng việc làm, tổng thu nhập…Trong nền kinh tế thị trường
phê phán tư tưởng tuyệt đối hóa thị trường tự do. Ông nêu ra hiện tượng gọi là
" bẫy thanh khoản ", qua đó coi chính sách tài khóa là biện pháp chủ yếu giải
quyết mọi vấn đề kinh tế.
Keynes cho rằng thị trường không hoàn hảo mà tình trạng khủng hoảng
thất nghiệp của nền kinh tế tư bản do những chính sách lỗi thời, bảo thủ thiếu
sự can thiệp của nhà nước. Chính vì vậy ông luôn nêu cao vai trò của nhà
nước để bình ổn kinh tế. Ngoài những chính sách đầu tư tăng việc làm cho
người lao động ông còn quan tâm nhiều hơn đến việc sử dụng những hệ thống
tài chính, tín dụng và lưu thông tiền tệ. Tác động tới nhiều thành phần khác
nhau trong đó có giá cả hàng hóa nhằm mục đích kích cầu có hiệu quả. Hay
nói cách khác là điều tiết vĩ mô nền kinh tế .
Thứ nhất về hệ thống tài chính: Ông chủ trương sử dụng các công cụ
thuế khóa. Theo ông cần phải tăng thuế đối với người lao động để điều tiết bớt
một phần tiết kiệm từ thu nhập của họ và giảm thuế đối với các nhà kinh
doanh, sản xuất. Từ chính sách đó có thể điều tiết sản xuất, khuyến khích tiêu
dùng cá nhân. Qua đó mở rộng các hình thức tạo việc làm để nâng cao thu
nhập, tăng sức mua, tăng cầu hiệu quả, phát triển thêm ngành nghề mới. Đồng
thời tăng chi tiêu chính phủ hay tăng đầu tư công cộng để kích cầu có hiệu
quả.
Thứ hai: về công cụ tiền tệ và lưu thông tiền tệ. Theo Keynes, cần tăng
thêm khối lượng lớn tiền tệ vào trong lĩnh vực lưu thông. Làm tăng cung tư
bản cho vay để giảm lãi suất. Khuyễn khích các nhà tư bản đầu tư vay vốn mở
rộng sản xuất, tăng thêm khối lượng việc làm.Ông chủ trương chủ động bơm
thêm tiền vào lưu thông thực hiện "Lạm phát có mức độ". Ông cho rằng đây là
Giáo viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Đăng Bằng
Sinh viên thực hiện: Lê Thị Hương 50b1 Kế toán DHVinh
7
Quan điểm của Keynes về lí thuyết tiền tệ và giá cả, ứng dụng của lí thuyết đó
tại Việt Nam
biện pháp hưu hiệu để kích thích thị trường mà không có nguy hiểm gì. Khi
nền kinh tế đạt tới mức cân bằng với sản lượng và việc làm cao thì lam phát
sẽ tự động dừng lại. Đồng thời với nó là khuyến khích đẩy nhanh chu kì chu
chuyển của tiền tệ trong quá trình sản xuất cũng như là lưu thông. Và thực
hiện thanh toán không dùng tiền mặt, qua các công cụ tài chính và phát hành
công trái nhằm hạn chế số lượng tiền mặt đi vào lưu thông trên thị trường mà
tập trung, dồn nén nó lại trong lĩnh vực sản xuất tạo giá trị thặng dư hay lợi
nhuận lớn cho các nhà doanh nghiệp, hay cụ thể hơn là khuyến khích sản xuất
phát triển mạnh.
=> Từ những điều trên Keynes cho rằng nhà nước cần dùng hệ thống tài
chính, tín dụng, tiền tệ để kích thích lòng tin, tính lạc quan và tích cực đầu tư
của doanh nhân.
Thứ ba: Về giá cả, tiền công. Một sự khác biệt rõ rệt nhất và cũng là
quan điểm sai lệch nhất của Keynes so với các trường phái cổ điển và tân cổ
điển đó là ông coi giá cả và tiền công (hay còn gọi là giá cả của sức lao động)
luôn luôn ổn định hay cứng nhắc. Để làm rõ điều đó ta đi đến ba lập luận sau.
Một: đấy là vấn đề hợp đồng lao động. Các nhà sản xuất hay chủ doanh
nghiệp để giữ được lao động làm việc cho mình giữa họ đã hình thành những
bản hợp đồng lao động dài hạn. Chính vì thế mà lương theo hợp đồng lao
động không thể điều chỉnh đột ngột. Trong trường hợp có thay đổi hợp đồng
vì không thể tất cả doanh nghiệp, các ngành sản xuất trong nền kinh tế cùng
đồng loạt thay đổi hợp đồng vào cung một thời điểm. Nên chỉ có một bộ phận
lao động được thay đổi tiền công. Nhưng nhìn chung, xét tổng quan trên toàn
nền kinh tế thì tiền công là không đổi. Hai là về tiền công hiệu xuất. Tức là để
khuyến khích sự nhiệt tình lao động và giữ lại những lao động lành nghề
trong thời điểm thất nghiệp phát sinh các nhà doanh nghiệp vẫn có thể không
cắt giảm tiền. Nhưng khi tiền công không bị cắt giảm khối lượng tiền mặt
Giáo viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Đăng Bằng
Sinh viên thực hiện: Lê Thị Hương 50b1 Kế toán DHVinh
8
Quan điểm của Keynes về lí thuyết tiền tệ và giá cả, ứng dụng của lí thuyết đó
tại Việt Nam
tham gia thị trường không bị hạn chế mà ngược lai ngày càng gia tăng làm
cho nền kinh tế rơi vào bế tắc khủng hoảng thì lẽ dĩ nhiên thất nghiệp vẫn
không thể được giải quyết, thị trường lao động vẫn mất cân bằng. Ba là về giá
cả hàng hóa. Khi mà thị trường có sự cạnh tranh không hoàn hảo hay sảy ra
tình trạng độc quyền thị trường thì cho dù thị trường có biến động đi chăng
nữa thì các doanh nghiệp độc quyền đó chưa chắc hay nói đúng hơn là không
muốn thay đổi giá bán của mình. Bởi các doanh nghiệp lo sợ khi giá bán thay
đổi doanh nghiệp xẽ thu được khoản lợi nhuận ít đi, hoặc không thu được lợi
nhuận gì và thậm chí có thể sẽ thua lỗ do doanh thu không bù lại những chi
phí đã bỏ ra dể sản xuất ra hàng hóa đó.
III. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ QUAN ĐIỂM CỦA KEYNES
1. ĐÓNG GÓP
Về mặt lí luận: Keynes đã có công trong việc điều chỉnh kinh tế học
truyền thống, xây dựng hệ thống lí luận mới. Dùng các chính sách tiền tệ nói
riêng và vai trò can thiệp của nhà nước nói chung tác động bình ổn nền kinh
tế. Thay thế hoàn toàn tư tưởng tự do kinh doanh của các trường phái kinh tế
trước đó.
Về mặt chính sách: Keynes đã phủ định hoàn toàn tư tưởng kinh tế của
các nhà cổ điển cho rằng tiền tệ chỉ là để làm vật trung gian, thước đo của giả
trị của các hàng hóa mà không có tác động gì thêm. Ngược lại thông qua nhà
nước Keynes coi các chính sách tài chính, tiền tệ là biện pháp chủ yếu giải
quyết các vấn đề quan trọng của nền kinh tế và chủ trương áp dụng chính sách
số hụt tài chính mở rộng.
2. HẠN CHẾ
Trong một thời gian dài lí thuyết Keynes được vận dụng rộng rãi tuy
nhiên nó cũng thể hiện một số hạn chế:
Giáo viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Đăng Bằng
Sinh viên thực hiện: Lê Thị Hương 50b1 Kế toán DHVinh
9
Quan điểm của Keynes về lí thuyết tiền tệ và giá cả, ứng dụng của lí thuyết đó
tại Việt Nam
- Mục đích của lí thuyết Keynes là chống khủng hoảng và thất nghiệp
song thực tế trong những năm thực hiện lí thuyết này thì cứ bốn năm lại có
một lần chấn động kinh tế.
- Nạn thất nghiệp không những không được khắc phục mà còn có xu
hướng gia tăng. Tư tưởng "lạm phát có điều tiết" của Keynes góp phần làm
tăng sự trầm trọng của lạm phát, một căn bệnh nan giải của nền kinh tế hiện
đại.
- Công cụ lãi xuất, tiền tệ điều tiết đầu tư không có hiệu quả và nhiều khi
còn tác động ngược lại.
- Nắm nhu cầu xã hội đòi hỏi sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế,
Keynes đưa ra lí thuyết chủ nghĩa tư bản được điều tiết. Song khi đánh giá
cao vai trò của nhà nước ông lại bỏ qua vai trò của tư tưởng tự do của bàn tay
vô hình, của cân bằng tổng quát.
- Lí luận "Tăng cầu hiệu quả" của keynes còn phiến diện. Song nguy hại
hơn là kích thích lối sống hưởng thụ và đặc biệt hơn là kích chiến tranh, quân
sự hóa nền kinh tế. Điều này lại càng thúc đẩy mạnh bởi Keynes quá đề cao
vai trò của nhà nước trong việc can thiệp vào đời sống kinh tế.
=> Điều đó làm gia tăng xu hướng xu hướng phê phán lí thuyết của ông.
3. NGUYÊN NHÂN ĐƯA ĐẾN NHỮNG HẠN CHẾ CỦA KEYNES
Ngay từ đầu trong cách tiếp cận vấn đề của Keynes, ông đã xuất phát và
đi thẳng vào quan điểm giá cả, tiền lương ổn định, cứng nhắc, không có sự
biến động. Theo quan điểm của Keynes, các chính sách tiền tệ và tài khóa có
thể thay thế cho giá cả tiền lương linh hoạt, kích thích nền kinh tế trong thời
kì suy thoái, làm giảm tổng cầu trong thời gian khủng hoảng kinh tế, nhằm
ngăn chặn các xu hướng lạm phát. Những người thuộc trường phái Keynes tin
tưởng rằng: chính phủ có thể tác động đến hoạt động kinh tế thực sự, bằng
cách thi hành các chính sách tiền tệ hay tài khóa nhằm thay đổi tổng cầu trong
Giáo viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Đăng Bằng
Sinh viên thực hiện: Lê Thị Hương 50b1 Kế toán DHVinh
10
Quan điểm của Keynes về lí thuyết tiền tệ và giá cả, ứng dụng của lí thuyết đó
tại Việt Nam
hoạt động kinh tế bị đình trệ. Hoăc kìm chế chi tiêu trong thời kì lạm phát.
Khi chi tiêu chính phủ tăng, giảm thuế hay tăng cung tiền, tất cả đều tạo sẩn
phẩm hơn và vì vậy khuyến khích đầu tư.
Trong khi thực tế lại hoàn toàn ngược lại. Thị trường không đứng yên, nó
không ngừng biến động giữa hai đại lượng cung và cầu hàng hóa. Khi cung
không đổi mà cầu lại tăng thì lẽ đương nhiên giá hàng hóa sẽ phải tăng hay
khi cung tăng cầu không đổi, giá hàng hóa sẽ giảm xuống. Các sự tác động ấy
sẽ kéo cung- cầu về vị trí cân bằng, ổn định nền kinh tế. Về vấn đề tiền lương,
khi cung hàng hóa tăng các nhà sản xuất cần một lượng lớn sức lao động, lúc
này tiền lương sẽ tăng. Ngược lại, khi cung hàng hóa giảm làm giảm cầu về
nguồn lao động dẫn tới tiền lương giảm. Nhưng đấy là sự điều tiết khách quan
của thị trường mà Keynes đã không nhìn ra khi quá kì vọng vào bàn tay nhà
nước.
IV. SỰ VẬN DỤNG LÍ THUYẾT CỦA KEYNES TRONG NỀN KINH
TẾ VIỆT NAM
1. TÌNH HÌNH KINH TẾ NƯỚC TA NHỮNG NĂM QUA
Một đặc điểm quan trọng của Việt Nam là chúng ta chuyển sang kinh tế
thị trường từ một nền kinh tế hậu chiến, tuân theo mệnh lệnh và kế hoạch hóa.
Chính vì thế khi chuyển đổi Việt Nam thiếu rất nhiều kinh nghiệm trong điều
hành kinh tế vĩ mô thông qua các chính sách kích thích động cơ của các chủ
thể kinh tế. Theo thời gian, tính thị trường của nền kinh tế ngày càng phát
triển, thì vai trò nhận thức nền kinh tế càng trở nên cấp thiết, Xét trên lĩnh vực
chính sách kinh tế, mặc dù không có sự đồng thuận rõ ràng nào về một trường
phái kinh tế theo đúng nghĩa đen của cụm từ này nằm sau các chính sách của
Việt Nam sau 20 năm qua, nhưng dường như đã có một dạng thô sơ của chủ
nghĩa Keynes trong các chính sách kinh tế của Việt Nam trong đó có các lí
thuyết về tiền tệ và giá cả.
Giáo viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Đăng Bằng
Sinh viên thực hiện: Lê Thị Hương 50b1 Kế toán DHVinh
11
Quan điểm của Keynes về lí thuyết tiền tệ và giá cả, ứng dụng của lí thuyết đó
tại Việt Nam
Có hai lí do thực tế để đất nước ta theo chủ nghĩa Keynes đấy là. Thứ
nhất: Những nhà chính sách có ảnh hưởng lớn nhất trong giai đoạn đầu đều là
những người được đào tạo trong thời kế hoạch hóa, do đó họ tìm thấy ở kinh
tế học trường phái Keynes một chỗ dựa khá thân quen và dễ chịu cho những
gợi ý chính sách của mình. Thứ hai nền kinh tế Việt Nam được đặc trưng bởi
vai trò chi phối của nhà nước ngay từ những ngày đầu chuyển đổi( Và cho
đến tận bây giờ), đã trở thành "một mảnh đất màu mỡ" cho các loại chính sách
can thiệp, xuất hiện và tồn tại vững chắc. Hai nhân tố trên tự hỗ trợ và tự tái
tạo lẫn nhau.
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây nhà nước ta quy định
giá cả thu mua nông sản của nông dân, giá cả đối với tất cả các loại hàng hóa,
vật tư nguyên liệu, nhiên liệu là đầu vào của sản xuất nên giá cả của hàng hóa
luôn luôn cứng nhắc không biến đổi, và quản lí, phân phối các loại hàng hóa
này thông qua một hệ thống các cơ quan cung ứng vật tư của nhà nước. Giá
cả hàng hóa nói chung đều do nhà nước quy định và phân phối bằng tem
phiếu và thông qua hệ thống mậu dịch quốc doanh và hợp tác xã mua bán gọi
là thị trường có tổ chức. Cơ chế giá cả đó đã làm cho nền kinh tế mang tính
hiện vật, hạn chế tác dụng của các quy luật kinh tế thị trường và làm giảm
hiệu quả kinh tê, dẫn tới tất yếu nền kinh tế giai đoạn này trì trệ, kém phát
triển. Chính vì vậy nhà nước thi hành chính sách một giá kinh doanh, cuộc cải
cách giá cả được thực hiện căn bản trong những năm 1987-1990: cụ thể là:
+ Xóa bỏ cơ chế định giá nông sản bán theo nghĩa vụ đối với nông dân.
Nông dân sau khi hình thành nghĩa vụ về thuế, có quyền tự do bán sản phẩm
trên thị trường. Năm 1987-1988, nhà nước dùng vật tư đổi lấy nông sản hoặc
mua bằng tiền mặt theo khung giá do Trung ương chỉ đạo (giá mua nông sản
đã được tăng lên). Đến năm 1988 nhà nước quy định khung giá cho toàn bộ
cơ chế và giá mua bán nông sản đã do thị trường quyết định.
Giáo viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Đăng Bằng
Sinh viên thực hiện: Lê Thị Hương 50b1 Kế toán DHVinh
12
Quan điểm của Keynes về lí thuyết tiền tệ và giá cả, ứng dụng của lí thuyết đó
tại Việt Nam
+ Điều chỉnh giá bán lẻ hàng tiêu dùng và dịch vụ những năm 1986-
1988 được thực hiện theo chính sách hai giá: giá cung cấp những mặt hàng
tiêu dùng thiết yếu theo quy định của nhà nước. Có phân biệt nhóm các hàng
tiêu dùng quan trọng theo khung giá chỉ đạo của nhà nước (vẫn tồn tại tình
trạng giá hàng hóa là cứng nhắc). Sự định giá linh hoạt ở chỗ giá điều chỉnh
phù hợp với từng vùng miền.
+ Giá vật tư cung ứng của nhà nước được điều chỉnh tăng dần theo sự
điều chỉnh giá mua nông sản và giá vật tư nhập khẩu. Thực hiện chính sách
hai giá dối với một số vật tư xây dựng nhưng tới năm 1990 đã đưa về một giá
chung.
=> Quá trình cải cách giá cả góp phần thúc đẩy phân phối và sử dụng các
nguồn lực có hiệu quả hơn. Song nó cũng thúc đẩy mức giá chung tăng đột
biến, Siêu lạm phát kéo dài những năm 1986-1988.
Thời gian gần đây nhà nước ta đang thúc đẩy quá trình lưu thông tiền tệ
trên thị trường bằng hàng loạt các chính sách khuyến khích người dân sử
dụng hệ thống thanh toán tín dụng bằng thẻ tín dụng, gửi tiết kiệm, để hạn
chế khối lượng tiền mặt trên thị trường. Ngoài ra cũng nhằm mục đích tích tụ
khối lượng lớn tiền trong hệ thống các ngân hàng cho các nhà sản suất vay
vốn đầu tư thúc đẩy sản xuất.
Mặt khác điều mà bất cứ ai tam gia vào vòng xoáy của đồng tiền đều
nhạn ra vai trò của hệ thống ngân hàng có tầm rất quan trọng trong nền kinh
tế. Dể làm rõ ván đề sau đây ta đi tim hiểu tình hình họat động của các ngân
hàng nước ta những năm qua:
- Về chính sách tài chính tiền tệ
Về thu ngân sách, trước đây ngân sách nhà nước chủ yếu dựa vào thu
quốc doanh, từ cuối năm 1987 nhà nước ta bắt đầu sửa đổi một số loại thuế
(tăng thuế): thuế môm bài , thuế doanh thu, thuế lợi tức, thuế hang hóa …Dần
Giáo viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Đăng Bằng
Sinh viên thực hiện: Lê Thị Hương 50b1 Kế toán DHVinh
13
Quan điểm của Keynes về lí thuyết tiền tệ và giá cả, ứng dụng của lí thuyết đó
tại Việt Nam
dần những nguồn thu từ thuế này đã làm cho ngân sách nhà nước tăng vọt.
Ngoài ra nhà nước ta còn ban hành và sửa đổi, bổ xung thêm nhiều luật thuế
mới như: thuế xuất nhập khẩu, luật thuế doanh thu, luật thuế tiêu thụ đặc biệt
luật thuế sử dụng đất nông nghiệp -> nguồn thu từ thuế dần thay đổi cho
nguồn thu quốc doanh.
Về sử lí thâm hụt ngân sách, trong những năm 1981-1985 ngoài nguồn
viện trợ và vay vốn từ nước ngoài (chiếm 65%) ngoài ra nhà nước ta còn chủ
trương in và phát hành thêm tiền (chiếm 30%). Đến giai đoạn 1986-1990
thâm hụt ngân sách vẫn rất lớn vì chính sách "bù giá vào lương", nhưng do
nguồn viện trợ và vay nợ nước ngoài giảm xuống nên nhà nước lại càng tăng
cường việc in và phát hành thêm tiền làm cho khối lượng tiền mặt đi vào lưu
thông tăng đột biến lên tới mức 61%. Chính sách đó đã dẫn tới tình trạng lạm
phát nghiêm trọng, trong thời kì đó lạm phát đã lên tới mức 3 con số (890%).
-Về hệ thống ngân hàng và lưu thông tiền tệ:
Ngân hàng nhà nước để thực hiện cung ứng tiền tệ và cân đối cung cầu
tiền tệ đã vận dụng và từng bước hoàn thiện hàng loạt các công cụ như: Dự
trữ bắt buộc, tái chiết khấu, hoạt động thị trường mở, lãi suất, hạn mức tín
dụng …Nhờ vào hoạt động của ngân hàng mà nước ta đã chặn đứng được cuộ
siêu lạm phát ba con số thời kì 1987-1989 và cuộc khủng hoảng tiền tệ năm
1997 diễn ra ở châu á.
Sau đây ta đi phân tích và xem xét hiện trạng của việc sử dụng các công
cụ của chính sách tiền tệ ở nước ta trong những năm qua trong hệ thống các
ngân hàng:
Thứ nhất về chính sách tài chính tín dụng:
Ngân hàng nhà nước đã quy định "Ngân hàng nhà nước quy định tỷ lệ dự
trữ bắt buộc ít nhất ở mức 10% và nhiều nhất ở mức 35% trên toàn bộ tiền gửi
ở các tổ chức tín dụng. Trong thời gian đầu, tuy pháp lệnh ngân hàng đã quy
Giáo viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Đăng Bằng
Sinh viên thực hiện: Lê Thị Hương 50b1 Kế toán DHVinh
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét