của MIT đã thử kết nối máy tính TX-2 từ Massachusette tới máy tính Q-32 ở California
bằng đường điện thoại quay số tốc độ chậm. Có thể coi đây là mạng máy tính đầu tiên với
khả năng chạy chương trình và truy cập dữ liệu từ máy trạm.
Xuất phát từ yếu cầu đó, vào những năm đầu của thập kỷ 60, một trong những tiền đề
của việc hình thành Internet là thành lập các dự án nghiên cứu cấp cao ARPA (Advanced
Research Projects Agency) thuộc Bộ quốc phòng Mỹ để phục vụ trong môi trường quốc
phòng. Năm 1965, ARPA thực hiện xây dựng “Mạng công tác chia theo thời gian” Cuối năm
1966, Robert cùng ARPA (Advanced Research Project Agency) đã phát triển khái niệm mạng
máy tính ứng dụng phương pháp chuyển mạch gói và thiết lập dự án mạng ARPANET. Hệ
thống mạng được xây dựng năm 1969, nối 4 đầu mút: Đại học California tại Los Angeles, SRI
tại Stanford, Đại học California tại Santa Barbara, Đại học Utah. Và đến năm 1969 ARPA đã
tiến hành xây dựng dự án ARPANET, đây là dự án liên kết tất cả các máy tính từ các tổ
chức nghiên cứu đến các bộ phận nghiên cứu của Chính phủ đã được bảo vệ tại thời gian đó.
Hệ thống này đã được thành lập bởi sự kết nối những máy tính thông qua hệ thống dây cáp
và đường line điện thoại. Bất cứ người nào trên hệ thống cũng có thể tiếp cận và đi vào xem
thông tin từ bất cứ máy tính nào trên hệ thống này hay hệ thống khác.
Chương trình e-mail đầu tiên được Ray Tomlinson của BBN viết vào năm 1972
cho phép người sử dụng gõ địa chỉ máy tính đích và gửi thông điệp thông qua các máy
trạm nối mạng.
Năm 1973, giao thức mạng TCP/IP được DARPA phát triển cho phép máy tính của
các mạng khác biệt có thể kết nối và giao tiếp được với nhau. Đây là năm mà IBM thiết kế
thành công hệ thống thanh toán và kiểm kê siêu thị. Đồng thời, khách hàng của các ngân
hàng rút tiền, chuyển tiền và thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng khác thông qua thiết bị giao
dịch IBM 3614, hình ảnh của các máy rút tiền tự động ATM ngày nay.
Năm 1975 IBM tung ra một loạt máy tính PC IBM 5100, và sau đó là 5110, 5120,
Data master, 5150 PC. Ngày 12/8/1981, IBM giới thiệu máy tính cá nhân IBM PC sử dụng
hệ điều hành 16-bit Microsoft MS-DOS v.1.0, cùng với Microsoft BASIC, Microsoft
COBOL, Microsoft Pascal, và các trình ứng dụng khác của Microsoft. Máy tính vẫn tiếp tục
thu nhỏ kích thước và tăng tốc độ, từ máy để bàn (desktop) tới máy xách tay (laptop) rồi
máy bỏ túi (palmtop).
ARPANET thành công tuyệt vời với nghề nối liên kết mạng khoa học kỹ thuật và
Viện hàn lâm Hoa Kỳ- chính nó đã tạo nên mạng lưới INTERNET ngày nay. Nhìn chung
trên thế giới ngày nay gần như toàn bộ các nước trên thế giới đã nối kết INTERNET để phục
vụ tốt hơn cho lợi ích quốc gia và mở rộng liên hệ quốc tế.
Với chính sách hội nhập quốc tê, ngày 19/11/1997 Việt Nam đã chính thức triển khai
và thực hiện kết nối với mạng Internet, việc kết nối này thật sự đã trở thành sự kiện quan
5
trong đối với đất nước, đáp ứng nhu cầu trực tiếp của phần lớn ban ngành chức năng, Ngày
01/12/1997 Việt Nam chính thức đưa Internet vào hoạt động một cách rộng rãi và cho
đến hiện nay, Internet không còn là môi trường xa lạ đối với người dân Việt Nam, và
hiệu quả của Internet là điều không thể phủ nhận trong thành quả chung của sự đổi mới
đất nước.
Hệ thống tổ chức Internet
Tổ chức Internet (Internet society- gọi tắt là ISOC) có trách nhiệm hoàn toàn về
Internet. Ý tưởng cơ bản của tổ chức này là khuyến khích sự trao đổi thông tin toàn cầu
thông qua Internet. Tổ chức Internet là một uỷ ban với những thành viên tự nguyện- chính
những thành viên này là người quyết định hướng tiến lên phía trước của Internet, chính họ là
người quản lí kỹ thuật, đưa ra quyết định về các chức năng thích hợp của Internet. Uỷ ban
này được gọi là ban kỹ sư kỹ thuật Internet. IAB có nhiệm vụ quản lý các đường lối tiêu
chuẩn này. IAB ra quyết định khi thấy đường lối tiêu chuẩn là cấp thết và quyết định ban
tiêu chuẩn nên làm gì.
Mốt số ứng dụng phổ biến của Internet
Email (thư điện tử) đây là ứng dụng khá phổ biến của mạng Internet dùng để gửi
hoặc nhân email từ bất cứ một nơi nào với điều kiện người nhận và người gửi phải có một
địa chỉ email giống như việc đăng ký một hộp thư ngoài bưu điện. Ưu điểm của email là
người dùng có thể gửi thư một cách nhanh chóng và tiết kiệm đến bất kỳ một hộp thư nào đã
được đăng ký ở bất cư nơi đâu trên thế giới với thời gian ngắn.
Trang Web toàn cầu, (World Wide Web), các trang web toàn cầu được biết đến một
cách phổ biến bằng thuật ngữ WWW hoặc là Web, Web được bao gồm bởi một loạt sự tập
hợp của những trang dữ liệu chứa trong tất cả các máy tính trên thế giới
Newsgroups (Tin tức nhóm), Newsgroups của Internet cho phép người sử dụng san
sẻ ý tưởng và truyền đạt thông tin với những người đồng ý nghĩ, nó cũng còn gọi là nhóm
Usenet, có đến hàng ngàn Newgroups và hàng triệu người sử dụng nhằm chia sẻ thông tin và
ý tưởng của mình.
Mailing list (danh sách thư) mailing lits là danh sách thư của một nhóm với số lượng
lớn những người tham gia, và khi gửi một thư đến mailing list thì nó tự động gửi cho tất
cả mọi người trong danh sách thư đã có sẵn và sự trả lời thư cũng diễn ra tương tự như
vậy.
Ire ( Internet Relay Chat), chát giúp cho con người truyền đạt thông tin qua Internet
bằng cách gõ mẫu tin từ bàn phím máy tính. Để có ứng dụng này thì máy tính phải kết nối
với mạng phục vụ IRC. Lúc đó người sử dụng có thể tham gia chat với hàng trăm chủ đề
khác nhau hoặc thậm chí tạo chủ đề riêng cho chính mình. Hiện nay một số mạng như
6
www.yahoo.com đã cung cấp cho người sử dụng tiện ích chát thông dụng với số lượng
người dùng lớn nhất, ngoài ra còn một số trang web có thể giúp người sử dụng giữ được bí
mật về thông tin cá nhân, nội dung trao đổi…
FPT (File Protocol- Nghi thức chuyển giao tập tin), FPT là một hệ thống chính yếu
để chuyển tải file giữa các máy tính vào Internet. File được chuyển tải có dung lượng rất lớn.
FPT hầu hết được sử dụng cho việc chuyển tải những dữ liệu mạng máy tính cá nhân.
Telnet (Telephone Internet), Telnet là chương trình của máy tính nối liên kết chương
trình nguồn với một máy tính khác ở xa. Trong trường hợp này bạn phải có tên người sử
dụng (username) và một mật mã (password) cũng như tên của máy đó, bạn cũng phải cần
biết mở hệ thống máy sử dụng- hệ thống tổng quát ở đây là UNIT.
Wais (Wide area information service- độ rộng lớn của vùng thông tin phục vụ).
WAIS được xuất ản với bộ sưu tập dữ liệu to lớn. Khi mạng phục vụ kết nối với mạng
WAIS, lúc đó phải chạy một truy vấn ( tức là đặt câu hỏi) và sau đó nhận được hàng loạt các
danh sách liên quan đến các dữ liệu cần quan tâm. Ví dụ như trang Web tìm kiếm như
www.google.com, www.yahoo.com
BBS (Bulletin Board System), đây là trung tâm tin nhắn điện tử, nó cho người dùng
quay số điện thoại trong máy vi tính bởi một máy Modem, đồng thời nó hiển thị nội dung tin
nhắn bên góc trái của màn hình bởi các công cụ khác và gửi tin nhắn đi. BBS cho phép
người sử dụng đọc và viết tin nhắn đa dạng và phong phú cho cuộc hội thảo, cho sự chuyển
tải file về và chơi Game.
1.1.2 Khái niệm tội phạm mạng
Hacker: là người thích được tìm hiểu các hệ thống được lập trình và luôn luôn muốn
chứng tỏ khả năng của mình.
Cracker: là người chủ tâm đánh cắp thông tin mật bằng cách đột nhập vào hệ thống
máy tính. Hành vi bẻ khóa là hành động áp dụng một số thủ đoạn tinh vi nhằm phát hiện
những lổ hổng trong hệ thống bảo mật máy tính.
Samural: là hacker được tuyển dụng để nghiên cứu các kỹ thuật bẻ khóa phục vụ cho
mục đích chính trị, pháp luật, bảo vệ đời tư và luật hay các tổ chức bảo mật hợp pháp.
Script klddles: là dân bẻ khóa mới đang sơ đẳng, họ chỉ dùng những công cụ bẻ khóa
do người khác tạo ra để xâm nhập vào các hệ thống chứ hoàn toàn chưa biết gì, hoặc biết rất
ít về kỹ thuật bẻ khóa.
Snecker: người được thuê làm công việc trắc nghiệm mức độ bảo mật của hệ thống
đã đươc bảo mật.
7
Ở Việt Nam, để chứng minh đối tượng này có phải là tội phạm hay không phải dựa
vào hành vi và mục đích của chúng. Nếu chúng có hành vi lợi dụng Internet để xâm nhập
các khách thể được luật hình sự bảo vệ thì mới được xem là tội phạm mạng.
Cùng với sự phát triển như vũ bão những thành tựu trong môi trường mạng Internet,
máy tính đã, đang, sẽ và ngày càng đi sâu vào mọi hoạt động của đời sống xã hội. Và có lẽ
như đó là một tất yếu khách quan, bên cạnh những thành tựu đem lại cho con người, việc
ứng dụng rộng rãi của máy tính trong mọi môi trường hoạt động của đời sống xã hội sẽ dễ bị
con người lợi dụng vào các hoạt động phạm pháp, bọn tội phạm sử dụng máy tính ngoài vai
trò là công cụ, phương tiện phạm tội mà còn trực tiếp tác động đến máy tính, hệ thống máy
tính như là đối tượng tác động của tội phạm.
Tội phạm trong môi trường mạng máy tính, tội phạm xác định hành vi bị coi là tội
phạm có liên quan đến mạng máy tính. Ở Việt Nam, loại tội phạm này được biết đến với
nhiều tên gọi khác nhau: tội phạm tin học, tội phạm về máy tính, mạng máy tính Việc phát
hiện, điều tra, định tội cũng như áp dụng các thủ tục tố tụng khác đối với loại tội phạm này
hiện nay vẫn là một vấn đề phức tạp, khó khăn, còn nhiều vấn đề tranh cãi trong giới chuyên
môn và các cơ quan hành pháp.
Ở mỗi quốc gia có một cách nhìn nhận rất khác nhau tùy theo cách tiếp cận riêng của
mình. Theo các nhà tội phạm học thì tội phạm trong môi trường mạng máy tính được hiểu là
các hành vi tác động trực tiếp hoặc gián tiếp vào sự hoạt động của máy tính, mạng máy tính,
các thiết bị ngoại vi, các cơ sở dữ liệu, các quá trình điều khiển dựa trên sự hoạt động của
các thiết bị tin học nhằm mục đích phá hoại, lừa đảo, che dấu, đánh cắp thông tin. Tiếp cận
tội phạm tin học trong môi trường mạng máy tính có thể là rất rộng hoặc rất hẹp. Theo phạm
vi rộng thì tội phạm trong môi trường mạng máy tính cần dựa trên vai trò của máy tính trong
việc thực hiện hiện hành vi phạm tội, theo quan điểm này thì tội phạm trong môi mạng bao
gồm những tội phạm có liên quan của máy tính với các hành vi phạm tội, máy tính là mục
đích của tội phạm, máy tính là công cụ phạm tội, máy tính là vật trung gian để cất dấu, lưu
trữ những thứ đã chiếm đoạt được. Một trong những định nghĩa rộng nhất về tội phạm trong
môi trường mạng máy tính được Bộ tư pháp Hoa Kỳ đưa ra là: tội phạm trong môi trường
mạng máy tính là bất cứ hành vi vi phạm pháp luật hình sự nào có liên quan đến việc sử
dụng các hiểu biết về công nghệ máy tính trong việc phạm tội, điều tra hoặc xét xử, theo
định nghĩa này thì bất cứ tội phạm nào cũng được coi là tội phạm mạng máy tính, vì chỉ
trong quá trình điều tra, các điều tra viên sử dụng máy tính để tìm kiếm thông tin cũng được
coi là hành vi phạm tội trong môi trường này.
Theo phạm vi hẹp, tội phạm trong môi trường mạng máy tính chỉ là tội phạm được
thực hiện và gây hậu quả trên môi trường mạng, trên thế giới ảo do thành tựu của khoa học
mạng máy tính đem lại.
8
Ở Việt Nam, trước khi ban hành bộ luật hình sự năm 1999, các hành vi liên quan đến
sử dụng máy tính và các tính năng khác của nó gây rối loạn các hoạt động, phong tỏa hoặc
làm biến dạng, làm hủy hoại các dữ liệu hoặc đưa vào mạng máy tính những thông tin trái
với quy định cuả pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng chưa coi là hành vi phạm tội. Tuy
nhiên, cùng với sự phát triển như vũ bão trong môi trường mạng máy tính, tội phạm cũng
theo đó ngày càng gia tăng và gây tác hại ngày càng nghiêm trọng. Trước những tác haị to
lớn cho xã hội mà bọn tội phạm mạng đã gây ra, để pháp luật hình sự có thể theo kịp bước
tiến của khoa học kỹ thuật, Nhà nước ta đã hình sự hóa một số quan hệ liên quan đến môi
trường mạng máy tính trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999, Bộ luật hình sự năm 1985
chưa hề có khái niệm này. Bộ luật hình sự 1999 quy định cụ thể ba tội danh liên quan đến tội
phạm mạng máy tính. Điều 224 (tội tạo ra và lan truyền, phát tán các chương trình virus tin
học) Điều 225 (tội vi phạm các quy định về vận hành, khai thác và sử dụng mạng máy tính
điện tử) Điều 226 (tội sử dụng trái phép thông tin trên mạng và trong máy tính) thuộc nhóm
các tội xâm phạm trật tự công công, an toàn công cộng.
Tuy nhiên, trên thế giới hiện nay xuất hiện thêm nhiều hành vi được coi là tội phạm
trong môi trường mạng máy tính khác được tiếp cận và hiểu theo nghĩa hẹp, ví dụ: tội vào
cửa bằng mật khẩu trộm cắp; tội sao chép bất hợp pháp các chương trình phần mềm, tội đe
dọa tấn công vào hệ thống máy tính. Theo phương pháp này thì ưu điểm là định rõ được tội
danh cần xử lý nhưng nhược điểm là cũng dễ bỏ lọt tội phạm. Ví dụ điển hình như trên thế
giới hiện nay vẫn tranh cãi về việc có coi hành vi trộm cắp, lừa đảo tài sản mà người chơi có
được khi tham gia trò chơi trực tuyến là tội phạm hay không? Nếu nhìn dưới góc độ tài sản
được quy định trong pháp luật hiện hành thì đó là tài sản ảo ( nó chỉ là những thứ tài sản
được tạo ra trong thế giới ảo, do những người xây dựng nên trò chơi trực tuyến nghĩ ra).
Nhưng xét dưới một góc độ khác thì đây là tài sản do người chơi bỏ nhiều công sức, tiền của
để tạo lập được, cùng với tính chất có thể “chiếm hữu, sử dụng và định đoạt”. Đặc biệt
những tài sản này có thể quy đổi hoặc xác định được bằng giá trị thực, có thể mua bán. Vì
vậy chúng được coi là tài sản thật và cần được pháp luật bảo vệ trước hành vi lừa đảo,chiếm
đoạt, trộm cắp tài sản giống như đối với những tài sản hữu hình khác.
Mỗi quan điểm về tội phạm trong môi trường mạng máy tính đều có những hạn chế,
thiếu sót nhất định, đến nay vẫn chưa có khái niệm về tội phạm mạng máy tính đầy đủ.
Trong khuân khổ cuộc họp lần thứ X của đại hội đồng Liên Hiệp Quốc về ngăn chặn và xử
lý tội phạm được tổ chức tại thành phố Viên (Áo) từ ngày 10/10/2000 đến 17/10/2000, một
cuộc hội thảo đã được tổ chức để bàn về tội phạm trong môi trường mạng máy tính, và bàn
về vấn đề định nghĩa đã đưa ra hai khái niệm:
9
Theo nghĩa hẹp, tội phạm trong môi trường mạng máy tính là các hành vi phạm tội
sử dụng máy tính và mạng máy tính với mục đích xâm phạm đến an toàn của hệ thống máy
tính và quy trình lưu trữ dữ liệu của hệ thống đó.
Theo nghĩa rộng, tội phạm trong môi trường mạng máy tính là hành vi sử dụng máy
tính hoặc các phương pháp khác có liên quan đến máy tính, mạng máy tính, bao gồm các
loại tội phạm như: chiếm giữ bất hợp pháp và đe dọa hoặc làm sai lệch thông tin bằng
phương pháp sử dụng mạng máy tính, loại tội phạm theo định nghĩa này rất rộng, bao gồm
nhiều hành vi của tội phạm truyền thống được thực hiện với sự trợ giúp của công cụ máy
tính mà phổ biến hiện nay như các hành vi lừa đảo, trốn lậu cước viễn thông, mạo danh…[6]
Như vậy, định nghĩa về tội phạm trong môi trường mạng máy tính như trên tuy chưa
phải là định nghĩa hoàn chỉnh, tuy còn mang tính chất chung chung và sơ sài nhưng ý nghĩa
quan trọng của nó là lần đầu tiên khái niệm thế nào là tội phạm trong môi trường mạng máy
tính đã được các nước trên thế giới thảo luận và đi đến nhất trí. Theo định nghĩa này, tội
phạm trong môi trường mạng máy tính bao gồm cả tội phạm mới hình thành trong môi
trường mạng máy tính và cả những tội phạm truyền thống nhưng được thực hiện với sự giúp
đỡ của các phương tiện mạng máy tính mới. Tuy nhiên, nếu bất cứ mọi hành vi phạm tội nào
có sự tham gia của mạng máy tính cũng được xem là tội phạm mạng máy tính thì việc định
tội danh, xác định tính chất nguy hiểm cũng như áp dụng hình phạt sẽ không đảm bảo tính
chính xác. Chẳng hạn kẻ phạm tội giết người hoặc phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia với
sự giúp đỡ của các thiết bị mạng máy tính vẫn xác định là tội phạm mạng máy tính thì hoàn
toàn không phù hợp vì làm giảm nhẹ tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội. tội phạm
này cũng có những tính chất, đặc điểm như các loại tội phạm khác, tuy nhiên môi trường
phạm tội có những điểm khác biệt cho nên tội phạm này cũng có những khác biệt.
1.1.3 Những quy định của pháp luật Việt Nam về phòng chống tội phạm mạng
1.1.3.1 Quy định của pháp luật Hình sự
Quy định tội phạm mạng trong luật Hình sự là làm cơ sở pháp lý, là công cụ hữu
hiệu để đấu tranh phòng chống loại tội phạm này.
Theo luật hình sự của một số nước, chẳng hạn bộ luật Hình sự Liên Ban Nga dành
hẳn một chương 28 quy định về các tội phạm máy tính,bao gồm các tội: sử dụng trái phép
thông tin trong máy tính (Đ268), xây dựng, sử dụng và lan truyền các chương trình virus
(Đ269), vi phạm các quy định về vận hành hệ thống hay mạng máy tính (Đ 270). Theo bộ
luật Hình sự Liên Ban Nga thì hình phạt nặng nhất đối với tội phạm máy tính là 7 năm tù.
Bộ luật Hình sự Nhật Bản đã dành một số điều luật quy định về các hành vi phạm tội
liên quan đến môi trường mạng máy tính như: Điều 161-2 về tội làm giả dữ liệu điện tử và
cung cấp dữ liệu điện tử, điều 243-2 về tội làm hư hại máy tính để cản trở nghiệp vụ, Điều
10
246-2 về tội lừa đảo bằng cách sử dụng máy tính. Trong đó, mức phạt nghiêm khắc nhất là
tù khổ sai đến 10 năm hoặc phạt tiền với mức cao.[1]
Theo công ước châu Âu về tội phạm mạng năm 2001 thì coi các hành vi chống lại sự
bí mật, tính toàn vẹn và sẵn có của dữ liệu máy tính và hệ thống máy tính là tội pham mạng,
bao gồm: truy cập trái pháp luật, ngăn chặn bất hợp pháp, gây rối dữ liệu, gây rối hệ thống
máy tính, lạm dụng các thiết bị.[4]
Ở nước ta, theo Bộ luật hình sự 1999 có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2000 đã quy
định một số hành vi nguy hiểm cho xã hội liên quan đến máy tính và các thiết bị số liên quan
là tội phạm. Dựa vào những quy định này thì tội phạm trong môi trường mạng máy tính
được Bộ luật hình sự Việt Nam quy định thành ba tội:
Điều 224: tội tạo ra và lan truyền, phát tán các chương trình virus tin học. Quy định
này xử lý hình sự đối với những người cố ý tạo ra và cố ý lan truyền, phát tán các chương
trình virus qua mạng máy tính hoặc bằng các phương thức khác để gây rối loạn hoạt động,
phong tỏa hoặc làm biến dạng, làm hủy hoại mạng máy tính điện tử.
Điều 225: Tội vi phạm các quy định về vận hành, khai thác và sử dụng mạng máy
tính điện tử. Quy định này nhằm xử lý hình sự đối với những người sử dụng máy tính mà có
hành vi vi phạm các quy định về vận hành, khai thác và sử dụng mạng, tức là tác nghiệp
không đúng quy định của pháp luật hoặc đưa vào mạng những thông tin, dữ liệu không đúng
quy định của pháp luật dẫn đến hậu quả gây rối loạn hoạt động, phong tỏa hoặc làm biến
dạng, làm hủy hoại các dữ liệu của một hoặc nhiều máy tính.
Điều 226: Tội sử dụng trái phép thông tin trên mạng và trong máy tính. Quy định này
nhằm xử lý hình sự đối với những người không được phép sử dụng thông tin trên mạng và
trong máy tính mà vẫn sử dụng hoặc được phép sử dụng những thông tin trên mạng nhưng
không chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Đặc điểm của tội phạm mạng được Luật hình sự Việt Nam quy định
Khách thể của tội phạm
Trên cơ sở khái niệm tội phạm trong môi trường mạng máy tính, thì tội phạm mạng
xâm phạm đến trật tự quản lý của nhà nước về môi trường mạng máy tính- tin học làm ảnh
hưởng đến hoạt động bình thường của máy tính, mạng và các thiết bị có liên quan. Sự xâm
phạm ở đây được hiểu là làm hỏng hóc, chiếm đoạt, làm sai lệch thông tin của máy tính,
mạng máy tính và các thiết bị liên quan, cũng như các thông tin trong máy tính và mạng máy
tính. Dữ liệu của máy tính cũng là đối tượng tác động của tội phạm, dữ liệu được xem là
“linh hồn” của máy tính, là tài sản có giá trị vô cùng to lớn. Thuật ngữ dữ liệu trong điều
224, 225 của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 được hiểu là bao gồm các phần mềm và
11
các thông tin lưu trữ trong máy tính, dữ liệu có thể là các công trình sáng tạo khoa học,
những bí mật quốc gia…
Mặc dù quyền tham gia sử dụng máy tính và mạng được pháp luật bảo vệ, nhưng
tham gia sử dụng với mục đích gây nguy hại đến lợi ích của nhà nước, của tổ chức cá nhân
khác thì bị xem là bất hợp pháp. Không chỉ tấn công dữ liệu và các thiết bị liên quan, tội
phạm mạng máy tính còn xâm phạm đến uy tín, danh dự của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp.
Chẳng hạn như trong lĩnh vưc thương mại điện tử, một công ty mua bán hàng thông qua
mạng bị tội phạm mạng máy tính đánh sập trang Web thì thiệt hại không chỉ là hệ thống máy
tính mà còn là uy tín, danh dự của công ty đó và sự an toàn của hệ thống thương mại điện tử
của nước ta. Đây là khách thể rộng lớn và liên quan đến tội phạm truyền thông nhưng đã sử
dụng các thành tựu mạng máy tính để thực hiện hành vi phạm tội. Với sự hỗ trợ đắc lực của
khoa học kỹ thuật mới, các tội phạm này có thể gây ra những thiệt hại vô cùng nghiêm trọng
về nhiều mặt cho hoạt động bình thường của các cơ quan nhà nước, các tổ chức và đời sống
xã hội không giới hạn trong phạm vi môt quốc gia.
Mặt khách quan của tội phạm
Các hành vi của tội phạm trong môi trường mạng máy tính rất đa dạng và phức tạp,
cùng với sư phát triển của những công nghệ mới thì các hành vi khách quan cũng phát triển,
thay đổi không ngừng. Hiện nay, theo bộ luật hình sự năm 1999 quy định hành vi khách
quan của tội phạm đó là:
Điều 224: (Tội tạo ra và lan truyền, phát tán các chương trình virus tin học). Hành vi
khách quan của tội này là: tạo ra các chương trình virus là hành vi sản xuất các chương trình
virus tin học, lan truyền các chương trình virus là hành vi truyền đi các chương trình virus
tin học thông qua hệ thống mạng trong và ngoài nước, hành vi truyền các chương trình virus
thông qua cổng nối tiếp USB cũng bị coi là hành vi phạm tội; phát tán các chương trình virus
là hành vi truyền các chương trình virus thông qua hệ thống mạng máy tính mà thông qua
các sản phẩm phần mềm máy tính.
Điều 225: (Tội vi phạm các quy định về vận hành, khai thác và sử dụng mạng máy
tính điện tử). Hành vi khách quan của tội này là hành vi người được sử dụng máy tính vi
phạm các quy định về vận hành, khai thác và sử dụng mạng máy tính gây rối loạn hoạt động,
phong tỏa hoặc làm biến dạng, làm hủy hoại các dữ liệu của máy tính. Khai thác mạng máy
tính điện tử là hành vi tìm kiếm nhằm rút ra hoặc ghi lại các thông tin cần thiết cho nhu cầu
của mình từ các dữ liệu trong mạng máy tính điện tử; sử dụng mạng máy tính điện tử là hành
vi phát huy tính năng, công dụng của máy tính điện tử nhằm khai thác thông tin có trong dữ
liệu của máy tính.
Điều 226: (Tội sử dụng trái phép thông tin trên mạng và trong máy tính). Hành vi
khách quan của tội này là sử dụng các thông tin trên mạng hoặc trong máy tính của người
12
khác, của cơ quan, tổ chức một cách lén lút dưới các hình thức khác mà không được sự đồng
ý của họ. Cụ thể bọn tội phạm sử dung nhiều thủ đoạn khác nhau để khai thác và sử dụng
mạng máy tính điện tử trái phép, trong đó chủ yếu sử dung virus tin học, trojan, phần mềm
gián điệp (spyware) để đánh cắp mật khẩu, đột nhập vào mạng, phá vỡ hàng rào bảo vệ phần
mềm để sao chép, chuyển đổi bất hợp pháp các thông tin trên mạng hoặc gửi các file đính
kèm vào các thư điện tử rồi gửi đến địa chỉ nào đó, khi thuê bao nhận đươc thư sẽ đọc thư và
đây chính là lúc virus sẽ đọc mật mã và chuyển về nơi chúng (hacker) đã đợi sẵn, khi có
mật mã, bọn tội phạm sẽ sử dụng hoặc phát tán cho nhều người sử dụng qua hộp thư điện tử
của người khác mà không mất tiền hoặc dò mã thẻ tín dụng của khách hàng để chuyển tiền
bừa bãi từ tài khoản này sang tài khoản khác hoặc chiếm đoạt luôn số tiền có trong tài khoản
của họ qua mạng và thậm chí phá hỏng luôn cả hệ thống máy tính của tổ chức đó, chúng còn
đưa vào máy tính những thông tin trái pháp luật cũng như những thông tin thiếu văn hóa,
kích động bạo lực…
Hậu quả của tội phạm
Tội phạm đã gây ra hậu quả rất nghiêm trọng cho xã hội, không chỉ gây thiệt hại, làm
ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của máy tính, mạng máy tính và các thiết bị liên quan
mà còn ảnh hưởng đến an toàn công cộng, trật tự công cộng, thậm chí đe dọa đến an ninh
quốc gia. Và một khi các hoạt động quản lý xã hội tin học hóa, tự động hóa quy trình sản
xuất công nghiệp. Mạng máy tính thâm nhập vào mọi môi trường của đồi sống xã hội thì hậu
quả của tội phạm mạng máy tính gây ra sẽ nhanh chóng ảnh hưởng đáng kể đến mọi môi
trường của đời sống xã hội, gây hậu quả rất lớn về kinh tê, chính trị, xã hội.
Mặt chủ quan của tội phạm
Các tội phạm trong môi trường mạng máy tính được thường được thực hiện do lỗi cố
ý. Có ba tội danh liên quan đến tội phạm trong môi trường mạng máy tính được quy định tại
bộ luật hình sự năm 1999 có một tội danh được thực hiện do lỗi vô ý vì cẩu thả hay vô ý vì
quá tự tin. Đó là tội vi phạm các quy định về vận hành, khai thác và sử dụng các quy định về
vận hành, khai thác và sử dụng mạng máy tính điện tử (Đ225). Tuy nhiên trong trường hợp
lỗi vô ý thì thường là những hành vi gây ra hậu quả thiệt hại nghiêm trọng, tội phạm hoàn
thành từ thời điểm xảy ra thiệt hại, trong trường hợp hành vi tuy chưa xảy ra hậu quả nghiêm
trọng nhưng đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm thì hành vi vẫn cấu
thành tội phạm.
Các yếu tố động cơ, mục đích phạm tội của nhóm các tội phạm trong môi trường
mạng máy tính thườn không phải là dấu hiệu bắt buộc của nhóm tội phạm này mà yếu tố
quan trọng nhất để xác định tội phạm là hành vi và hậu quả gây thiệt hại. Động cơ, mục đích
của tội phạm rất đa dạng, có thể là vì lợi ích vật chất, có thể là để thu thập thông tin hoặc
13
nhằm phục vụ các hoạt động phạm tội khác…, thậm chí là để thể hiện tài năng, bản lĩnh của
mình.
Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ ai có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ
tuổi nhất định theo quy định của pháp luật. Cả ba tội phạm được quy định tại các điều
224,225,226 thuộc các tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng nên theo quy định tại điều 12
Bộ luật hình sự năm 1999 về tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự thì người từ đủ 16 tuổi trở
lên mới trở thành chủ thể của tội phạm này. Chủ thể của tội phạm này thông thường là có
kiến thức nhất định về công nghệ máy tính, công nghệ mạng và đã lợi dụng những hiểu biết
của mình để thực hiện hành vi phạm tội, họ thường được gọi là “những tên trộm tri thức thế
kỷ 21”, vì vậy họ luôn thành công trong việc phạm tội và gây khó khăn cho các cơ quan tiến
hành tố tụng trong việc phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử loại tội phạm này. Cũng có những
trường hợp là những người không hiểu biết đầy đủ về các quy định liên quan đến vận hành,
khai thác và sử dụng mạng máy tính điện tử dẫn đến thực hiện hành vi phạm tội và đã gây ra
những thiệt hại cho xã hội. Và một điều đáng báo động là chủ thể của nhóm tội phạm này
ngày càng được trẻ hóa. Với sự phát triển của mạng máy tính và các chương trình phần mềm
khác, giới trẻ thường là thế hệ nhận biết nhanh nhạy những công nghệ mới, cùng với tính
bồng bọt , thích thể hiện mình nên dễ dẫn đến con đường phạm tội. Cũng có rất nhiều người
trong cộng đồng khoa học và công nghệ có khả năng vượt trội nhưng không tìm được việc
làm phù hợp nên họ rất dễ chuyển sang hoạt động với mục đích bất chính.
Sự khác biệt giữa tội phạm trong môi trường mạng với tội phạm thường
Qua phân tích những đặc điểm của tội phạm trong môi trường mạng máy tính, chúng
ta có thể rút ra những đặc điểm khác biệt giữa tội phạm này với nhóm các tội phạm thông
thường.
Thứ nhất: có vai trò của máy tính, mạng máy tính và các thiết bị mạng máy tính có
liên quan. Máy tính, mạng máy tính vừa có thể là đối tượng của tội phạm, vừa có thể là môi
trường và công cụ đắt lực thể thực hiện hành vi phạm tội.
Thứ hai: về chủ thể thì những người phạm tội về mạng máy tính hầu hết là những
người có tri thức, am hiểu công nghệ mới, có những kiến thức nhất định, vững vàng về công
nghệ kỹ thuật số, có kỹ năng khai thác và sử dụng chúng thành thạo. Vì vậy khả năng thành
công của hành vi phạm tội là rất cao, gây rất nhiều khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng,
họ thường là những người trẻ tuổi, chưa có tiền án, tiền sự.
Thứ ba: về hậu quả thiệt hại, hậu quả của tội phạm trong môi trường mạng máy tính
thường rất nghiêm trọng, một khi các hoạt động xã hội được máy tính hóa, thì hệ thống
mạng, hệ thống thông tin được phổ biến rộng khắp trên tất cả các môi trường của đời sống
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét