Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

Phân tích thực trạng chi trả các chế độ BHXH tại cơ quan BHXH tỉnh Hà Tĩnh (2003-2007)”

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Sự ra đời và phát triển của BHXH có vai trò rất lớn đối với người lao
động, người sử dụng lao động và Nhà nước, cụ thể:
Đối với người lao động: Nhờ có BHXH mà rủi ro, bất lợi của người lao
động được dàn trải, cuộc sống của người lao động và gia đình họ ngày càng
được đảm bảo ổn định. Từ đó, làm cho người lao động an tâm trong lao động
sản xuất, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển.
Đối với người sử dụng lao động: BHXH phục vụ lợi ích của người sử
dụng lao động vì góp phần duy trì quan hệ lao động ổn định. Người lao động
được bảo hiểm sẽ yên tâm phấn khởi làm việc, nâng cao năng suất lao động
và chất lượng sản phẩm, góp phần giữ vững, thậm chí làm tăng lợi nhuận cho
người sử dụng lao động.
Đối với Nhà nước: BHXH có tác dụng to lớn trên cả hai bình diện.
Trên bình diện xã hội, BHXH giúp duy trì ổn định quan hệ lao động, quan hệ
xã hội, thực hiện công bằng xã hội, góp phần bảo đảm đời sống cho người lao
động và gia đình họ, đảm bảo an toàn quốc gia. Trên bình diện kinh tế, quỹ
BHXH là một kênh tài chính quan trọng góp phần phát triển đất nước; đặc
biệt là đối với những quốc gia đang trong quá trình phát triển mạnh mẽ như
Việt Nam chúng ta. Như vậy, sự xuất hiện của BHXH là một tất yếu khách
quan khi mà mọi thành viên trong xã hội đều cảm thấy sự cần thiết phải tham
gia hệ thống BHXH và sự cần thiết phải tiến hành bảo hiểm cho người lao
động.
2. Sự ra đời và phát triển của BHXH
2.1 Trên thế giới
BHXH đã xuất hiện từ rất lâu mà mầm mống của nó từ thế kỷ XIII ở
Nam Âu khi nền công nghiệp và kinh tế hàng hoá đã bắt đầu phát triển. Tuy
nhiên ban đầu BHXH chỉ mang tính chất sơ khai, với phạm vi nhỏ hẹp. Từ thế
GVHD: PGS.TS - Nguyễn Văn Định
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
kỷ XVI đến thế kỷ XVIII một số nghiệp đoàn thợ thủ công ra đời, để bảo vệ
lẫn nhau trong hoạt động nghề nghiệp họ đã thành lập nên các quỹ tương trợ
để giúp đỡ lẫn nhau (ở Anh năm 1973 đã thành lập hội “bằng hữu” để giúp đỡ
các hội viên khi bị ốm đau, tai nạn nghề nghiệp).
Năm 1883, nước Phổ (Cộng hoà liên bang Đức ngày nay) đã ban hành
luật bảo hiểm ốm đau đầu tiên trên thế giới, đánh dấu sự ra đời của bảo hiểm
xã hội. Bảo hiểm xã hội đã trở thành một trong những quyền của con người
và được xã hội thừa nhận. Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hợp Quốc
(10/12/1948) đã ghi: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội
có quyền hưởng bảo hiểm xã hội” Ngày 4/6/1952, Tổ chức lao động quốc tế
(ILO) đã ký công ước Giơnevơ (102) về “Bảo hiểm xã hội cho người lao
động” đã khẳng định tất yếu các nước phải tiến hành bảo hiểm xã hội cho
người lao động và gia đình họ. Theo Công ước 102 tháng 6 năm 1952 tại
Giơnevơ của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) phạm vi của BHXH là trợ cấp
cho 9 chế độ sau: Chăm sóc y tế, trợ cấp ốm đau, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp
tuổi già, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, trợ cấp gia đình, trợ
cấp thai sản, trợ cấp khi tàn phế, trợ cấp cho người còn sống( trợ cấp mất
người nuôi dưỡng)
Nhưng trên thực tế không phải nước nào cũng thực hiện được toàn bộ 9
chế độ trên và không phải nước nào cũng có phạm vi, đối tượng nguồn hình
thành quỹ giống nhau. Có nghĩa là việc thực hiện BHXH ở những nước khác
nhau thì khác nhau tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng nước và hoàn cảnh cụ
thể của mỗi giai đoạn phát triển mà mỗi nước có những hình thức áp dụng
khác nhau cho phù hợp.
Trên thế giới có 33 nước thực hiện được 9 chế độ, trên 84 nước chưa
thực hiện được chế độ thứ 3 ( trợ cấp thất nghiệp), 9 nước chưa thực hiện
được chế độ thứ sáu ( trợ cấp gia đình).
GVHD: PGS.TS - Nguyễn Văn Định
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
2.2. Tại Việt Nam
Bảo hiểm xã hội ( BHXH ) được thực hiện ở Việt Nam từ năm 1945 và
trải qua nhiều lần bổ sung, sửa đổi đặc biệt trong các năm 1961, 1985, 1995.
Năm 1961, một Nghị định của chính phủ được ban hành để cung cấp
các dịch vụ phúc lợi xã hội cho tất cả các cán bộ viên chức làm việc trong
ngành nội chính, giáo dục, y tế, các doanh nghiệp Nhà nước, nội vụ. Hệ thống
này chỉ chịu trách nhiệm bảo hiểm cho khoảng 600.000 đến 700.000 người
trên tổng số dân là 17 triệu người của miền Bắc Việt Nam ( theo số liệu của
năm 1962). Năm 1964 Nghị định 218 thực hiện BHXH cho quân nhân.
Từ năm 1975 thì chính sách BHXH được thực hiện thống nhất trong cả
nước.
Chế độ BHXH bao gồm: trợ cấp hưu trí, mất sức lao động và tử tuất,
cùng các chế độ trợ cấp ốm đau, thai sản và tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp do cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp đóng góp.
Trước năm 1995, BHXH do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội chịu
trách nhiệm quản lý thực hiện về các chế độ trợ cấp dài hạn ( hưu trí, tử tuất,
tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đối với người nghỉ việc ), Tổng Liên đoàn
Lao động chịu trách nhiệm quản lý thực hiện về các khoản chi trả trợ cấp
ngắn hạn (trợ cấp ốm đau, thai sản và tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đối
với người đang làm việc).
Từ tháng 1 năm 1995, Bộ Luật Lao động có hiệu lực, trong đó chương
XII về BHXH để hướng dẫn thực hiện Bộ luật Lao động. Ngày 16-2-1995
Chính phủ ban hành Nghị định 19/CP thành lập hệ thống BHXH Việt Nam để
quản lý thực hiện chính sách BHXH và quản lý quỹ BHXH. Ngày 26-1-1995
Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 12/CP về điều lệ BHXH đối với
dân sự với 5 chế độ BHXH: chế độ trợ cấp ốm đau, trợ cấp thai sản, trợ cấp
GVHD: PGS.TS - Nguyễn Văn Định
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu trí và trợ cấp tử tuất; và ngày
15-7-1995 Chính phủ ban hành Nghị định số 45 quy định về BHXH đối với
quân sự ( quân đội, công an). Trong 2 nghị định của Chính phủ có quy định
về hình thành quỹ BHXH trên cơ sở thu BHXH bao gồm người sử dụng lao
động đóng 15% quỹ lương và người lao động đóng 5% tiền lương hàng tháng.
Quỹ này sử dụng để chi trả cho 5 chế độ trên. Quỹ BHXH được bảo tồn, tăng
trưởng và được Nhà nước bảo hộ.
Ngày 24-1- 2002 Chính phủ có Quyết định số 20/2002/QĐ-TTg chuyển
hệ thống BHYT trực thuộc Bộ Y tế sang BHXH Việt Nam và ngày 6-12-2002
Chính phủ ra Nghị định 100/NĐ-CP quyết định chức năng nhiệm vụ, quyền
hạn và tổ chức bộ máy của BHXH ( bao gồm cả bảo hiểm y tế ).
Để phù hợp với quá trình phát triển và hội nhập, từ năm 1998 đến nay
Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản nhằm sửa đổi, bổ sung chính sách
BHXH. Sự thay đổi về chính sách BHXH đã được cụ thể hoá tại Nghị định số
01/2003/NĐ-CP ngày 09/01/2003 của Chính phủ và đặc biệt là tại Luật
BHXH. Luật BHXH được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam thông qua ngày 29/6/2006 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/07 là
một sự kiện vô cùng quan trọng trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật
về BHXH ở nước ta. Nhiều nội dung mới, thể hiện những bước cải cách cần
thiết trong lĩnh vực BHXH đã được đưa vào luật BHXH. Đó là việc quy định
lại đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, số lượng, nội dung của các chế độ
BHXH bắt buộc như mức đóng, mức hưởng, thời gian hưởng…cũng có nhiều
thay đổi. Ngoài ra, luật BHXH còn mở ra loại hình BHXH tự nguyện và bảo
hiểm thất nghiệp với những quy định về đối tượng tham gia, mức đóng, điều
kiện hưởng, thời gian và mức hưởng rất rõ ràng cụ thể. Hiện nay, luật BHXH
là văn bản có tính pháp lý cao nhất về BHXH ở Việt Nam.
GVHD: PGS.TS - Nguyễn Văn Định
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Trong thời chiến cũng như thời bình, Đảng và Nhà nước ta đã luôn
quan tâm đến chính sách BHXH cho người lao động. Do đó, chế độ BHXH đã
trải qua nhiều giai đoạn, nhiều lần được sửa đổi, bổ sung và cải tiến, từng
bước phát triển thành một hệ thống các chế độ BHXH tương đối hoàn chỉnh.
3. Bản chất, đối tượng, chức năng và tính chất của BHXH
3.1. Bản chất của Bảo hiểm xã hội
Có thể nói, bản chất của BHXH được thể hiện ở những nội dung chủ
yếu sau đây:
- BHXH là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của xã hội, nhất là
trong xã hội mà sản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trường, mối quan
hệ thuê mướn lao động phát triển đến một mức độ nào đó. Kinh tế càng phát
triển thì BHXH càng đa dạng và hoàn thiện. Vì thế có thể nói kinh tế là nền
tảng của BHXH hay BHXH không vượt quá trạng thái kinh tế của mỗi nước.
- Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm
trong BHXH có thể là những rủi ro ngẫu nhiên, trái với ý muốn chủ quan của
con người như: Ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Hoặc cũng có
thể là những trường hợp xảy ra không hoàn toàn ngẫu nhiên như: Tuổi già,
thai sản Đồng thời những biến cố đó có thể diễn ra cả trong và ngoài quá
trình lao động.
- Mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ
lao động và diễn ra giữa 3 bên: Bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được
BHXH. Bên tham gia BHXH có thể chỉ là người lao động hoặc cả người lao
động và người sử dụng lao động. Bên BHXH (bên nhận nhiệm vụ BH) thông
thường là cơ quan chuyên trách do Nhà nước lập ra và bảo trợ. Bên được
BHXH là người lao động và gia đình họ khi có đủ các điều kiện ràng buộc
cần thiết.
GVHD: PGS.TS - Nguyễn Văn Định
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- Phần thu nhập của người lao động bị giảm hoặc mất đi khi gặp phải
những biến cố, rủi ro sẽ được bù đắp hoặc thay thế từ một nguồn quỹ tiền tệ
tập trung được tồn tích lại. Nguồn quỹ này do các bên tham gia BHXH đóng
góp là chủ yếu, ngoài ra còn được sự hỗ trợ từ phía Nhà nước.
- Mục tiêu của BHXH là nhằm đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của
người lao động trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm.
Mục tiêu này đã được tổ chức lao động quốc tế (ILO) cụ thể hoá như sau:
+ Xây dựng điều kiện sống đáp ứng các nhu cầu của dân cư và các nhu
cầu đặc biệt của người già, người tàn tật và trẻ em.
+ Chăm sóc sức khoẻ và chống bệnh tật.
+ Đền bù cho người lao động những khoản thu nhập bị mất để đảm bảo
nhu cầu sinh sống thiết yếu của họ.
3.2. Đối tượng của Bảo hiểm xã hội
Đối tượng của BHXH chính là thu nhập của người lao động bị biến
động giảm hoặc mất đi do bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm
của những người lao động tham gia BHXH.
Đối tượng tham gia BHXH là người lao động và người sử dụng lao
động. Tuy vậy, tuỳ theo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước mà
đối tượng này có thể là tất cả hoặc một bộ phận những người lao động nào đó.
3.3. Chức năng của Bảo hiểm xã hội
- Bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động
được bảo hiểm khi họ bị giảm hoặc mất việc làm do bị giảm hoặc mất khả
năng lao động hoặc mất việc làm theo những điều kiện xác định. Đây là chức
năng cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế
tổ chức hoạt động của BHXH.
GVHD: PGS.TS - Nguyễn Văn Định
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- Góp phần kích thích, khuyến khích người lao động hăng hái lao động
sản xuất, nâng cao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội.
Chức năng này thể hiện như một đòn bẩy kinh tể kích thích người lao động
nâng cao năng suất lao động cá nhân và kéo theo là năng suất lao động xã hội.
- Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người
tham gia BHXH. Tham gia BHXH không chỉ có người lao động mà cả những
người sử dụng lao động. Các bên tham gia đều phải đóng góp vào quỹ
BHXH. Như vậy, theo quy luật số đông bù số ít, BHXH thực hiện phân phối
lại giữa những người lao động có thu nhập cao và thấp, giữa những người
khoẻ mạnh đang làm việc với những người ốm yếu phải nghỉ việc Thực hiện
chức năng này có nghĩa là BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội.
- Trong thực tế lao động sản xuất, người lao động và người sử dụng lao
động vốn có những mâu thuẫn nội tại, khách quan về tiền lương, tiền công,
thời gian lao động Thông qua BHXH, những mâu thuẫn đó sẽ được điều hoà
và giải quyết. Đặc biệt, cả hai giới này đều thấy nhờ có BHXH mà mình có
lợi và được bảo vệ. Từ đó làm cho họ hiểu nhau hơn và gắn bó lợi ích được
với nhau. Đối với Nhà nước và xã hội, chi cho BHXH là cách thức phải chi ít
nhất và có hiệu quả nhất nhưng vẫn giải quyết được khó khăn về đời sống cho
người lao động và gia đình họ, góp phần làm cho sản xuất ổn định, kinh tế,
chính trị và xã hội được phát triển và an toàn hơn.
BHXH đã phát huy tiềm năng của số đông và ưu điểm của nhiều
phương thức hoạt động trong kinh tế thị trường để đảm bảo an toàn đời sống
cho người lao động cũng như cho xã hội. Đồng thời BHXH cũng tạo ra sự gắn
bó chặt chẽ về lợi ích, cả lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài của các bên tham
gia BHXH, cũng như của các bên đó đối với Nhà nước.
GVHD: PGS.TS - Nguyễn Văn Định
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
3.4. Tính chất của BHXH
BHXH gắn liền với đời sống của người lao động, vì vậy nó có một số
tính chất cơ bản sau:
- Tính tất yếu khách quan trong đời sống xã hội:
Trong quá trình lao động sản xuất người lao động có thể gặp nhiều biến
cố, rủi ro khi đó người sử dụng lao động cũng rơi vào tình cảnh khó khăn
không kém như: Sản xuất kinh doanh bị gián đoạn, vấn đề tuyển dụng và hợp
đồng lao động luôn phải được đặt ra để thay thế Sản xuất càng phát triển
những rủi ro đối với người lao động và những khó khăn đối với người sử
dụng lao động càng nhiều và trở nên phức tạp, dẫn đến mối quan hệ chủ - thợ
ngày càng căng thẳng. Để giải quyết vấn đề này, Nhà nước phải đứng ra can
thiệp thông qua BHXH. Và như vậy, BHXH ra đời hoàn toàn mang tính
khách quan trong đời sống kinh tế - xã hội của mỗi nước.
- BHXH vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội, đồng thời còn có tính
dịch vụ.
BHXH là bộ phận chủ yếu của hệ thống bảo đảm an sinh xã hội, vì vậy
tính xã hội của nó thể hiện rất rõ. Xét về lâu dài, mọi người lao động trong xã
hội đều có quyền tham gia BHXH, và ngược lại, BHXH phải có trách nhiệm
bảo hiểm cho mọi người lao động và gia đình họ, kể cả khi họ còn đang trong
độ tuổi lao động. Khi nền kinh tế - xã hội ngày càng phát triển tính chất xã hội
hoá của BHXH cũng đòi hỏi ngày càng cao hơn.
Tính kinh tế thể hiện rõ nhất ở chỗ, quỹ BHXH muốn được hình thành,
bảo toàn và tăng trưởng phải có sự đóng góp của các bên tham gia và phải
được quản lý chặt chẽ, sử dụng đúng mục đích. Quỹ BHXH chủ yếu dùng để
trợ cấp cho người lao động theo các điều kiện của BHXH. Thực chất, phần
đóng góp của mỗi người lao động là không đáng kể, nhưng quyền lợi nhận
GVHD: PGS.TS - Nguyễn Văn Định
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
được là rất lớn khi gặp rủi ro. Đối với người sử dụng lao động, việc tham gia
đóng góp vào quỹ BHXH là để bảo hiểm cho người lao động mà mình sử
dụng. Xét dưới góc độ kinh tế, họ cũng có lợi vì không phải bỏ ra một khoản
tiền lớn để trang trải cho những người lao động bị mất hoặc giảm khả năng
lao động. Với Nhà nước, BHXH góp phần làm giảm gánh nặng cho ngân sách
đồng thời quỹ BHXH còn là nguồn đầu tư đáng kể cho nền kinh tế quốc dân.
- BHXH có tính ngẫu nhiên, phát sinh không đồng đều theo thời gian và
không gian. Tính chất này thể hiện rất rõ ở những nội dung cơ bản của
BHXH. Từ thời điểm hình thành và triển khai, đến mức đóng góp của các bên
tham gia để hình thành quỹ BHXH. Từ những rủi ro phát sinh ngẫu nhiên
theo thời gian và không gian đến mức trợ cấp BHXH theo từng chế độ cho
người lao động
4. Hệ thống các chế độ BHXH
4.1 Theo Công ước 102
Theo khuyến nghị của Tổ chức lao động thế giới (ILO) đã nêu trong
Công ước Giơnevơ số 102 (1952), hệ thống các chế độ BHXH bao gồm:
(1). Chăm sóc y tế: Chế độ này được thiết kế nhằm mục đích trợ cấp
cho người lao động chi phí khám chữa bệnh trong trường hợp người lao động
bị ốm đau bệnh tật. Ngày nay, chế độ chăm sóc y tế đã trở thành một chế độ
lớn được gọi là Bảo hiểm y tế, và không chỉ được thực hiện đối với người lao
động mà là chính sách xã hội chung cho tất cả mọi người dân. Ở các nước
phát triển, chế độ BHYT trở thành chính sách BHYT toàn dân.
(2). Trợ cấp ốm đau: Mục đích của chế độ này là nhằm bù đắp một
phần thu nhập cho người lao động khi bị ốm đau bệnh tật, không đi làm được
và không được người sử dụng lao động trả lương.
GVHD: PGS.TS - Nguyễn Văn Định
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
(3). Trợ cấp thất nghiệp: nhằm bù đắp một phần thu nhập bị mất của
người lao động khi bị thất nghiệp, không có việc làm.
(4). Trợ cấp tuổi già: Đây là một chế độ BHXH lớn, được xây dựng với
mục đích trợ cấp thu nhập cho người lao động khi về già, không còn làm việc
nữa.
(5). Trợ cấp tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp: là chế độ BHXH
nhằm trợ cấp phần thu nhập bị giảm hoặc mất của người lao động do bị giảm
hoặc mất sức lao động từ tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp.
(6). Trợ cấp gia đình: Đây là một chế độ BHXH lớn và thường chỉ được
thực hiện ở các nước phát triển, với mục đích cung cấp cho người lao động
thêm một nguồn tài chính để trang trải chi phí nuôi con ăn học, khám chữa
bệnh.
(7). Trợ cấp sinh đẻ: Chế độ này được thiết kế nhằm bảo vệ quyền lợi
cho người phụ nữ khi sinh con, trên cơ sở thay thế phần thu nhập không được
người sử dụng lao động trả trong thời gian nghỉ sinh con.
(8). Trợ cấp khi tàn phế: Chế độ này nhằm mục đích trợ cấp thu nhập
cho người lao động để họ ổn định cuộc sống khi không may gặp rủi ro dẫn
đến tàn phế. Ở các nước phát triển, chế độ này không chỉ áp dụng riêng đối
với người lao động mà đối với tất cả các thành viên trong xã hội.
(9). Trợ cấp mất người nuôi dưỡng: là chế độ BHXH được thiết kế
nhằm trợ cấp một phần thu nhập cho thân nhân người lao động đang sống phụ
thuộc vào họ, nếu chẳng may người lao động bị chết. Thân nhân người lao
động có thể là vợ, chồng, bố ruột, mẹ ruột, bố chồng, mẹ chồng, bố vợ, mẹ
vợ, con ruột, con nuôi…
Chín chế độ trên hình thành một hệ thống các chế độ BHXH. Tuỳ điều
kiện kinh tế - xã hội mà mỗi nước tham gia công ước Giơnevơ thực hiện
GVHD: PGS.TS - Nguyễn Văn Định

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét