Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

giải pháp thu hút fdi của eu vào việt nam giai đoạn 2006 – 2010


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "giải pháp thu hút fdi của eu vào việt nam giai đoạn 2006 – 2010": http://123doc.vn/document/1054173-giai-phap-thu-hut-fdi-cua-eu-vao-viet-nam-giai-doan-2006-2010.htm



khoán đến cho vay, với điều kiện là công ty đầu tư phải nắm giữ hơn 10% sở hữu
tài sản của một công ty nước ngoài. Theo tổng kết tiêu chuẩn của một số nước
cho thấy, một công ty hoạt động đầu tư chiếm ít nhất 10% hoặc 25% sở hữu tài
sản của một công ty nước ngoài thì đầu tư đó có thể được xếp vào hạng đầu tư
trực tiếp nước ngoài.
- Xét trên khía cạnh cán cân thanh toán, FDI thường được hiểu là phần
tăng thêm trên giá trị sổ sách của lượng đầu tư ròng ở một quốc gia được thực
hiện bởi các nhà ĐTNN, đồng thời các nhà đầu tư này cũng chính là những người
sở hữu chính và nắm giữ quyền kiểm soát quá trình đầu tư đó.
- Trên thực tế phần lớn FDI được thực hiện dưới dạng các công ty con
hoặc các công ty trực thuộc các công ty xuyên quốc gia (TNCs) và nhà đầu tư là
những tổ chức chóp bu của các công ty này. Một điều đáng lưu ý là ngày nay
FDI còn được thực hiện bởi các công ty nhỏ và vừa. Tuy nhiên, TNCs vẫn giữ
vai trò chủ đạo trong quá trình này. Do đó, FDI có thể được hiểu là sự mở rộng
phạm vi hoạt động sản xuất kinh doanh của TNCs trên phạm vi quốc tế. Sự mở
rộng đó bao gồm sự chuyển giao vốn, công nghệ, và các kỹ năng sản xuất và bí
quyết quản lý tới nước tiếp nhận đầu tư để thực hiện quá trình sản xuất kinh
doanh theo kế hoạch của dự án đầu tư.
- Theo Điều 2 Luật ĐTNN tại Việt Nam năm 1996 : “FDI là việc nhà
ĐTNN đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bằng bất kỳ tài sản nào để tiến
hành hoạt động đầu tư theo quy định của luật này”.
Hình thức đầu tư này có một số đặc điểm cơ bản sau :
Thứ nhất, đây là hình thức đầu tư bằng vốn của tư nhân do các chủ đầu tư
tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ
lãi. Hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không có những
ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế.
Thứ hai, chủ ĐTNN điều hành toàn bộ mọi hoạt động đầu tư nếu doanh
nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp liên doanh
tuỳ theo tỷ lệ góp vốn của mình. Đối với nhiều nước trong khu vực, chủ đầu tư
chỉ được thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trong một số lĩnh vực
nhất định và chỉ được tham gia bên liên doanh với số vốn cổ phần của bên nước
- 5 -

ngoài nhỏ hơn hoặc bằng 49% ; 51% cổ phần còn lại do nước chủ nhà nắm giữ.
Trong khi đó, Luật ĐTNN của Việt Nam cho phép rộng rãi hơn đối với hình thức
100% vốn nước ngoài và quy định bên nước ngoài phải góp tối thiểu 30% vốn
pháp định của dự án.
Thứ ba, thông qua FDI, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được công nghệ, kỹ
thuật tiên tiến học hỏi kinh nghiệm quản lý… là những mục tiêu mà các hình
thức đầu tư khác không giải quyết được.
Thứ tư, nguồn vốn đầu tư này không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của
chủ đầu tư dưới hình thức vốn pháp định mà trong quá trình hoạt động, nó còn
bao gồm cả vốn vay của doanh nghiệp để triển khai hoặc mở rộng dự án cũng
như vốn đầu tư từ nguồn lợi nhuận thu được.
Ở Việt Nam, hình thức FDI chủ yếu là xây dựng mới. Với một đất nước
còn nghèo nàn lạc hậu như Việt Nam, hình thức này phát huy nhiều ưu thế và
được khuyến khích của chính phủ theo quy định của pháp luật.
Hiệu quả tài chính của việc sử dụng vốn FDI thường rất cao. So với việc
sử dụng vốn đầu tư gián tiếp, ở Việt Nam, chủ yếu là vốn ODA, hiệu quả trong
quá trình sử dụng vốn FDI là thách thức đối với chính phủ và các cơ quan nhà
nước trong việc sử dụng vốn ODA. Có nhiều lý do dẫn đến sự khác nhau trong
việc sử dụng vốn. Lý do thứ nhất là chủ đầu tư trực tiếp nước ngoài chỉ đầu tư
cho những dự án có độ tin cậy về tính hiệu quả cao dựa theo kinh nghiệm dày
dạn trên thương trường của họ. Lý do thứ hai là chủ sở hữu vốn trong hoạt động
FDI cũng chính là đối tượng thụ hưởng còn trong hoạt động đầu tư gián tiếp, đối
tượng thụ hưởng trực tiếp từ dự án không phải là chủ đầu tư. Những lý do đó tạo
nên tâm lý sợ trách nhiệm, phó mặc trong hoạt động đầu tư gián tiếp, hậu quả là
tính hiệu quả kinh tế xã hội không cao.
Bên cạnh những ưu điểm nổi bật trên, hình thức chuyển giao vốn này chứa
đựng khả năng các doanh nghiệp có vốn nước ngoài trở thành lực lượng thống trị
nền kinh tế bản địa. Trường hợp này xảy ra khi việc kiểm soát và điều tiết của
chính phủ nước chủ nhà với hoạt động FDI lơi lỏng. Việc cạnh tranh trong thu
hút vốn FDI buộc chính phủ các nước có những biện pháp nới lỏng quản lý. Khi
đó, khả năng chuyển giao công nghệ cho nước chủ nhà sẽ không được thực hiện
- 6 -

theo mong muốn của nước chủ nhà, đặc biệt là với các doanh nghiệp 100% vốn
nước ngoài.
Muốn khắc phục được những hạn chế trên, nước chủ nhà cần có đội ngũ
các nhà quản lý, cán bộ khoa học kỹ thuật giỏi để tiếp nhận và quản lý vốn FDI.
Kinh nghiệm phát triển của các nước Đông Á cho thấy, vốn FDI có vai trò trong
quá trình tăng trưởng thần kỳ của họ. Có nghĩa là vấn đề về hiệu quả sử dụng vốn
tuỳ thuộc vào cách huy động và quản lý sử dụng vốn ở nước tiếp nhận chứ không
chỉ phụ thuộc vào ý đồ của nhà ĐTNN.
Như vậy, FDI với tư cách là phương thức hoạt động chủ đạo của TNCs
không chỉ đơn thuần là sự chu chuyển tài chính quốc tế, mà cùng với nó là sự
chuyển giao công nghệ và các tài sản vô hình khác. Về thực chất, đây chính là
nhân tố tạo nên sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ trong dài hạn.
1.2.2. Đầu tư gián tiếp (FPI)
Đầu tư gián tiếp là một hình thức của ĐTNN, trong đó chủ sở hữu vốn
không trực tiếp quản lý và điều hành các hoạt động sử dụng vốn đầu tư.
Loại hình đầu tư này có hai phương thức thực hiện là cho vay và viện trợ.
Cho vay được thực hiện qua hai dạng là vay với lãi suất thường và vay ưu đãi.
Vốn từ hình thức vay ưu đãi và vốn viện trợ không hoàn lại là bộ phận cầu thành
vốn phát triển chính thức (ODA).
Đầu tư gián tiếp có 5 đặc điểm cơ bản sau :
- Vốn của các tổ chức quốc tế, chính phủ nước ngoài thường có ưu đãi và
một số ràng buộc nhất định, thông thường tài trợ qua hình thức ODA. Mục tiêu
của chủ đầu tư chủ yếu là nâng cao mức sống của nhân dân bằng việc đầu tư phát
triển kết cấu hạ tầng, nâng cao dân trí, sức khoẻ, bảo vệ môi trường…
- Vốn của tư nhân tập trung vào việc cho vay, đầu tư chứng khoán. Thông
thường, việc đầu tư cho cổ phần bị ràng buộc bởi tỷ lệ vốn góp.
- Chủ đầu tư nước ngoài không trực tiếp điều hành hoạt động của các
doanh nghiệp mà họ bỏ vốn đầu tư, do đó bên tiếp nhận đầu tư có toàn quyền chủ
động hoàn toàn trong kinh doanh.
- 7 -

- Chủ ĐTNN thu lợi nhuận qua lãi suất cổ phiếu không cố định, tuỳ thuộc
vào kết quả kinh doanh.
- Tuy doanh nghiệp đầu tư không có khả năng, cơ hội tiếp thu công nghệ,
kỹ thuật hiện đại, kinh nghiệm quản lý nhưng thay vào đó, doanh nghiệp có khả
năng phân tán rủi ro kinh doanh trong những người mua cổ phiếu, trái phiếu
doanh nghiệp. Do đó mà chủ đầu tư ít chịu sự rủi ro hơn hình thức FDI.
Kết quả của hoạt động đầu tư gián tiếp là bước chuẩn bị quan trọng cho
việc thu hút và sử dụng hiệu quả vốn FDI.
Bên cạnh đó, đầu tư gián tiếp cũng có những nhược điểm nhất định :
- Nước nhận vốn đầu tư có thể sử dụng sai mục đích, hiệu quả sử dụng vốn
không cao hoặc sử dụng lãng phí để lại gánh nặng nợ nần cho thế hệ sau.
- Với các hình thức mua cổ phần, chủ đầu tư bị hạn chế ở tỷ lệ cổ phần
được phép sở hữu đã làm giảm khả năng thu hút vốn.
- Nước nhận vốn không tiếp thu được công nghệ và kinh nghiệm quản lý.
Với các nước đang phát triển (LDCs), vốn ODA có vai trò to lớn trong
việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển các ngành năng lượng, góp phần
giải quyết tình trạng đói nghèo, lạc hậu, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng
các nguồn vốn khác. Vấn đề đặt ra đối với các LDCs và các tổ chức tài trợ là việc
sử dụng hiệu quả phục vụ mục tiêu phát triển.
2. Các hình thức FDI tại Việt Nam
Luật ĐTNN Việt Nam quy định 3 hình thức FDI vào Việt Nam như sau :
2.1. Doanh nghiệp liên doanh
Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai hoặc nhiều bên hợp tác
thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định giữa chính
phủ Việt Nam với chính phủ nước ngoài; hoặc do doanh nghiệp liên doanh hay
doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hợp tác với các doanh nghiệp khác hoặc chủ
ĐTNN trên cơ sở hợp động liên doanh.
Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo mô hình công ty trách nhiệm
hữu hạn. Mỗi bên chịu trách nhiệm tương xứng với tỷ lệ vốn góp trong liên
- 8 -

doanh. Doanh nghiệp liên doanh có tư cách pháp nhân và được hoạt động từ khi
có giấy phép đầu tư.
Vốn pháp định của liên doanh ít nhất phải bằng 30% vốn đầu tư. Đối với
những doanh nghiệp hoạt dộng trong lĩnh vực chính phủ khuyến khích đầu tư, tỷ
lệ này có thể thấp hơn nhưng không dưới 20% vốn đầu tư.
Tỷ lệ đóng góp của bên nước ngoài do các bên thoả thuận nhưng không
thấp hơn 30% vốn pháp định của liên doanh. Những lĩnh vực chính phủ khuyến
khích đầu tư , tỷ lệ này có thể thấp hơn nhưng không dưới 20% vốn pháp định.
2.2. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu
của nhà ĐTNN lập tại Việt Nam, tự tổ chức quản lý và chịu trách nhiệm về kết
quả hoạt động kinh doanh của mình.
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được thành lập theo hình thức công
ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH), mang tư cách pháp nhân Việt Nam.
Vốn pháp định của doanh nghiệp ít nhất phải bằng 30% vốn đầu tư; trừ
trường hợp đầu tư vào những vùng khó khăn tỷ lệ này có thể thấp đến 20% vốn
đầu tư.
Trong quá trình hoạt động không được giảm vốn pháp định, tăng vốn pháp
định phải xin phép.
2.3. Hợp đồng hợp tác kinh doanh
Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa 2 bên hoặc nhiều bên
quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành
đầu tư kinh doanh ở Việt Nam mà không thành lập pháp nhân.
Thực hiện chính sách khuyến khích ĐTNN tại Việt Nam, Luật ĐTNN và
các luật chuyên ngành quy định nhiều hình thức của hợp đồng hợp tác kinh
doanh. Nhà ĐTNN có thể lựa chọn cách đầu tư phù hợp nhất, đó là :
- Hợp đồng xây dựng – kinh doanh - chuyển giao (BOT) : là văn bản ký
kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam với các nhà ĐTNN để
xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian xác định.
- 9 -

Hết thời hạn, nhà ĐTNN chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho nhà
nước Việt Nam.
- Hợp đồng xây dựng - chuyển giao – kinh doanh (BTO) : là văn bản ký
kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam với nhà ĐTNN để xây
dụng công trình kết cầu hạ tầng, sau khi xây dựng xong, nhà ĐTNN chuyển giao
công trình đó cho nhà nước Việt Nam, chính phủ Việt Nam dành cho nhà đầu tư
quyền kinh doanh công trình đó trong một thời gian xác định để thu hút vốn và
lợi nhuận hợp lý.
- Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT) : là văn bản ký kết giữa cơ quan
nhà nước có thẩm quyền với nhà ĐTNN để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng.
Sau khi xây dựng xong, nhà ĐTNN chuyển giao công trình đó cho nhà nước Việt
Nam, chính phủ Việt Nam tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để
thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý.
- Hợp đồng phân chia sản phẩm (PSC) : là văn bản ký kết giữa pháp
nhân Việt Nam với nhà ĐTNN để xây dựng các công trình nhằm tìm kiếm và
khai thác dầu mỏ và các khoáng sản theo uỷ quyền của chính phủ, nếu phát hiện
dầu mỏ hay khoáng sản thì được phép liên kết với cơ quan nhà nước có thẩm
quyền hoặc các pháp nhân kinh tế được uỷ quyền khai thác và phân chia sản
phẩm trong khoảng thời gian xác định theo hợp đồng.
Các hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh tại Việt Nam ngày càng đa
dạng đảm bảo tính thông thoáng, phù hợp với thông lệ quốc tế nhằm tạo điều
kiện thu hút ngày càng nhiều và sử dụng có hiệu quả vốn FDI tại Việt Nam.
II/ Vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam :
1. Quan điểm của Việt Nam trong việc thu hút vốn FDI phát triển kinh tế :
1.1. Đánh giá đúng vị trí quan trọng của vốn FDI trong nền kinh tế quốc
dân
Vốn FDI là bộ phận quan trọng trong cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội. Vốn
FDI không thể thay thế các nguồn vốn khác nhưng có thế mạnh riêng của nó. Rõ
ràng vốn FDI khác với vốn ODA là không gây ra tình trạng nợ nần cho các thế
hệ sau. Trong quan hệ làm ăn với các đối tác nước ngoài, hai bên cùng có lợi và
- 10 -

cùng chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ vốn góp là nguyên tắc cơ bản. Trong quá trình thu
hút vốn FDI cần tránh những quan điểm sai lầm sau :
Thứ nhất, coi nhẹ thậm chí lên án hoạt động FDI như là nhân tố có hại cho
nền kinh tế độc lập tự chủ. Vì lo sợ nguồn vốn này là nguyên nhân gây chệch
hướng xã hội chủ nghĩa tạo nên tâm lý trên ở một số cán bộ cao cấp của nhà
nước, gây khó khăn trong việc thu hút vốn FDI vào Việt Nam. Mọi vấn đề đều có
tính hai mặt, nếu chỉ nhìn thấy mặt hại mà không thấy mặt lợi của hoạt động FDI
là điều cần phê phán. Thu hút nguồn vốn này là nhu cầu bức bách cho phát triển
kinh tế.
Thứ hai, ảo tưởng về tính màu nhiệm của vốn FDI, gán cho nó vai trò tích
cực tự nhiên, bất chấp điều kiện bên trong của đất nước, tách rời những cố gắng
cải thiện môi trường đầu tư. Mặc dù nhiều nước trên thế giới đã coi nguồn vốn
này như là chìa khoá vàng cho tăng trưởng kinh tế. Ngay cả các nước có trình độ
phát triển cao như Mỹ, EU vẫn cần vốn FDI. Nhưng không vì ỷ lại vốn FDI mà
không khai thác tốt các lợi thế bên trong.
1.2. Quan điểm “mở” và “che chắn” trong chính sách thu hút FDI :
Theo kinh nghiệm của các nước trên thế giới, mục tiêu của việc thu hút
FDI có đạt được hay không, còn phụ thuộc vào vấn đề đảm bảo an ninh, chính
trị, kinh tế và xã hội. Để giải quyết mối quan hệ này phải bắt đầu từ cách đặt vấn
đề an ninh kinh tế, chính trị trong quá trình thu hút vốn FDI.
Trong một số trường hợp, vì lợi ích tối đa lợi nhuận, các chủ đầu tư hỗ trợ
tối đa cho việc thực hiện chiến lược chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển đồng
đều các vùng, áp dụng công nghệ tiên tiến, khai thác hơp lý tài nguyên, bảo vệ
môi trường. Nhưng một số nhà ĐTNN đã lợi dụng sự yếu kém của chính phủ các
LDCs về năng lực quản lý, những sơ hở của hệ thống pháp luật để kiếm lời bất
chính.
Thời đại ngày nay, trong các mối quan hệ quốc tế, đặc biệt là quan hệ đầu
tư trực tiếp với nước ngoài, nguyên tắc bình đẳng hai bên cùng có lợi là yêu cầu
khách quan. Do đó, vần đề an ninh được đặt ra và trở nên quan trọng cho cả hai
phía. Đối với các nước tiếp nhận vốn cần có an ninh chính trị, kinh tế không
những phục vụ cho sự phát triển kinh tế, mở rộng quy mô thu hút vốn FDI mà
- 11 -

còn giữ vững độc lập chủ quyền, bảo vệ bản sắc dân tộc, giữ vững định hướng
chính trị.
Do đó, mở cửa hội nhập quốc tế nhưng không quên những biện pháp che
chắn cần thiết. Tư tưởng trên chi phối toàn bộ tinh thần Luật ĐTNN tại Việt
Nam. Một “hành lang” dù có rộng rãi đến đâu vẫn có khuôn khổ của nó. Bên
cạnh những điều khoản thông thoáng có tính chất khuyến khích ĐTNN, thường
có những quy định mang tính che chắn.
Vấn đề đặt ra trong thi hành Luật ĐTNN tại Việt Nam là không để phía
nước ngoài lợi dụng sự rộng rãi để vượt qua khuôn khổ. Mặt khác, cũng không vì
những biện pháp che chắn để đặt ra quá nhiều sự ràng buộc chồng chéo làm giảm
sức hấp dẫn về môi trường đầu tư của nền kinh tế với các nhà ĐTNN. Rộng rãi
hay che chắn, đầu tư phải tính tới lợi ích của hai phía theo nguyên tắc bình đẳng
và thông lệ quốc tế.
1.3. Giải quyết hợp lý mối quan hệ về lợi ích giữa các bên trong quá trình
thu hút FDI :
Xét nhu cầu, khả năng và lợi thế của mỗi bên để có sự phân chia lợi ích
thoả đáng theo nguyên tắc thoả thuận, bình đẳng tự nguyện. Theo nguyên tắc đó,
lợi ích phân phối cho mỗi bên phải thoả mãn :
 Phù hợp với tương quan về nhu cầu và khả năng mỗi bên.
 Có tính đến những điều kiện về môi trường đầu tư, bảo đảm phát
huy có hiệu quả thế mạnh của mỗi bên. Trong đó, điều quan trọng nhất đối với
chủ ĐTNN là vốn được bảo đảm và có lợi nhuận.
Nhằm thực hiện những yêu cầu trên, trong quá trình triển khai dự án FDI
phải chú ý tới những khả năng dẫn tới mâu thuẫn trong nội bộ tổ chức. Mâu
thuẫn đó xuất phát từ sự khác nhau về quan hệ sở hữu vốn.
Vốn nước ngoài chủ yếu có nguồn gốc từ các công ty, tổ chức mang tính
tư nhân trong quan hệ sở hữu. Vì vậy, mọi hành động của các nhà đầu tư đều
nhằm tới lợi ích cao nhất cho họ. Tinh thần làm việc và yêu cầu công việc của họ
rất cao nhằm nâng cao năng suất lao động.
- 12 -

Trong khi đó, bên Việt Nam chủ yếu là các doanh nghiệp Nhà nước, vốn
thuộc sở hữu Nhà nước. Quyền sử dụng vốn tách rời quyền sở hữu. Những chính
sách hiện hành chưa trở thành động lực cho đội ngũ lãnh đạo phía Việt Nam
trong liên doanh phát huy được năng lực cao nhất. Ngoài ra, kinh nghiệm và tính
năng động của phía Việt Nam cần tránh những quan điểm mơ hồ khi thu hút FDI
 Không muốn trả giá, chỉ đứng về lợi ích của bên mình, muốn ăn cả,
điều này trái với nguyên tắc hai bên cùng có lợi. Hậu quả là không thể thu hút
FDI vào Việt Nam.
 Trả giá không tính toán, trả bất cứ giá nào miễn là tranh thủ được
vốn và công nghệ mà không tính tới hiệu quả kinh tế và mặt trái của FDI.
1.4. Hiệu quả kinh tế được coi là tiêu chuẩn cao nhất trong thu hút FDI
Thông thường, các chủ ĐTNN chỉ quan tâm đến hiệu quả tài chính. Vấn đề
quan tâm của các nhà ĐTNN là doanh thu, chi phí… Do đó, để thu hút vốn FDI,
nước sở tại cần tạo điều kiện cho nhà đầu tư thu được lợi nhuận hợp lý.
Tuy nhiên, trên giác độ nền kinh tế quốc dân và quản lý nhà nước, dự án
FDI được phê duyệt không chỉ có hiệu quả tài chính cho chủ đầu tư mà còn phải
có hiệu quả kinh tế. Hiệu quả kinh tế phản ánh lợi ích nền kinh tế thu được lớn
hơn những hao phí về nguồn lực.
Trong điều kiện nền kinh tế nước ta còn kém phát triển, dự án FDI nhìn
chung phải đáp ứng được các yêu cầu : vốn, công nghệ, tri thức, kinh nghiệm
quản lý, giải quyết việc làm và tạo ra thu nhập cho người lao động, đáp ứng nhu
cầu của xã hội. Trong các yêu cầu trên, với điều kiện hiện tại, mục tiêu tạo nhiều
cơ hội việc làm được chính phủ ưu tiên. Điều đó có nghĩa là công nghệ sử dụng
nhiều lao động được khuyến khích phát triển. Đây cũng là điều kiện cho việc tích
luỹ vốn cho phát triển ở bước tiếp theo. Tuy vậy, ở một số ngành mũi nhọn, việc
áp dụng công nghệ tiên tiến là cần thiết nhằm khai thác hiệu quả tài nguyên thiên
nhiên và tăng sức cạnh tranh.
1.5. Đa dạng hoá hình thức FDI :
Thu hút vốn FDI dưới nhiều hình thức nhằm tạo điều kiện cho các nhà
ĐTNN dễ dàng trong kinh doanh vì lợi ích của họ và của Việt Nam. Vì lợi ích
- 13 -

quốc gia, hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh và doanh nghiệp liên doanh ít
chịu các điều kiện ràng buộc hơn doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Hình thức
hợp đồng hợp tác kinh doanh ngày càng được đa dạng trong phương thức thực
hiện. Chính phủ khuyến khích các nhà đầu tư vào khu chế xuất, khu công nghiệp.
Mỗi hình thức đầu tư đều có điểm mạnh và điểm yếu. Việc lựa chọn hình
thức cụ thể tuỳ thuộc vào mục tiêu của đối tác và điều kiện của Việt Nam. Đa
dạng hoá hình thức đầu tư phải gắn với quản lý chặt chẽ của nhà nước. Quản lý
nhà nước được thực hiện ngay từ việc quy hoạch sử dụng vốn nước ngoài và
trong quá trình triển khai thực hiện dự án đầu tư.
2. Vai trò của nguồn vốn FDI đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam
2.1. Là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho công cuộc phát triển kinh tế :
Kinh tế học hiện đại thống nhất với quan điểm của mô hình Harrod –
Domar về mối quan hệ giữa vốn đầu tư và tăng trưởng kinh tế được thể hiện theo
công thức rút gọn sau :
k
ICOR
k
S
k
g
1−
=
Trong đó : g
k

: tốc độ tăng trưởng của GDP thời kỳ kế hoạch
s
k-1
: tỷ lệ tiết kiệm thời kỳ trước thời kỳ kế hoạch
ICOR
k
: hệ số gia tăng giữa vốn và sản lượng kỳ kế hoạch
Hệ số ICOR ít thay đổi trong năm và có thể dự báo được dựa vào xu
hướng thay đổi công nghệ. Như vậy, tốc độ tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào tỷ
lệ tiết kiệm thời kỳ k-1 trước thời kỳ kế hoạch (k). Giả sử toạn bộ tiết kiệm được
giành cho đầu tư thì vốn đầu tư có vai trò quyết định tới tốc độ tăng trưởng kinh
tế. Vốn đầu tư phát triển nền kinh tế quốc dân được lấy từ 2 nguồn trong và ngoài
nước. Theo quan điểm của nhà nước Việt Nam, vốn trong nước là quyết định,
vốn nước ngoài là quan trọng.
Nguồn vốn nước ngoài tạo ra lực phát triển mạnh mẽ cho nền kinh tế : các
dự án ĐTNN hiện chiếm 35% giá trị sản lượng công nghiệp của Việt Nam; cụ
thể : khu vực ĐTNN chiếm 100% các dự án khai thác dầu thô, sản xuất lắp ráp ô
- 14 -

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét