Thứ Hai, 14 tháng 4, 2014

tìm hiểu một số hợp chất thứ cấp có khả năng trị bệnh ung thư


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "tìm hiểu một số hợp chất thứ cấp có khả năng trị bệnh ung thư": http://123doc.vn/document/1044727-tim-hieu-mot-so-hop-chat-thu-cap-co-kha-nang-tri-benh-ung-thu.htm


SVTH: LÊ THỊ ANH THI GVHD: BÙI VĂN THẾ VINH
Tìm hiểu một số hợp chất thứ cấp có khả năng trò bệnh ung thư
Nhiều nhà X quang đầu tiên của thế giới đã không biết tác hại to lớn của
tia X đối với cơ thể. Họ đã không biết tự bảo vệ và nhiều người trong số họ mắc
ung thư da và bạch cầu cấp.
Ung thư bạch cầu cấp có tỷ lệ khá cao ở những người sống sót sau vụ thả
bom nguyên tử của Mỹ ở hai thành phố Nagasaki và Hiroshima năm 1945. Gần
đây, người ta đã ghi nhận khoảng 200 thiếu niên ung thư tuyến giáp và Leucemie
sau vụ nổ ở nhà máy điện nguyên tử Chernobyl. Tác động của tia phóng xạ gây
ung thư ở người phụ thuộc ba yếu tố:
− Tuổi tiếp xúc càng nhỏ càng nguy hiểm (nhất là bào thai). Việc sử dụng
siêu âm chuẩn đoán các bệnh thai nhi thay cho X quang là tiến bộ rất lớn
− Mối liên hệ liều - đáp ứng
− Cơ quan bò chiếu xạ: Các cơ quan như tuyến giáp, tủy xương rất nhạy cảm
với tia xạ.
* Bức xạ cực tím:
Tia cực tím có trong ánh sáng mặt trời. Càng gần xích đạo tia cực tím
càng mạnh. Tác nhân này chủ yếu gây ra ung thư ở da. Những người làm việc
ngoài trời như nông dân và thợ xây dựng, công nhân làm đường có tỷ lệ ung thư
tế bào đáy và tế bào vảy ở vùng da hở (đầu, cổ, gáy) cao hơn người làm việc
trong nhà. Đối với những người da trắng sống ở vùng nhiệt đới, tỷ lệ ung thư hắc
tố cao hơn hẳn người da màu. Cần phải lưu ý trào lưu tắm nắng thái quá ở người
da trắng chòu ảnh hưởng nhiều tia cực tím. Trẻ em cũng không nên tiếp xúc nhiều
với tia cực tím.
1.1.2.2. Thuốc lá
Thuốc lá là nguyên nhân của khoảng 90% ung thư phế quản. Tính chung
thuốc lá gây ra khoảng 30% trong số các trường hợp ung thư chủ yếu là phế quản
và một số ung thư vùng mũi họng, ung thư tụy, ung thư đường tiết niệu. Trong
5
SVTH: LÊ THỊ ANH THI GVHD: BÙI VĂN THẾ VINH
Tìm hiểu một số hợp chất thứ cấp có khả năng trò bệnh ung thư
khói thuốc lá chứa rất nhiều chất hydrocarbon thơm. Trong đó, phải kể đến chất
3,4-Benzopyren là chất gây ung thư trên thực nghiệm.
Qua thống kê cho thấy người hút thuốc lá có nguy cơ mắc ung thư phế
quản gấp 10 lần người không hút. Nếu nghiện nặng hút trên 20 điếu/ ngày nguy
cơ mắc bệnh cao hơn từ 15-20 lần ở người không hút. Hút thuốc ở tuổi càng trẻ
càng có nguy cơ cao. Hút thuốc lá nâu có nguy cơ cao hơn thuốc lá vàng. Việt
Nam, hút thuốc lào, ăn trầu thuốc cũng có nguy cơ cao hơn, kể cả ung thư khoang
miệng.
Đối với người đang nghiện mà bỏ hút thuốc cũng giảm được nguy cơ. Phụ
nữ hút thuốc, đặc biệt là phụ nữ châu Âu hút nhiều và nghiện như nam giới. Tỷ lệ
số người hút thuốc cao phần nào giải thích tỷ lệ ung thư phổi và ung thư tụy tăng
cao.
Những người không hút thuốc mà sống trong một khoảng không gian hẹp
với người hút thuốc, khói thuốc cũng có nguy cơ gây ung thư. Được gọi là hút
thuốc thụ động. Điều lưu ý đặc biệt là trẻ em nhiễm khói thuốc là rất nguy hại
1.1.2.3. Dinh dưỡng
Dinh dưỡng đóng vai trò khoảng 35% trong các nguyên nhân gây bệnh
ung thư. Nhiều bệnh ung thư có liên quan đến dinh dưỡng như ung thư thực quản,
ung thư dạ dày, ung thư gan, ung thư đại trực tràng, ung thư vòm mũi họng, ung
thư vú, ung thư nội tiết,…
Mối liên quan giữa dinh dưỡng với ung thư được thể hiện ở hai khía cạnh
chính: Trước hết là sự có mặt của các chất gây ung thư có trong các thực phẩm,
thức ăn, vấn đề thứ hai có liên quan đến sinh bệnh học ung thư là sự hiện diện
của các chất đóng vai trò làm giảm nguy cơ sinh ung thư (vitamin, chất xơ…) đồng
thời sự mất cân đối trong khẩu phần ăn cũng là một nguyên nhân sinh bệnh.
Các chất gây ung thư chứa trong thực phẩm, thức ăn:
6
SVTH: LÊ THỊ ANH THI GVHD: BÙI VĂN THẾ VINH
Tìm hiểu một số hợp chất thứ cấp có khả năng trò bệnh ung thư
Nitrosamin và các hợp chất N-Nitroso khác, là những chất gây ung thư thực
nghiệm trên động vật. Những chất này thường có mặt trong thực phẩm với một
lượng nhỏ. Các chất nitrit và nitrat thường có tự nhiên trong các chất bảo quản
thòt, cá và các thực phẩm chế biến. Tiêu thụ nhiều thức ăn có chứa nhiều nitrit,
nitrat có thể gây ra ung thư thực quản, dạ dày. Những nghiên cứu đã chỉ ra rằng
các loại thực phẩm ướp muối, hay ngâm muối như cá muối có hàm lượng
nitrosamine cao. Các nước khu vực Đông Nam Á thường tiêu thụ loại thực phẩm
này có liên quan đến sinh bệnh ung thư vòm mũi họng. Các nhà khoa học Nhật
Bản chỉ ra việc tiêu thụ nước mắm, chứa một hàm lượng nitrosamine cao, liên
quan đến ung thư dạ dày.
Aflatoxin sinh ra từ nấm mốc Aspergillus flavus. Đây là một chất gây ra
bệnh ung thư gan, bệnh phổ biến ở các nước nhiệt đới. Loại nấm mốc này thường
có ở các ngũ cốc bò mốc nhất là lạc mốc.
Sử dụng một số phẩm nhuộm thực phẩm, có thể gây ra ung thư, như chất
Paradimethyl Amino Benzen dùng để nhuộm bơ thành “bơ vàng” có khả năng
gây ung thư gan. Tại các nước này sử dụng các phẩm nhuộm thức ăn cũng như
các chất phụ gia được kiểm duyệt rất nghiêm ngặt để đảm bảo an toàn thực
phẩm. Các thực phẩm có chứa các dư lượng, tàn tích của các thuốc trừ sâu, không
chỉ có thể gây ra ngộ độc cấp tính mà còn có khả năng gây ung thư.
Một số cách nấu ăn và bảo quản thực phẩm có thể tạo ra chất gây ung
thư. Những thức ăn hun khói có thể bò nhiễm benzopyren. Việc nướng trực tiếp
thòt ở nhiệt độ cao có thể sẽ tạo ra một số sản phẩm có khả năng gây đột biến gen
Khẩu phần bữa ăn đóng vai trò quan trọng trong gây bệnh ung thư nhưng
ngược lại, có thể lại làm giảm nguy cơ gây ung thư. Có mối liên quan giữa bệnh
ung thư đại trực tràng với chế độ ăn nhiều mỡ, thòt động vật. Chế độ ăn mỡ, thòt
7
SVTH: LÊ THỊ ANH THI GVHD: BÙI VĂN THẾ VINH
Tìm hiểu một số hợp chất thứ cấp có khả năng trò bệnh ung thư
gây ung thư qua cơ chế làm tiết nhiều acid mật, chất ức chế quá trình biệt hóa của
các tế bào niêm mạc ruột.
Trong hoa quả và rau xanh chứa nhiều chất vitamin và chất xơ. Các chất
xơ làm hạn chế sinh ung thư do chất xơ thúc đẩy nhanh lưu thông ống tiêu hóa
làm giảm thời gian tiếp xúc của các chất gây ung thư với niêm mạc ruột, mặt
khác bản thân chất xơ có thể gắn và cố đònh các chất gây ung thư để bài tiết theo
phân ra ngoài cơ thể. Các loại vitamin A, C, E làm giảm nguy cơ ung thư biểu mô,
ung thư dạ dày, ung thư thực quản, ung thư phổi,… thông qua quá trình chống oxy
hóa, chống gây đột biến gen.
1.1.2.4. Những yếu tố nghề nghiệp
Khi làm việc trong môi trường nghề nghiệp con người tiếp xúc với cả bức
xạ ion hóa và virus, nhưng những tác nhân sinh ung thư quan trọng nhất trong
nghề nghiệp chính là các hóa chất được sử dụng. Ước tính nhóm nguyên nhân này
gây ra khoảng từ 2 đến 8% số ung thư tùy theo mỗi khu vực công nghiệp. Ngày
nay do công nghiệp hóa phát triển mạnh mẽ, ung thư nghề nghiệp không chỉ có ở
các nước đã phát triển mà còn ở các nước đang phát triển. Các ung thư do nghề
nghiệp, thường xảy ra ở các cơ quan tiếp xúc trực tiếp như da và đặc biệt là cơ
quan hô hấp, ngoài ra phải kể đến ung thư ở cơ quan có nhiệm vụ bài tiết các
chất chuyển hóa còn hoạt tính như ở đường tiết niệu.
Ung thư nghề nghiệp đã được đề cập từ lâu, vào năm 1775, Percival Pott,
bác sỹ người Anh đã lưu ý các trường hợp ung thư biểu mô da bìu ở người thợ làm
nghề nạo ống khói hoặc khi ở tuổi thiếu niên làm nghề này. Các thợ này thường
mặc một loại quần kiểu bảo hộ lao động có các chất bồ hóng dính bết ở quần là
nguyên nhân sinh ra loại ung thư trên. Ngày nay, do xã hội phát triển nên nhiều
ngành công nghiệp khác có liên quan với một số ung thư, chẳng hạn như sử dụng
asbestos có nguy cơ xuất hiện ung thư màng phổi do người thợ hút bụi amian gây
8
SVTH: LÊ THỊ ANH THI GVHD: BÙI VĂN THẾ VINH
Tìm hiểu một số hợp chất thứ cấp có khả năng trò bệnh ung thư
xơ hóa phổi lan tỏa và dày màng phổi. Sợi asbestos là nguyên nhân chính gây
ung thư trung mô màng phổi. Ung thư bàng quang cũng là loại ung thư hay gặp
trong nhóm nguyên nhân nghề nghiệp. Cuối thế kỷ XIX người ta đã gặp các
trường hợp ung thư bàng quang ở những người thợ nhuộm do tiếp xúc với aniline.
Aniline có lẫn tạp chất chứa 4-amindiphenye, và 2-aphthylamin gây ung thư. Các
chất này được hít vào qua đường thở và thải qua đường niệu gây ung thư bàng
quang. Chất benzene có thể gây chứng suy tủy và trong số đó có một số biểu hiện
bệnh ung thư bạch cầu tủy cấp. Ngoài ra, nó có thể gây bệnh đa u tủy xương và u
lympho ác tính. Còn nhiều loại chất hóa học nghề nghiệp khác có nguy cơ ung
thư, đặc biệt là các nghề liên quan với công nghiệp hóa dầu, khai thác dầu do tiếp
xúc các sản phẩm thô của dầu mỏ hoặc chất nhờn có chứa hydrocacbon thơm,…
1.1.2.5. Các tác nhân sinh học
* Virus sinh ung thư:
Có bốn loại virus liên quan đến cơ chế sinh bệnh ung thư:
 Virus Epstein – Barr
Loại ung thư này đầu tiên thấy có mặt là bệnh ung thư hàm dưới của trẻ
em vùng Uganda (loại bệnh này do Eptein và Barr phân lập nên virus này được
mang tên virus Eptein-Barr). Về sau người ta còn phân lập được loại virus này ở
trong các khối ung thư vòm mũi họng, bệnh có nhiều ở các nước ven Thái Bình
Dương đặc biệt là ở Quảng Đông-Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á,
trong đó có Việt Nam. nhiều bệnh nhân ung thư vòm còn thấy kháng thể chống
lại kháng nguyên của virus Epstein-Barr. Tuy nhiên, người ta chưa khẳng đònh vai
trò gây bệnh trực tiếp của virus Epstein-Barr đối với ung thư vòm mũi họng.
Trong cộng đồng tỷ lệ nhiễm loại virus này tương đối cao nhưng số trường hợp
ung thư vòm không phải là nhiều. Hướng nghiên cứu về virus Epstein-Barr đang
còn tiếp tục và đặc biệt ứng dụng phản ứng IgA kháng VCA để tìm người có nguy
cơ cao nhằm chủ động phát hiện sớm ung thư vòm mũi họng.
9
SVTH: LÊ THỊ ANH THI GVHD: BÙI VĂN THẾ VINH
Tìm hiểu một số hợp chất thứ cấp có khả năng trò bệnh ung thư
 Virus viêm gan B gây ung thư gan nguyên phát hay gặp ở châu Phi và
châu Á trong đó có Việt Nam. Virus này khi thâm nhập cơ thể gây viêm gan cấp,
kể cả nhiều trường hợp thoáng qua. Tiếp theo là một thời kỳ dài viêm gan mạn
tiến triển không có triệu chứng. Tổn thương này qua một thời gian dài sẽ dẫn đến
hai biến chứng quan trọng đó là xơ gan toàn bộ và ung thư tế bào gan. Điều này
phần nào giải thích sự xuất hiện nhiều ổ nhỏ trong ung thư gan và tính chất tái
phát sớm sau cắt gan. Ngoài ra, xơ gan đã làm cho tiên lượng của bệnh ung thư
gan xấu đi rất nhiều. Việc khẳng đònh virus viêm gan B gây ung thư gan giữ vai
trò rất quan trọng. Nó mở ra một hướng phòng bệnh tốt bằng cách tiêm chủng
chống viêm gan B. Phát hiện những người mang virus bằng xét nghiệm HBsAg
(+) và những người này nên dùng vacxin
 Virus gây u nhú thường truyền qua đường sinh dục. Loại này được coi
là có liên quan đến các ung thư vùng âm hộ, âm đạo và cổ tử cung, các nghiên
cứu đang tiếp tục.
 Virus HTLV1 là loại virus (retrovirus) liên quan đến gây bệnh bạch
cầu tế bào T gặp ở Nhật Bản và vùng Caribê.
* Ký sinh trùng và vi khuẩn có liên quan đến ung thư:
Chỉ một loại ký sinh trùng được coi là nguyên nhân ung thư, đó là sán
Schistosoma. Loại sán này thường có mặt với ung thư bàng quang và một số ít ung
thư niệu quản ở những người Ả Rập vùng Trung Đông, kể cả người Ả Rập di cư.
Cơ chế sinh ung thư của loại sán này chưa được giải thích rõ.
Loại vi khuẩn đang được đề cập đến vai trò gây viêm dạ dày mạn tính và
ung thư dạ dày là vi khuẩn Helicobacter-Pylori. Các nghiên cứu đang được tiếp
tục nhằm mục đích hạ thấp tác hại Helicobacter-Pylori và giảm tần số ung thư dạ
dày, đặc biệt là ở các nước Châu Á.
1.1.2.6. Yếu tố di truyền và suy giảm miễn dòch
* Yếu tố di truyền:
10
SVTH: LÊ THỊ ANH THI GVHD: BÙI VĂN THẾ VINH
Tìm hiểu một số hợp chất thứ cấp có khả năng trò bệnh ung thư
Nguyên nhân của khoảng 33% ung thư trên người ngày nay đã được biết
và các yếu tố môi trường được cho là giữ vai trò quan trọng ở phần lớn bệnh ung
thư. Như vậy yếu tố di truyền không phải không quan trọng bởi lẽ có nhiều thông
tin về các yếu tố môi trường. Có lẽ phần lớn sự phát triển của ung thư ở cả hai
yếu tố môi trường và yếu tố di truyền đều quan trọng. Ví dụ: một vài nghiên cứu
về enzyme hydrocarbon-hydroxylase, một enzym cần cho sự chuyển hóa
hydrocarbon từ khói thuốc, gợi ý rằng sự hiện hữu của loại enzyme này trong
phổi con người, về mặt di truyền có thể bò kiểm soát bởi 1 gen đơn với cặp allen
cao (H) và thấp (L). so với những người mang LL những người HH có nguy cơ bò
ung thư phổi gấp 36 lần nhiều hơn. Như vậy, ngay cả trong ung thư phổi (ung thư
sinh ra từ môi trường quan trọng nhất cho tới thời điểm hiện tại), có thể yếu tố di
truyền có ý nghóa. Những thông tin mới đây liên hệ đến chứng xeroderma
pigmentosum (một bệnh di truyền cổ điển) chỉ rằng bảo vệ chống lại các bức xạ
của mặt trời có thể phòng được sự phát triển của ung thư da ở những đối tượng
mắc bệnh này.
Một số tình huống về mặt di truyền: 80-90% người sẽ bò ung thư do họ
mang gen gây hại. U Wills, u nguyên bào võng mạc hai mắt và những bệnh nhân
mang chứng đa polyp có tính chất gia đình là thí dụ về các loại ung thư truyền
theo tính trội theo mô hình của Mendel. Các loại ung thư này có thể chỉ là biểu
hiện của khuyết tật về di truyền (ví dụ u nguyên bào võng mạc mắt hai bên) nay
có thể là một phần của các rối loạn mang tính hệ thống của nhiều loại tân sản
hay nhiều khuyết tật phát triển (ví dụ hội chứng carcinôm tế bào đáy dạng nêvi).
Thêm vào đó, có một hội chứng tiền ung thư mang tính di truyền (hỗn
loạn sự phát triển truyền theo thế hệ) thường có dưới 10% biểu hiện ác tính. Có
năm hội chứng hay gặp:
11
SVTH: LÊ THỊ ANH THI GVHD: BÙI VĂN THẾ VINH
Tìm hiểu một số hợp chất thứ cấp có khả năng trò bệnh ung thư
- Hội chứng u mô thừa (bệnh đa u xơ thần kinh, xơ cũ, bệnh Hippel-
Lindau
- Đa u lồi của xương, hội chứng Peutz-Jeghers): Tính trội của nhiễm sắc
thể với các dò dạng giả u ở một số cơ quan với một số biểu hiện của sự biệt hóa
không đầy đủ và ngả về các loại u khác nhau.
- Bệnh da có nguồn gốc gen (xeroderma pigmentosum, bạch tạng loạn
sản biểu bì dạng mục cóc, loạn sản sừng bẩm sinh và hội chứng Werner): tính lặn
của nhiễm sắc thể, với nhiều rối loạn của da làm tiền đề cho ung thư da. Hội
chứng loạn sản nêvi là hội chứng trội đựơc khám phá mới đây tiền đề của
mêlanôm ác.
- Hội chứng dễ vỡ của nhiễm sắc thể trong nuôi cấy tế bào (hội chứng
Bloom và thiếu máu bất sản Fanconi): tính lặn của nhiễm sắc thể đặc thù làm
tiền đề cho bệnh bạch cầu.
- Hội chứng suy giảm miễn dòch đưa đến lymphôm thể võng (hội chứng
Wiscott-Aldrich, tính trội liên kết với tia X, giảm mạch máu điều hòa, tính lặn
của thể nhiễm sắc, các dò dạng bẩm sinh ít gặp với sự suy giảm miễn dòch trầm
trọng phối hợp).
Các hội chứng dò dạng thuộc ung thư có thể nhập lại thành các loại khác.
Với một số khuyết tật bẩm sinh người bệnh có nguy cơ mắc bệnh cao hơn nhiều
mức độ trung bình, có khi nhiều hơn 1000 lần.
Trước đây, phương pháp khảo sát các bất thường về cấu trúc liên quan
đến ung thư còn bò giới hạn ở việc khám phá những bất thường nhiễm sắc thể như
ba nhiễm sắc 21, 13q, del, dính với u nguyên bào võng mạc mắt hoặc 11, del, liên
hệ với u Wilm. thời điểm hiện tại con người có thể tìm đặc điểm đa dạng của
oncogen hay các chuỗi DNA đặc hiệu tiêu biểu cho các chất đánh dấu tính
“nhạy” của ung thư. Các hệ thống mang tính tương đối của các chất đánh dấu di
12
SVTH: LÊ THỊ ANH THI GVHD: BÙI VĂN THẾ VINH
Tìm hiểu một số hợp chất thứ cấp có khả năng trò bệnh ung thư
truyền dựa trên sự phát hiện trực tiếp của tính đa dạng của chuỗi DNA với các
men ức chế (RFLP). Người ta có thể lập ra bản đồ liên kết gen chi tiết ở người
bằng cách dựa vào các hệ thống vừa nêu. Thể di truyền mới xác lập bởi các
mảnh của dòng DNA với những biểu hiện của gen đặc thù hoặc không mà chức
năng thì không được biết. Người ta có thể đònh vò gen trong bệnh đa polyp mang
tính gia đình ở nhiễm sắc thể số 5, trong bệnh Von Reclinghausen ở nhiễm sắc
thể số 17, trong ung thư đa ổ có nguồn gốc nội tiết ở nhiễm sắc thể số 10 (MEN-
2A) hoặc nhiễm sắc thể số 11 (MEN-1). Những người mang gen trong các hội
chứng trên có thể được xác đònh bằng sàng lọc DNA qua phân tích mối liên kết
gen với nhau. Thí dụ: ở u nguyên bào võng mạc mắt người ta xác đònh được gen
gây bệnh và được chỉ rõ cho một phần của một lớp gen mới (gen kháng ung thư)
và chính gen này kiềm chế sự tạo lập tế bào.
1.1.2.7. Suy giảm miễn dòch và AIDS
Trên động vật thực nghiệm, sự gia tăng về mối nguy cơ bò ung thư đi đôi
với sự suy giảm miễn dòch. Người bò suy giảm miễn dòch mang tính duy truyền
hay mắc phải thường dễ bò ung thư và thời gian ủ bệnh ngắn hơn, chủ yếu là bệnh
lymphôm hệ võng.
những bệnh nhân ghép cơ quan-sự suy giảm miễn dòch do thuốc rõ nhất.
Theo dõi trong một thời gian dài 16.000 bệnh nhân ghép thận và được điều trò
bằng các loại thuốc ức chế miễn dòch người ta thấy nguy cơ bệnh lymphôm không
Hodgkin tăng 32 lần, ung thư gan và đường mật trong gan tăng 30 lần, ung thư
phổi tăng hai lần, ung thư bàng quang hơn năm lần, ung thư cổ tử cung gần năm
lần, các mêlanôm ác và ung thư tuyến giáp tăng lên bốn lần. Sự đè nén miễn dòch
cũng còn làm tăng nguy cơ nhiễm virus, cả hai loại virus gây ung thư và những
loại bò nghi ngờ.
13
SVTH: LÊ THỊ ANH THI GVHD: BÙI VĂN THẾ VINH
Tìm hiểu một số hợp chất thứ cấp có khả năng trò bệnh ung thư
Sự gia tăng các tế bào lymphôm B ác tính, biến chứng của sự suy giảm
miễn dòch nó là hậu quả của sự nhân lên hỗn độn của các tế bào B nhiễm EBV
gia tăng rối loạn tạo lymphôm đa dòng và được xếp vào lymphôm không Burkitt
loại lan tỏa. Chủ yếu bệnh xảy ra sau suy giảm miễn dòch thứ phát, trong ghép cơ
quan thì là do dùng thuốc, trong suy giảm miễn dòch là do nhiễm HIV, AIDS.
Bệnh sinh của loại bệnh này được hiểu rõ trong những năm gần đây. Nhưng nó
vẫn là một trong những biến chứng chủ yếu liên hệ với sự ức chế miễn dòch.
Người có HIV dương tính có nguy cơ cao bò sarcôm Kaposi và lymphom
không Hodgkin (NHL). Sarcôm Kaposi có thể xảy ra bất cứ lúc nào sao khi bò
nhiễm HIV. Trái lại NHL có khuynh hướng xuất hiện trên cơ đòa suy giảm miễn
dòch trầm trọng. người bò nhiễm HIV, nguy cơ này gia tăng khoảng 6% mỗi
năm trong vòng 9-10 năm.
Điều này được biết rõ qua những nghiên cứu theo dõi những người nhiễm
HIV (nam đồng tính luyến ái, người mắc bệnh máu không đông bò nhiễm HIV do
truyền máu) và qua các dữ kiện tương ứng về nhiễm HIV và ghi nhận ung thư.
Nguy cơ xuất hiện sarcôm Kaposi cũng có liên quan đến cách thức nhiễm HIV
mắc phải. Trong khi một phần năm nam đồng tính luyến ái có nguy cơ bò sarcôm
Kaposi thì chỉ có khoảng một phần ba mươi người bò nhiễm HIV qua người mẹ
hoặc trong thời kỳ chu sinh. Nhận đònh này và các quan sát dòch tễ học khác giúp
đưa đến kết luận là sarcôm Kaposi có liên quan đến tác nhân thường lây nhiễm
qua quan hệ tình dục và có lẽ cùng một tác nhân như trong các ca xuất hiện riêng
lẻ hoặc các ca có liên hệ AIDS (SIDA).
Có một số thông tin mang tính chất bên lề gợi ý nhiễm HIV có thể làm
tăng nguy cơ mắc bệnh Hodgkin (loại tế bào hỗn hợp), ung thư hậu môn, ung thư
gan và ung thư cổ tử cung. Điều này cần được làm rõ thêm. Điều quan trọng cần
lưu ý là sự gia tăng mỗi loại ung thư riêng lẻ kể trên đã chứng minh hoặc gợi ý có
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét