Thứ Năm, 10 tháng 4, 2014

một số giải pháp nhằm hạn chế và khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tới việt nam


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "một số giải pháp nhằm hạn chế và khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tới việt nam": http://123doc.vn/document/1047595-mot-so-giai-phap-nham-han-che-va-khac-phuc-anh-huong-tieu-cuc-cua-cuoc-khung-hoang-toi-viet-nam.htm


Đề án môn học Lê Thanh Hải QLKT 40A
Ngay từ năm 1996, đã xuất hiện những dấu hiệu về một khủng hoảng tiền tệ,
tài chính ở các nớc Thái Lan, Inđônêsia, Malaysia, Philippin. Những dấu hiệu này
là : mức tăng trỡng xuất khẩu đã giảm mạnh trong năm 1996, ở Thái Lan chỉ còn
6% so với mức 20% mỗi năm trong thời kỳ 1985 - 1995. Nợ bằng USD của ngân
hàng nớc ngoài ở bốn nớc trên đến cuối năm 1996 đã chiếm từ 15-37% GDP, trong
đó số nợ phải đáo hạn trong mời hai tháng chiếm tỷ lệ khá cao khoảng 50-70%. D
nợ ngân hàng tăng cao 50-110% GDP do ngân hàng của bốn nớc trên vay USD với
lãi suất thấp và tái cho vay bằng nội tệ với lãi suất cao. Nhiều chuyên gia đã cảnh
báo với chiều hớng xấu đi này của nền kinh tế. Nhng vì trong năm 1996 tốc đọ tăng
trởng còn cao, dự trữ ngoại tệ cha suy giảm nên chính phủ các quốc gia này đã cha
tính tới việc áp dụng các biện pháp đủ mạnh để ngăn chặn chiều hớng xấu đi trên
đây.
Đến năm 1997 tình hình kinh tế xấu đi nhanh chóng hơn. Mức xuất khẩu giảm
mạnh hơn, thâm hụt cán cân thơng mại nghiêm trọng hơn. Nợ nớc ngoài của Thái
Lan lên đến 85 tỷ USD, gấp ba lần dự trữ ngoại tệ. Trong đó, nợ thơng mại chiếm
một tỷ trọng lớn, nợ của khu vực t nhân lên đến 66 tỷ USD, nợ nhà nớc là 21 tỷ
USD. Trong khi đó dự trữ ngoại tệ liên tục giảm, từ 31,6% so với GDP năm 1994
xuống 29,5% năm 1995 và 26,6% năm 1996. Đến cuối tháng 5/1997 ngân hàng
Trung ơng Thái Lan đã phải bỏ ra 5 tỷ USD để bảo đảm giá trị đồng Baht. Trong
tháng 6/1997 Thái Lan phải đóng cửa 40 công ty tài chính.
Dự trữ ngoại tệ giảm sút đột ngột từ 33 tỷ USD trong tháng 4/1997 xuống còn
15 tỷ USD vào cuối tháng 6/1997. Ngân hàng Thái Lan đã cảm thấy sự bất lực của
mình, việc bán USD để giữ giá đồng Baht tỏ ra không hiệu quả nữa. Vào ngày
2/7/1997 ngân hàng trung ơng Thái lan đã quyết định thả nỗi đồng Baht, chấm dứt
thời kỳ dài giữ tỷ giá Baht/USD cố định.
Ngay sau khi chính phủ Thái lan tuyên bố thả nổi, đồng Baht đã mất giá ngay
5-7%, sau đó tiếp tục mất giá và vào thời điểm tháng 1/1998 đã mất giá 110%, mức
kỷ lục trong lịch sử Thái lan.
Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở Thái lan nhanh chóng lan sang các đồng
tiền khác trong khu vực, nhất là các nớc có nền kinh tế tơng đồng nh Inđônêsia,
Malaysia, Philippin, Hàn quốc . . .
Trớc những khó khăn nội tại của nền kinh tế, nhất là sự thâm hụt cán cân vãng
lai và tác động ảnh hởng của khủng hoảng Thái lan và các nớc trong khu vực, ngân
hàng trung ơng Philippin đã bỏ ra 2 tỷ USD để trợ giá cho đồng Pêsô. Nhng biện
pháp này đã không đạt đợc kết quả mong muốn. Trớc sức ép quá lớn của thị trờng,
chỉ sau Thái lan vài ngày tức ngày 7/7/1997 ngân hàng trung ơng Philippin đả phải
5
Đề án môn học Lê Thanh Hải QLKT 40A
tăng lãi suất và ngày 11/7/1997 đã công bố nới rộng biên độ giao động tỷ giá đồng
Pêsô mà thực chất là phá giá đồng tiền. Ngân hàng trung ơng đã phải thừa nhận
rằng họ không thể sử dụng số dự trữ ngoại tệ ít ỏi ( tính đến tháng 4/1997 chỉ có
10.3 tỷ USD) cho việc bảo vệ đồng Pêsô. Sau khi nới rộng tỷ giá, tỷ giá Pêsô so với
USD tăng lên 28.1 Pêsô/USD và đạt đỉnh cao vào cuối tháng 9/1997 là 40
Pêsô/USD.
Đồng Ringgit của Malaysia vốn là đồng tiền tơng đối ổn định. Tuy nhiên cũng
giống đồng Baht của Thái lan, đồng Rupi của Inđônêsia, nó cũng rất nhạy cảm đối
với những biến động bất thờng bắt nguồn từ sự lo ngại về tốc độ tăng trởng quá
nóng của nền kinh tế cộng thêm thâm hụt cán cân vãng lai ở mức độ lớn và kéo dài.
Năm 1996, với sự thành công trong kinh tế của Malaysia, đồng Ringgit đã tăng
lên tới 2.53 RM/USD. Nguyên nhân của sự tăng này là do sự tăng lên của các đồng
vốn đầu t từ bên ngoài. Tuy nhiên vào giữa tháng 4/1997 ngân hàng Negra
Malaysia (BNM) đã can thiệp vào thị trờng để bảo vệ đồng Ringgit khi mà đồng
tiền này bị đầu cơ. Lãi suất cũng tăng trong thời gian này. Đống Ringgit đứng trớc
sức ép rất mạnh về tỷ giá và bắt đầu có dấu hiệu mất giá. Trớc tình hình đó, ngân
hàng Trung ơng đã bỏ ra hàng tỷ USD để bảo vệ đồng Ringgit. Đồng thời lãi suất
cũng đợc kính lên ở mức cao nhất trong vòng mời năm trở lại đây nhằm bảo vệ
đồng tiền và chống lại sự bất ổn của thị trờng ngoại hối. Ngày 15/7/1997 chính phủ
Malaysia đã tuyên bố thả nỗi đồng Ringgit. Ba ngày sau khi tuyên bố, tỷ giá đồng
Ringgit đã lên 2.633 RM/USD tức là mất giá khoảng 88% so với trớc tháng 2/1997.
Mặc dù đồng Rupi của Inđônêsia không bị sức ép căng thẳng nh đồng Pêsô của
Philippin nhng chính phủ Inđônêsia đã công bố nới rộng biên độ tỷ giá từ 8% lên
12% vào tháng 11/1997 với khả năng dự trữ ngoại tệ của Inđônêsia còn hạn chế,
Việc nới rộng biên độ tỷ giá là điều cần thiết nhằm tăng khả năng bảo vệ đồng
Rupi khỏi sự đầu cơ tiền tệ. Sau một tuần mở rộng không can thiệp, tỷ giá tăng lên
mức 2.52 RP/USD và mất giá khoảng 8,25%. Riêng ngày 13/8/1997 ngân hàng
Trung ơng Inđônêsia đã phải bỏ ra 500 triệu USD để giữ đồng Rupi biến động
trong mức 12%. Tuy nhiên biện pháp này cũng tỏ ra không hiệu quả và ngày
14/8/1997 ngân hàng trung ơng Inđônêsia phải tuyên bố thả nỗi đồng Rupi. Ngay
sau đó đồng Rupi bị mất giá liên tục, ở thời điểm thấp nhất là 19000 RP/USD so
với 2648RP/USD ngày 14/8/1997, có nghĩa là mất giá hơn 500%.
Trong các đồng tiền châu á, đồng Đôla Singapore đợc nhận định là vững chắc
hơn cả, nhng tính đến ngày 18/8/1997, đồng Đôla Singapore mất giá khoảng 7% so
với thời điểm 2/7/1997. Sỡ dĩ đồng Đôla Singapore bị ảnh hởng nhẹ bởi vì quốc gia
này đã giữ đợc trong một thời gian dài thặng d trong cán cân thanh toán và cân đối
6
Đề án môn học Lê Thanh Hải QLKT 40A
ngân sách, tiết kiệm nội địa cũng nh dự trữ ngoài tệ khá cao. Chính vì yếu tố đó,
cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ trong khu vực không ảnh hởng nhiều đến đồng
Đôla Singapore.
Bảng tơng quan so sánh nợ nớc ngoài và dự trữ ngoại tệ
của các nớc trong khu vực.
Tên nớc Inđônêsia Malaysia Philippin Singapo Thái lan
Dự trữ ngoại tệ
chính thức (USD)
18.16 25.3 10.3 78.3 31.8
Nợ nớc ngoài
(USD)
109.3 29.0 43.2 0 85.0
Tỷ lệ trả nợ
nớc ngoài (%)
33 6.0 15.0 0 14.0
Nguồn: Tạp chí nghiên cứu kinh tế tháng 1-1998

Trong khu vực Đông Bắc á, giá trị đồng tiền của các nớc đài loan, Hồng Kông,
Hàn Quốc và Nhật Bản đều bị ảnh hởng và giảm ở mức độ khác nhau so với đồng
USD. Thị trờng chứng khoán ở các nớc này cũng chịu ảnh hởng và sụt giá từ 10-
20%.
Trong số các nớc trên thì khủng hoảng ở Hàn Quốc là nặng nề nhất. Đồng
Won mất giá nhanh và liên tục. Ngày 25/12/1997, tỷ giá Won/USD lá 1987, nghĩa
là đồng Won đã mất giá hơn 100% so với đầu tháng 6/1997 (868 Won/USD). Trớc
cuộc khủng hoảng này, bảy tập đoàn kinh tế vào loại hàng đầu của Hàn Quốc nh :
Hanbo, Samni, Jinzo, Diamony lần lợt bị phá sản. 25 ngân hàng thơng mại có liên
quan đến tài trợ vốn cho các tập đoàn bị ảnh hởng và rơi vào tình trạng khó khăn
trong thanh toán.
Sau khi khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở Hàn Quốc nổ ra đã làm cho đồng tiền
của nhiều nớc ở châu á có xu hớng giảm giá tiếp, gây ảnh hởng trực tiếp đến Mỹ và
Nhật, bởi vì 50% kim ngạch xuất khầu của Mỹ là sang các nớc châu á - thái bình d-
ơng, và trong số nợ nớc ngoài của Hàn Quốc thì Nhật chiếm 25%.
Nh vậy, chỉ sau một thời gian ngắn, cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ xảy ra
thì đã có hàng loạt các quốc gia lâm vào khủng hoảng nhng với tính chất, quy mô,
mức độ bị ảnh hởng rất khác nhau tuỳ thuộc vào vị thế, bối cảnh riêng của từng
quốc gia trong quá trình tự do hoá và toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới hiện nay.
7
Đề án môn học Lê Thanh Hải QLKT 40A
ii. nguyên nhân và tác động của cuộc khủng hoảng
1. nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu á
1.1 Nguyên nhân chủ quan
Theo nhận định của nhiều chuyên gia thì nguyên nhân chủ yếu dẫn đến khủng
hoảng xuất phát từ nội tại của nền kinh tế hay nói cách khác đó là chính nhân tố
chủ quan, là ngòi nổ trực tiếp cho cuộc khủng hoảng.
Thứ nhất, thâm hụt tài khoản vãng lai, nền kinh tế phát triển mất cân đối.
Các nền kinh tế ASEAN là những nền kinh tế hớng ngoại dựa vào tăng trởng xuất
khẩu và trên thực tế các nền kinh tế này đã thực hiện đẩy mạnh tăng trởng bằng các
nỗ lực thu hút đầu t nớc ngoài, tăng vay nợ nớc ngoài chứ không phải dựa vào các
nguồn lực trong nớc, cơ cấu xuất khẩu lại đơn điệu, chủ yếu dựa vào các mặt hàng
điện tử và may mặc ( thờng chiếm 30-40% kim ngạch xuất khẩu của các nớc
ASEAN ) và khi nhu cầu của thế giới về các mặt hàng này bị giảm sút thì cán cân
thơng mại của các nớc này bị thâm hụt lớn, gánh nặng nợ nớc ngoài tăng vọt. Mặt
khác, các khoản vay bên ngoài với lại suất thấp đã đợc tập trung chủ yếu cho vay
với lãi suất cao ở hai khu vực không sinh lời và chậm thu hồi vốn là bất động sản và
chứng khoán chứ không phải tập trung cho ngành công nghiệp xuất khẩu. Kết quả
là, hầu hết nền kinh tế ASEAN rơi vào tình trạng thâm hụt lớn về tài khoản vãng
lai. ở Thái lan mức thâm hụt này bằng 8% GDP, Malaysia là 8.6% GDP. Theo tính
toán của IMF nếu mức thâm hụt tài khoản vãng lai của một nền kinh tế nào đó lớn
hơn 5% GDP thì nền kinh tế đó khó tránh khỏi nguy cơ xảy ra một cuộc khủng
hoảng tài chính - tiền tệ. Hơn nữa khi xảy ra thâm hụt cán cân thanh toán và tài
khoản vãng lai con đờng vay nóng các khoản vay ngắn hạn từ nớc ngoài để khắc
phục là cái "án tử hình" đối với nền kinh tế vốn đã bị suy yếu. Có khoảng 47% vốn
vay của ASEAN dới hình thức trung vầ ngắn hạn. Đây là khoản vốn vay mang tính
chất biến động lớn, khi có yếu tố bất lợi chúng sẽ nhanh chóng đợc rút đi và dĩ
nhiên gây sự đảo lộn cho nền kinh tế.
Thứ hai, tỷ giá hối đoái cố định đợc duy trì quá lâu. Các nền kinh tế ASEAN
trong một thời gian tơng đối dài duy trì chính sách tỷ giá hối đoái cố định (Thái lan
là 13 năm) đã khiến cho các đồng tiền ASEAN tăng giá cao một cách không thực
chất so với đồng USD. Các đồng tiền này hầu hết neo giá vào đồng USD, nên khi
đồng USD nâng giá so với đồng Yên chúng đã mất giá 20-30% so với đồng tiền
này. Chính tỷ giá cố định kéo dài tạo ra sự cờng thịnh giả tạo của nền kinh tế, khiến
cho các đồng vốn tiếp tục đỗ mạnh vào các nớc ASEAN thông qua các dòng FDI và
dòng vay ngắn hạn, khi có dấu hiệu đột biến và sự cần thiết phải điều chỉnh tỷ giá,
8
Đề án môn học Lê Thanh Hải QLKT 40A
các dòng vốn này đã lập tức ồ ạt rút ra khỏi ASEAN. Mặt khác sự cao giá không
thực chất của đồng tiền này đã triệt tiêu các động lực kính thích tăng trởng xuất
khẩu vốn đã không lấy gì làm mạnh mẽ của các nớc ASEAN trong thời gian này.
Hơn nữa, chính sách tỷ giá này đặc biệt mâu thuẫn với cơ chế tự do di chuyển vốn
trong các nền kinh tế ASEAN. Đây là sự dị dạng của một cơ chế tài chính - tiền tệ,
làm suy yếu năng lực kiểm soát các dòng vốn. Vì vậy, sau nữa năm với nhiều giải
pháp nh đóng cữa một số công ty tài chính, tiết kiệm chi ngân sách, nhận sự hỗ trợ
từ bên ngoài các nền kinh tế này chẳng những không khắc phục đợc sự mất giá cũ
mà các đợt mất giá mới vẫn tiếp tục diễn ra. Qua phân tích cho thấy vấn đề tỷ giá là
rất nhạy cảm nó giữ vai trò rất quan trọng đối nền kinh tế.
Thứ ba, hệ thống tài chính - ngân hàng hoạt động yếu kém, quản lý ngoại
hối lõng lẻo. Hệ thống tài chính - ngân hàng cha đáp ứng đợc đòi hỏi của nền kinh
tế đang phát triển với nhịp độ cao. Thị trờng tài chính tự do hoá mạnh mẽ nhng các
thể chế giám sát điều hành không đợc tăng cờng phù hợp. Hơn nữa, chính sách
quản lý ngoại hối của các nớc này quá tự do, việc chuyển đổi giữa ngoại tệ và nội
tệ quá dễ dàng đã tạo khả năng bán tháo đồng nội tệ lấy USD khi xuất hiện những
dấu hiệu bất ổn định trên thị trờng tiền tệ. Hiện tợng thất thoát vốn trở nên nghiêm
trọng ở các nớc này do những hoạt động đầu t sai lầm. Để duy trì tốc độ tăng trởng
kinh tế nóng và duy trì tỷ giá cố định, ngân hàng các nớc này đã vay các khoản vay
nóng từ các ngân hàng nớc ngoài ở mức độ nguy hiểm vợt xa so vơi mức dự trữ
ngoại tệ trong nớc. Nhìn chung các ngân hàng ở ASEAN đã không thực hiên đợc
vai trò điều tiết khi xuất khẩu bị giảm sút, khi các dòng vốn bị rút ra ồ ạt cũng nh
khi lạm phát ở mức cao mà tốc độ cung ứng tiền vốn vẫn tiếp tục tăng mạnh.
Thứ t, Những bất cập trong chuyển đổi của quá trình công nghiệp hoá -
hiện đại hoá đất nớc. Một nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng tài chính - tiền tệ
châu á là những bất cập và yếu kém trong bớc ngoặt chuyển đổi của quá trình
CNH-HĐH khi chuyển thành nền công nghiệp mới nh ở Thái lan, Inđônêsia,
Malaysia. Chính bất cập về thể chế và cơ cấu, những chậm chạp trong cải cách đã
không giúp cho các nền kinh tế này chuyển kịp trong điều chỉnh cơ cấu đầu t, tái
phân bổ nguồn lực và điều chỉnh nền kinh tế ở giai đoạn cao hơn. Mất cân đối lớn
nhất và đe doạ trực tiếp đến sự ổn định của hệ thống tài chính - tiền tệ mỗi nớc là
sự thâm hụt tài khoản vãng lai và cơ cấu vốn nớc ngoài đổ vào trong nớc. Mặt khác
vốn huy động gián tiếp qua thị trờng chứng khoán cũng tăng nhanh, trong khi dự
trữ ngoại tệ quốc gia không cao và kim ngạch xuất khẩu giảm dần, có nghĩa là có
sự phụ thuộc vào nguồn ngoại tệ nớc ngoài. Hơn nữa, các khoản vốn vay nóng lại
đợc tập trung đầu t vào các lĩnh vực kinh tế nóng nh bất động sản hay một số ngành
9
Đề án môn học Lê Thanh Hải QLKT 40A
công nghiệp mà trớc đó có sự tăng trỡng mạnh dẫn đến cung vợt quá cầu và gây ra
sự trì trệ trên thị trờng.
Thứ năm, sai lầm của các nhà đầu t trong nớc. Là những ngời trực tiếp tiến
hành thực hiện các quá trình đầu t của mình, các nhà đầu t trong nớc của khu vực
châu á phải là ngời chịu trách nhiệm hàng đầu về số phận doanh nghiệp do họ làm
chủ từ cả ba khía cạnh : cơ cấu vốn vay, cơ cấu đầu t và khả năng thích ứng của thị
trờng.
Trớc hết có thể khẳng định một trong những nguyên nhân hàng đầu gây ra cơn
bùng phát khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở châu á là do sự nóng lên của thị trờng
chứng khoán và bất động sản dẫn đến khủng hoảng nợ ở khu vực kinh tế t nhân, số
nợ của doanh nghiệp đã vợt quá tổng số vốn tới 200-400%. Chính việc làm này của
họ đã đẩy nhanh sự gia tăng nợ nớc ngoài của Thái lan từ 28 tỷ USD năm 1990 lên
85 tỷ USD năm 1997 chiếm 97% GDP của Thái lan. Những doanh nghiệp với tình
trạng tài chính và năng lực kinh doanh kém tham gia thị trờng chứng khoán đã dẫn
đến những hậu quả nặng nề cho xã hội. Hạch toán, kiểm toán và sự công khai tài
chính yếu kém làm cho chính phủ và các cổ đông nhỏ không kiểm soát đợc tình
hình tài chính của doanh nghiệp, mặt khác những mối quan hệ mờ ám giữa những
quan chức chính phủ với các doanh nghiệp làm méo mó cơ chế trị trờng, nền kinh
tế kém hiệu quả. Bản thân các doanh nghiệp này lại cha bắt kịp các diễn biến thị tr-
ờng trong và ngoài nớc, cha xử lý kịp thời các tình huống cung - cầu, giá cả và chất
lợng, chiến lợc thị trờng và xuất khẩu cha đủ đa dạng, dựa quá sâu vào số ít các mặt
hàng chủ lực truyền thống, do đó lúng túng trong các quyết định đầu t mới và bỏ lỡ
các cơ hội kinh doanh cũng nh làm nặng thêm, trả giá đắt cho các đầu t cũ. Tình
trạng tài chính doanh nghiệp đã xấu lại càng xấu hơn, sự sút giảm bất thờng trong
kim ngạch xuất khẩu của nhiều nớc khu vực đã cho thấy rõ điều đó.
1.2 Các nguyên nhân khách quan
Thị trờng thơng mại toàn cầu giảm sút.
Từ năm 1995, tốc độ tăng trởng của hầu hết các nớc công nghiệp phát triển đều
giảm sút mạnh dẫn đến giảm cầu, đặc biệt các nớc này là những đối tác kích thích
quá trình tăng trởng hớng về xuất khẩu của các nớc Đông á, làm cho những sản
phẩm xuất khẩu chủ lực của các nớc này nh hàng điện tử may mặc đứng trớc
nguy cơ bão hoà trên thị trờng quốc tế. Tính đến năm 1996, thị trỡng bán dẫn suy
giảm mạnh, giá vi mạch giảm hơn 80%. Trong khi đó các sản phẩm điện tử dân
dụng của Nhật bản và các nớc NICs giảm lợng bán hơn 40% trên thị trờng quốc tế.
Mặt khác tính hấp dẫn của thị trờng Đông Nam á với các đối tác Mĩ và Tây âu đã
10
Đề án môn học Lê Thanh Hải QLKT 40A
giảm sút trớc những thị trờng không kém phần năng động và hấp dẫn nh Trung
quốc, SNG, Đông âu và Mỹ latinh.
Sự gia tăng tính không ổn định của các nguồn vốn ngắn hạn trên thị trờng
tài chính quốc tế.
Toàn cầu hoá cao độ về tài chính - tiền tệ và sự phát triển quá nhanh của các
loài quĩ ở các nớc phát triển đã dẫn đến sự bùng nổ các luồng vốn đầu t t nhân
ngắn hạn. Các nguồn vốn dài hạn nh ODA ngày càng có xu hớng giảm trong khi đó
các nguồn vốn đầu t gián tiếp ngày càng tăng thậm chí tăng nhanh hơn cả vốn đầu
t trực tiếp. Các nớc trong khu vực trong khi huy động và sử dụng các nguồn vốn
này đã sự dụng quá nhiều loại vốn đầu t gián tiếp (chứng khoán), điều đó dễ dẫn
đến những tổn thơng của hệ thống tài chính trong nớc.
Các hoạt động đầu cơ từ bên ngoài.
Ngoài nhà tỷ phú G.Soros còn nhiều nhà đầu cơ trong tổng số 2300 quĩ tín dụng
ở Mỹ với số tài sản khổng lồ khoảng 100 tỷ USD nh Tiger, Orbics, Pumar họ đã
mua đồng Baht, Pêsô, Ringgit, Rupi, các quĩ nói trên đã bán ra khối lợng đồng Baht
trị giá 15 tỷ USD. Với khả năng về tài chính nh vậy, các quĩ tín dụng này hoàn toàn
có khả năng tiến hành các hoạt động nhằm cải thiện tình hình hoặc làm trầm trọng
thêm cuộc khủng hoảng này.
Tình hình chính trị và môi trờng quốc tế.
Có thể nói đây không phải là nguyên nhân chủ yếu của cuộc khủng hoảng, tuy
nhiên nó cũng là nhân tố góp phần không nhỏ gây ra cuộc khủng hoảng này.
Với nhiều phe phái chính trị tranh giành quyền lực ở Thái lan đã làm ảnh hởng
tiêu cực đến quản lý và điều hành nền kinh tế vốn đã chứa đựng những mất cân đối.
Mặt khác với nhiều mối quan hệ mờ ám giữa các chính trị gia và các tập đoàn lớn
đã gây nên một sự cạnh tranh không lành mạnh trong nền kinh tế. Còn ở Inđônêsia,
gia đình Tổng thống Shuhactô đã thao túng nhiều ngành kinh tế then chốt - đây là
lối quản lý theo kiểu " gia đình trị" - đã làm suy yếu dần sức cạnh tranh của nền
kinh tế. Còn ở Philippin thì tình trạng tham nhũng của các quan chức chính phủ
cũng trở nên nghiêm trọng không kém. Chính những yếu tố bất ổn của môi trơng
pháp lý và chính trị nói trên đã làm giảm sút sức hấp dẫn của đầu t nớc ngoài vào
khu vực này.
Ngoài ra sự nỗi lên của các nền kinh tế nh Trung quốc, ấn độ, Nam Mỹ đã
làm giảm khả năng cạnh tranh của các nớc Đông Nam á. Cùng với đó là sự sáp
nhập của nhiều tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới đã bóp chết nhiều công ty nhỏ và
non yếu của các nớc đang phát triển.
11
Đề án môn học Lê Thanh Hải QLKT 40A
2.Tác động của cuộc khủng hoảng đối với nền kinh tế khu vực và
thế giới
2.1 Tác động tiêu cực
Hậu quả tiêu cực mà cuộc khủng hoảng gây ra là quá rõ ràng, toàn diện và hết
sức nặng nề đối với nhiều quốc gia trong khu vực cũng nh trên thế giới.
Trớc hết, hậu quả dễ nhận thấy nhất và phổ biến nhất trong toàn khu vực lá sự
mất ổn định của các thị trờng tiền tệ mỗi nớc và khu vực, lá sự sút giảm ngay cả
đầu t trong nớc do lãi suất cao và yếu tố lòng tin. Tất cả các vấn đề đó đã làm giảm
sút tốc độ tăng trởng kinh tế các nớc này và toàn khu vực toàn thế giới nói chung đi
đôi với sự gia tăng tình trạng thất nghiệp và lạm phát cao; cũng nh làm tăng nợ nớc
ngoài bằng ngoại tệ do sự mất giá của đồng bản tệ và do phải thu hút thêm các
khoản tín dụng quốc tế mới để vợt qua khủng hoảng.
Lịch sử khu vực trong vòng nửa thế kỷ nay cha bao giờ lại có đợt đại hạ giá
đồng loạt của các đồng tiền trong khu vực với số lợng lớn nh thế, ít nhất cũng có
hai mơi đồng tiền khác nhau bị giảm giá mạnh ( từ 30-70%, thậm chí có lúc đồng
Rupi Inđônêsia mất giá tới 400% so với USD).
Cuộc khủng hoảng cũng đánh dấu sự kết thúc một giai đoạn tăng trởng nhanh,
kéo dài hàng thập kỷ dựa chủ yếu vào các nguồn vốn nớc ngoài của các nớc trong
khu vực, để chuyển sang một giai đoạn mới đặc trng bởi nhịp độ tăng trỡng ôn hoà
hơn, thận trọng hơn và dựa vào sực mình nhiều hơn.Nhịp độ tăng trỡng trung bình
của khu vực đã giảm đi 2.5% năm 1998 so với năm 1997. Do khủng hoảng ở châu
á làm cho tăng trởng của Mỹ giảm đi 0.7% trong năm 1998, EU giảm 0.3%, Mỹ la
tinh giảm 1.5%, còn tốc độ thơng mại toàn cầu giảm đi 2.5% so với năm 1997.
Theo OECD, cuộc khủng hoảng châu á đã làm cho tăng trởng của các nớc công
nghiệp phát triển giảm 0.9%. Thậm chí nếu nh Trung quốc, Nhật bản, Brazin phá
giá đồng tiền của họ thì rất có thể xảy ra một cuộc khủng hoảng tài chính trên
phạm vi toàn cầu.
Cuộc khủng hoảng đã gây thiệt hại cho châu á ít nhất là 300 tỷ USD, bằng
khoảng 20% GDP của các nớc bị khủng hoảng và làm thiệt hại chung cho toàn thế
giới khoảng 500 tỷ USD. Có tới 150 tỷ USD đầu t tài chính đã rút ra khỏi Đông
Nam á, các nhà đầu t nớc ngoài giảm sút niềm tin, FDI đổ vào châu á bị sụt giảm
mạnh và tiếp tục ở mức thấp trong một số năm tới.
Sự phá giá đồng bản tệ đã làm tăng các chi phí dịch vụ nợ và chất thêm gánh
nặng nợ nần lên vai các công ty làm tăng tình trạng mất khả năng thanh toán, phá
giá nhất là các công ty phục vụ thị trờng trong nớc mà nhu cầu đang giảm sút
nhanh chóng. Sự phá giá bản tệ ở những nớc có hàng hoá xuất nhập khẩu mà
12
Đề án môn học Lê Thanh Hải QLKT 40A
nguyên liệu nhập khẩu chiếm tỷ lệ cao sẽ làm tăng chi phí xuất khẩu, đẩy giá thành
lên cao, giảm sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trờng quốc tế.
Lạm phát gia tăng sẽ làm giảm mức sống thực tế của ngời làm công ăn lơng,
những căng thẳng và bất ổn về xã hội cũng vì thế mà tăng lên.

2.2 Tác động tích cực
Cuộc khủng hoảng hiện nay không chỉ hoàn toàn gây tác hại cho các nớc trong
khu vực mà ở một chừng mực nào đó, nó là điểm dừng để mở đầu cho một giai
đoạn phát triển mới đầy triển vọng, là cơ hội để các nền kinh tế ASEAN thực hành
sự cải cách triệt để các điều kiện kinh tế vĩ mô kể cả sự cần thiết phải xác định lại
mô hình chiến lợc phát triển. Nh Tổng thống Hàn quốc cũng từng khẳng định : "
Tôi muốn biến cuộc khủng hoảng này thành một cơ hội để cải biến nền kinh tế nớc
tôi, đa nó lên trình độ của thế giới". Những tác động tích cực của cuộc khủng
hoảng hiện nay có thể quy tụ ở những khía cạnh sau :
Thứ nhất, việc chuyển sang chính sách tỷ giá linh hoạt sẽ giúp các chính phủ
giảm tối thiểu lợng ngoại tệ can thiệp để giữ giá bản tệ nh thời gian trớc đó, giúp
tăng dự trữ quốc gia về lâu dài, với đồng bản tệ rẻ sẽ kính thích khả năng cạnh
tranh xuất khẩu, từ đó cải thiện những cán cân tài chính của đất nớc.
Thứ hai, nhiều nớc nh Thái lan, Inđônêsia, Hàn quốc, Philippin sẽ nhận đợc l-
ợng tín dụng quốc tế chính thức với khối lợng lớn để phục vụ mục tiêu khắc phục
khủng hoảng cải cách và phát triển kinh tế ( mặc dù với lãi suất khá cao và các điều
kiện ngặt nghèo kèm theo). Cuộc khủng hoảng cũng giúp định hớng lại và cải thiện
cơ cấu đầu t, lành mạnh hoá nền tài chính quốc gia. Các khoản chi kém hiệu quả sẽ
bị điều chỉnh, cắt giảm; các dự án t nhân sẽ đợc khuyến khích, thúc đẩy quá trình t
nhân hoá, giảm bớt sự độc quyền của khu vực nhà nớc, sự can thiệp và bao cấp của
Chính phủ trong khu vực kinh doanh sẽ đợc xúc tiến tích cực hơn, kiên quyết và
rộng rãi hơn.
Có thể nói cuộc khủng hoảng là một cú hích mạnh, để xốc lại cơ cấu kinh tế
cho cân bằng, hợp lý và hiệu quả hơn. Sau khi vợt qua giai đoạn khó khăn nhất của
khủng hoảng, các doanh nghiệp đã có định hớng thị trờng nhiều hơn, đầy đủ, sâu
sắc và hoàn thiện hơn, do đó có hiệu quả và sức cạnh tranh cao hơn.
Thứ ba, cuộc khủng hoảng ít nhiều góp phần để Chính phủ và nhân dân mỗi n-
ớc trong khu vực cũnh nh các tổ chức tài chính - tiền tệ quốc tế xem lại mình, bổ
khuyết những chính sách cả về chính sách, thể chế lẫn những yếu tố thuộc con ng-
ời, từ đó tạo ra những xung lực tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững
ở cấp đọ quốc gia, khu vực và quốc tế với t cách là một chỉnh thể hữu cơ. Quá trình
13
Đề án môn học Lê Thanh Hải QLKT 40A
tự do hoá và toàn cầu hoá sẽ đợc đẩy lên một bớc mới, một phần nhờ những chơng
trình điều chỉnh kinh tế rộng rãi, một phần nhờ sự chuẩn bị chu đáo hơn, thận trọng
hơn và thích hợp hơn của mỗi nớc, phần nữa nhờ sự xuất hiện của những cơ chế
thúc đẩy và giám sát mới mang tính khu vực, nhờ sự bổ sung chức năng của IMF và
các tổ chức tài chính - tiền tệ quốc tế và khu vực, đồng thời đó cũng là kết quả của
sự hợp tác giữa các nớc khu vực trong nỗ lực vợt qua khủng hoảng.
3. một số biện pháp hạn chế và khắc phục khủng hoảng
3.1 Những biện pháp can thiệp của Chính phủ
a) Can thiệp thị trờng
Để duy trì tỷ giá, các nớc này ở những mức độ khác nhau đã sử dụng biện pháp
truyền thống là tung dự trữ ngoại tệ ra bán và thắt chặt tiền tệ. Các nớc này đã dùng
hàng chục tỷ USD dự trữ ngoại tệ để can thiệp thị trờng hỗ trợ đồng nội tệ, tạm
đình chỉ việc mua bán ngoại tệ không vì mục đích thơng mại nhằm ngăn chận việc
bán tháo đồng nội tệ để mua ngoại tệ mạnh. Một số nớc chủ trơng tạm đình chỉ thị
trờng chứng khoán khi giá cổ phiếu tụt quá thấp, yêu cầu các nhà kinh doanh ngoại
hối phải đăng ký, Nhà nớc ban hành quy chế quản lý chặt, cấm các công ty và ngân
hàng trong nớc đầu cơ, hợp tác với các cơ quan tiền tệ trong khu vực để kiểm soát
các luồng di chuyển ngoại tệ.
b) Cải cách hệ thống tài chính - ngân hàng
Thái lan, Inđônêsia, Philippin đã lần lợt cải tổ mạnh mẽ hệ thống ngân hàng - tài
chính theo các hớng :
* Tiếp tục mở cữa và tự do hoá thị trờng tài chính để thu hút nguồn vốn trong nớc
và nớc ngoài, tăng cờng sự tham gia của khu vực t nhân.
* Chấn chỉnh lại hệ thống ngân hàng - tài chính bằng cách đóng cửa các ngân
hàng, công ty tài chính làm ăn thua lỗ. Thái lan đóng cửa 58 công ty tài chính kinh
doanh thua lỗ, tham nhũng và không đòi đợc nợ (trên tổng số 91 công ty). Trong
số đó, 18 công ty đã trình Uỷ ban kiểm tra các kế hoạch phối hợp nhằm phục hồi
hoạt động và 10 trong tổng số này đã có kế hoach hợp nhất. Inđônêsia cũng đã
đóng cửa 16 công ty tài chính, quy định các công ty tài chính phải trả nợ ngân
hàng, sáp nhập với nhau và đáp ứng mức dự trữ bắt buộc mới với 50% nguồn vốn
tối thiểu là tiền mặt. Hàn quốc cũng đang cơ cấu lại các ngân hàng thơng mại quốc
doanh.
* Tăng cờng hệ thống thông tin, chế độ kiểm tra, kiểm toán, giám sát chặt chẽ đối
với hoạt động của các ngân hàng và công ty tài chính. Đẩy mạnh quá trình công
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét