Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2014

thực trạng quản lý giáo dục mầm non qua mạng internet ở thành phố hồ chí minh


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "thực trạng quản lý giáo dục mầm non qua mạng internet ở thành phố hồ chí minh": http://123doc.vn/document/1050879-thuc-trang-quan-ly-giao-duc-mam-non-qua-mang-internet-o-thanh-pho-ho-chi-minh.htm


6T2.1.1. Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội TP.HCM6T 50
6T2.1.2. Khái quát về tình hình giáo dục TP.HCM6T 51
6T2.2. Giáo dục mầm non ở TP.HCM hiện nay6T 55
6T2.2.1. Quy mô phát triển GDMN TP.HCM6T 55
6T2.2.2. Công tác nuôi dưỡng và chăm sóc bảo vệ sức khỏe6T 55
6T2.2.3. Công tác giáo dục6T 56
6T2.2.4. Công tác xây dựng môi trường thân thiện trong trường mầm non6T 56
6T2.2.5. Công tác giáo dục bảo vệ môi trường6T 57
6T2.2.6. Công tác giáo dục về an toàn giao thông6T 57
6T2.2.7. Công tác ứng dụng công nghệ thông tin6T 57
6T2.2.8. Công tác xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ quản lý và GV6T 59
6T2.2.9. Cơ sở vật chất, thiết bị và kinh phí cho giáo dục mầm non6T 60
6T2.2.10. Công tác giáo dục trẻ khuyết tật6T 60
6T2.2.11. Công tác phổ biến kiến thức cho phụ huynh và cộng đồng6T 60
6T2.3. Thực trạng quản lý GDMN qua mạng internet ở TP. HCM6T 60
6T2.3.1. Khái quát quá trình điều tra thực trạng6T 61
6T2.3.2. Thực trạng nhận thức về vai trò của công tác quản lý GDMN qua mạng internet
trong công cuộc đổi mới quản lý hiện nay
6T 64
6T2.3.3. Thực trạng sử dụng các hình thức / phương tiện quản lý6T 67
6T2.3.4. Thực trạng trang thiết bị đáp ứng yêu cầu cho công tác quản lý GDMN qua
mạng internet
6T 73
6T2.3.5. Thực trạng thực hiện các nội dung QLGDMN qua mạng internet6T 74
6T2.3.6. Thực trạng sử dụng internet của các cán bộ quản lý GDMN6T 79
6T2.4. Kết luận thực trạng QLGDMN qua mạng internet ở TPHCM6T 83
6T2.4.1. Ưu điểm6T 83
6T2.4.2. Hạn chế6T 83
6T2.4.3. Nguyên nhân6T 84
6T2.4.4. Ý kiến của các đối tượng tham gia điều tra (PMN, TMN, BGH, GV, PH) đối với
việc quản lý GDMN qua mạng internet
6T 88
6TCHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC MẦM NON
QUA MẠNG INTERNET Ở TP. HỒ CHÍ MINH
6T 90
6T3.1. Cơ sở đề xuất các biện pháp6T 90
6T3.1.1. Cơ sở pháp lý6T 90
6T3.1.2. Cơ sở lý luận và thực tiễn6T 94
6T3.2. Các biện pháp6T 96
6T3.2.1. Đề xuất các biện pháp6T 96
6T3.2.2. Tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp6T 118
6TPHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ6T 123
6T1. Kết luận6T 123
6T2. Kiến nghị6T 125
6TTÀI LIỆU THAM KHẢO6T 130

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử phát triển giáo dục của nước ta, giáo dục luôn phải đương đầu liên tục
với sự biến đổi của quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Giáo dục luôn phải thích ứng với
những yêu cầu đòi hỏi khác nhau của từng giai đoạn phát triển của xã hội. Từ thập niên cuối
của thế kỷ XX đến nay, Việt Nam đang thực hiện bước chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch
hóa, tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mô hình kinh tế
chuyển đổi này đòi hỏi một nguồn nhân lực có chất lượng được đào tạo hệ thống ở tất cả các
lĩnh vực: kinh tế, sản xuất, dịch vụ… đáp ứng sự thay đổi nhanh, mạnh của thị trường trong
nước và quốc tế. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải phát triển nền giáo dục theo hướng
dân tộc, hiện đại và chất lượng.
Bên cạnh đó, xu thế phát triển giáo dục của thế giới đang tác động sâu sắc đến giáo
dục Việt Nam, yêu cầu hội nhập quốc tế và khu vực đang đặt ra những yêu cầu mới về cải
cách nội dung chương trình giáo dục, thay đổi phương pháp dạy học trong nhà trường các
cấp để xây dựng một nền giáo dục chất lượng… Vì thế, vấn đề không ngừng nâng cao chất
lượng giáo dục là vấn đề cần được quan tâm và là yêu cầu cấp bách của tất cả những nhà
quản lý giáo dục, cán bộ giảng dạy và của toàn xã hội.
Các thành tựu nghiên cứu giáo dục đã thừa nhận quản lý giáo dục là nhân tố then chốt
đảm bảo sự thành công của phát triển giáo dục. Đặc biệt, đối với việc quản lý chất lượng
giáo dục, Nghị quyết số 37/2004/QH11 đã đặt ra yêu cầu: “Đổi mới toàn diện công tác
quản lý nhà nước về giáo dục, lấy việc quản lý chất lượng làm nhiệm vụ trọng tâm” Và
trong năm học 2009-2010, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT cũng đã công bố Chỉ thị về nhiệm vụ
trọng tâm năm học với chủ đề “Năm học đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục”.
Quản lý là một hoạt động rất cần thiết cho tất cả các lĩnh vực của đời sống con người.
Ở đâu con người tạo nên nhóm xã hội là ở đó cần đến quản lý, dù cho đó là nhóm không
chính thức hay chính thức, nhóm nhỏ hay nhóm lớn, nhóm bạn bè hay nhóm gia đình hay
các đoàn thể, tổ chức xã hội; dù cho nhóm đó hoạt động với bất kỳ mục đích, nội dung gì.
Quản lý là một hoạt động trí tuệ mang tính sáng tạo cao, vừa là một khoa học vừa là một
nghệ thuật đặc biệt trong thời đại công nghệ thông tin như hiện nay, nhiệm vụ đổi mới quản
lý và nâng cao chất lượng giáo dục không thể không bị tác động bởi các thành tựu của công
nghệ thông tin.
Công nghệ thông tin là một trong các động lực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng
với một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hoá,
xã hội của thế giới hiện đại. Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin nhằm góp phần giải
phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới,
phát triển nhanh và hiện đại hoá các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các
doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao
chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an ninh, quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón
đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Ngay từ thời kỳ chống Mỹ cứu nước, Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương vận dụng
công nghệ thông tin trong một số lĩnh vực. Bước sang thời kỳ đổi mới, chủ trương ấy đã
được nhấn mạnh và cụ thể hoá trong nhiều Nghị quyết của Đảng và Chính phủ như: nghị
quyết số 26-NQ/TW, ngày 30-3-1991 của Bộ Chính trị về khoa học và công nghệ trong sự
nghiệp đổi mới đã nêu: "Tập trung sức phát triển một số ngành khoa học công nghệ mũi
nhọn như điện tử, tin học "; Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương
(khoá VII) ngày 30-7-1994 xác định: "Ưu tiên ứng dụng và phát triển các công nghệ tiên
tiến, như công nghệ thông tin phục vụ yêu cầu điện tử hoá và tin học hoá nền kinh tế quốc
dân"; Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII nhấn mạnh: "Ứng dụng công
nghệ thông tin trong tất cả các lĩnh vực kinh tế quốc dân, tạo ra sự chuyển biến rõ rệt về
năng suất, chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế…". Để thể chế hoá về mặt Nhà nước,
Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 49/CP ngày 04 tháng 8 năm 1993 về "Phát triển công
nghệ thông tin ở Việt Nam trong những năm 90".
Năm học 2008 - 2009 là năm học đầu tiên triển khai thực hiện Chỉ thị số 55/2008/CT-
BGDĐT ngày 30/9/2008 của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT về tăng cường giảng dạy, đào tạo và
ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong ngành giáo dục giai đoạn 2008 - 2012. Năm
học 2008 - 2009 được chọn là “Năm học đẩy mạnh ứng dụng CNTT, đổi mới quản lý tài
chính và xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực …”. Trong công văn số
9772/BGDĐT-CNTT ngày 20/10/2008, Bộ GD&ĐT đã hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm
học 2008 - 2009 về CNTT như sau: Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong điều hành và quản lý
giáo dục, quản lý hành chính tại các Sở GD-ĐT và các trường học: thực hiện việc chuyển
phát công văn, tài liệu qua mạng điện tử, kết nối thông tin và điều hành bằng văn bản điện
tử giữa Sở và các trường, giữa Sở và Bộ; triển khai tin học hoá quản lý trong trường học
Thực hiện chủ đề năm học “Năm học đẩy mạnh ứng dụng CNTT ”, Phòng GDMN
của Sở GD-ĐT TP.HCM đã triển khai công tác quản lý GDMN qua mạng internet. Với việc
ứng dụng mạng internet trong quản lý đầy mới mẻ như thế, Phòng GDMN đã dựa vào
những căn cứ nào để lựa chọn được các biện pháp quản lý phù hợp, đã gặp phải những khó
khăn gì và hiệu quả của việc quản lý công tác này như thế nào?
Để trả lời được các câu hỏi trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Thực trạng quản lý
Giáo dục Mầm non qua mạng internet ở TP. Hồ Chí Minh”.
2. Mục đích nghiên cứu
Từ nghiên cứu thực trạng, đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý Giáo
dục Mầm non qua mạng internet ở TP. Hồ Chí Minh.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý GDMN ở TP.HCM.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng quản lý GDMN qua mạng internet ở TP. Hồ Chí Minh.
4. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
Công tác quản lý GDMN qua mạng internet của các trường công lập (12 trường nội
thành và 12 trường ngoại thành), 24 Tổ Mầm non của 24 Phòng GD-ĐT các quận huyện và
Phòng GDMN - Sở GD&ĐT ở TP. Hồ Chí Minh.
5. Giả thuyết khoa học
Quản lý GDMN qua mạng internet ở TP. Hồ Chí Minh đã được thực hiện ở các trường
mầm non công lập, bên cạnh những ưu điểm như: giảm tải công việc, tiết kiệm được các
nguồn lực và thời gian, tăng cường sự giám sát đối với chất lượng công việc, cung cấp
thông tin mở cho cộng đồng còn tồn tại một số hạn chế như là chất lượng mạng internet
yếu, trình độ tin học của đội ngũ cán bộ, nhân viên chưa phù hợp, hiệu quả quản lý chưa
cao
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng, có thể đề xuất được các biện pháp quản lý
nhằm tăng cường công tác quản lý GDMN qua mạng internet ở TP.HCM.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận của đề tài.
6.2. Khảo sát thực trạng quản lý GDMN qua mạng internet ở TP. HCM.
6.3. Đề xuất các biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lý GDMN qua mạng
internet ở TP. Hồ Chí Minh.
7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp luận
7.1.1. Quan điểm hệ thống - cấu trúc
Tiếp cận quan điểm hệ thống - cấu trúc, người nghiên cứu thấy thực trạng quản lý
Giáo dục Mầm non qua mạng internet ở TP. Hồ Chí Minh bao gồm những yếu tố sau đây:
mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, chủ thể, đối tượng và kết quả quản lý có mối
quan hệ biện chứng với nhau; cần phải quan tâm giải quyết tốt các mối quan hệ này.
- Tổ MN quản lý các trường / nhóm / lớp GDMN qua mạng internet gồm các mảng cơ
bản sau: số lượng trường / nhóm / lớp, số trẻ nhà trẻ / mẫu giáo; tình trạng dinh dưỡng của
trẻ; chất lượng chăm sóc - giáo dục trẻ; số cán bộ quản lý - giáo viên - công nhân viên; trình
độ của CBQL - GV - CNV; cơ sở vật chất; kinh phí…
- Phòng GDMN quản lý Tổ MN và quản lý việc quản lý của Tổ MN đối với các đơn vị
GDMN.
7.1.2. Quan điểm thực tiễn
Xuất phát từ thực trạng quản lý Giáo dục Mầm non qua mạng internet ở TP. Hồ Chí
Minh còn gặp nhiều khó khăn do đó cần tìm hiểu các nguyên nhân và đề xuất các biện pháp
nhằm nâng cao hiệu quả quản lý.
7.1.3. Quan điểm lịch sử
Thực trạng được khảo sát cần làm sáng tỏ những vấn đề quản lý Giáo dục Mầm non
qua mạng internet ở TP. Hồ Chí Minh hiện nay.
7.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
7.2.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Gồm các phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa thông tin.
7.2.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra viết: Sử dụng bảng hỏi nhằm thu thập dữ kiện phục vụ cho việc
chứng minh giả thuyết của đề tài.
- Quan sát một số hoạt động quản lý GDMN qua mạng internet để thu thập chứng cứ
phục vụ nghiên cứu. Phương tiện quan sát: máy chụp hình, máy vi tính…
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: nghiên cứu trang web và các văn bản chỉ đạo
việc quản lý GDMN qua mạng.
- Phương pháp trưng cầu ý kiến chuyên gia.
7.2.3. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê để xử lý số liệu điều tra.
8. Bố cục của đề tài
- Được trình bày theo 3 phần:
+ Phần mở đầu.
+ Nội dung chính: gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.
Chương 2: Thực trạng quản lý Giáo dục Mầm non qua mạng internet ở TP. Hồ
Chí Minh.
Chương 3: Đề xuất các biện pháp quản lý Giáo dục Mầm non qua mạng
internet ở TP. Hồ Chí Minh.
+ Phần kết luận.

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Ở nước ngoài
* Vấn đề UDCNTT trong QL nhận được sự quan tâm ở rất nhiều nước trên thế giới.
Đặc biệt, việc UDCNTT trong các hoạt động Uquản lý hành chính nhà nướcU, hướng đến xây
dựng một chính phủ hiện đại và hiệu quả là một trong những điểm trọng tâm trong quá trình
xã hội hóa thông tin, phát triển dân chủ và củng cố bộ máy chính quyền các cấp, và hiện nay
mô hình Chính phủ điện tử (e-government) đã và đang được áp dụng rộng rãi tại nhiều nước
trên thế giới và mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho xã hội.
Ở nước Nga, trong vòng ba năm tới Nga sẽ tinh giản hơn 100.000 công chức và sẽ lập
chính phủ điện tử. Tổng thống Dmitry Medvedev đã nhấn mạnh mô hình chính phủ điện tử
sẽ tạo điều kiện để xác định một tỉ lệ công chức phù hợp nhất, giảm bớt lượng công việc
giấy tờ và loại bỏ việc xếp hàng dài dằng dặc của người dân tại các cơ quan công quyền.
Nga hiện đứng ở vị trí 59 trong danh sách xếp hạng chính phủ điện tử năm 2010 của Liên
Hiệp Quốc (Việt Nam hạng 90). Năm 2009, Tổng thống Medvedev từng phàn nàn: “Chúng
ta lạc hậu về vấn đề chính phủ điện tử quá! Giao dịch nội bộ giữa các cơ quan công quyền,
giữa người dân với cơ quan công quyền vẫn là trên giấy tờ, máy tính chẳng hơn máy đánh
chữ là mấy!”. [43]
“Giảm giá thành, tăng hiệu quả, minh bạch và tính giải trình về các dịch vụ” được xem
là nền tảng để đánh giá về chính phủ điện tử ở mọi quốc gia. Một trong những lý do thành
công cho một dự án chính phủ điện tử của Hàn Quốc - nước hiện đang xếp hạng 1 trong
danh sách xếp hạng chính phủ điện tử năm 2010 của Liên Hiệp Quốc - là “tìm giải pháp cho
người dân tham gia nhiều hơn vào quá trình điều hành của chính quyền”, trong đó có việc
cho ra mắt hệ thống cung cấp các thông tin hành chính theo yêu cầu của công dân và hệ
thống “Nhân dân điện tử” (e-People) để giải quyết đơn thư khiếu nại.
* Đối với lĩnh vực Ugiáo dụcU, ở các nước Đông Á, CNTT có một vị trí quan trọng trong
chương trình đổi mới giáo dục. Các chính sách mới về đổi mới giáo dục được xây dựng dựa
trên các tiền đề và triển vọng ứng dụng hiệu quả CNTT vào dạy và học (Richards, 2004).
Tuy nhiên, trên thực tế ứng dụng CNTT vào dạy học vẫn còn hạn chế. Phân tích việc ứng
dụng CNTT trong giáo dục không có khả năng loại bỏ máy tính khỏi các thay đổi xã hội và
chính trị như là một bối cảnh trường học lớn hơn (Selwyn, 1999). Các chính sách chiến lược
có thể đưa ra cơ sở lý luận, các mục đích và tầm nhìn của hệ thống giáo dục khi ứng dụng
CNTT (Kozma, 2008). Pick và Azari (2008) cũng nhận xét rằng các kết quả mà một dân tộc
muốn nâng cao CNTT phụ thuộc vào ý chí chính trị và cách các nhà lãnh đạo đánh giá sự
cần thiết của việc kết hợp các yếu tố đa chiều vào quá trình phát triển.
Trong vài thập kỉ gần đây, ở nhiều nước trên thế giới, máy vi tính đã được đưa vào sử
dụng trong trường như một phương tiện dạy học hữu hiệu, chẳng hạn như:
- Đề án “Tin học cho mọi người” (Informatique pour tous) – Pháp, 1970.
- Chương trình MEP (Microelectronics Education Program) – Anh, 1980.
- Các chương trình và phần mềm các môn học cho trường trung học được cung cấp bởi
NSCU (National Software-Cadination Unit) – Australia, 1984.
- Đề án CLASS (Computer Literacy And Studies in School) - Ấn Độ, 1985.
Ngoài ra, còn rất nhiều chương trình, phần mềm hỗ trợ khác có thể khai thác và ứng
dụng trong chương trình dạy học ở trường phổ thông.
* Vấn đề Uquản lý GDMNU qua mạng internet ở các nước trên thế giới đã có từ khi
ngành CNTT ở nước đó bắt đầu hình thành và phát triển. Vì thế, vấn đề quản lý GDMN qua
mạng internet là một vấn đề hết sức bình thường và tự nhiên ở các nước trên thế giới. Họ có
đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị cũng như một hệ thống bộ máy quản lý chặt chẽ phối
hợp với nhau để vận hành một cách trơn tru, thuận lợi. Ví dụ như ở Autralia, họ không gọi
là quản lý qua internet mà gọi là vận dụng công nghệ thông tin trong quản lý (ICT:
information and communication technologies in educational management); họ đã vận dụng
ICT trong QLGD từ rất lâu và hiện nay rất phổ biến. Mỗi giáo viên đều có địa chỉ email
chính thống để trao đổi với nhau (…edu.au) không dùng yahoo hay gmail. Mỗi thông tin về
mục tiêu, nội dung bậc học, lớp học đều được update lên mạng và GV tự download về xem.
Bên cạnh đó, các thông tin hỗ trợ như lựa chọn phương pháp dạy học, phương tiện dạy học,
cách kiểm tra đánh giá… cũng được đưa lên mạng, GV có thể trao đổi với cố vấn chuyên
môn qua email và được hồi đáp nhanh chóng. Các trường được trang bị cơ sở vật chất, GV
được tập huấn tốt.
1.1.2. Ở Việt Nam
Tại Việt Nam, mô hình "chính phủ điện tử" đã được đưa vào ứng dụng nhằm cải thiện
phương thức quản lý hành chính, giúp mọi người tiếp cận được với các chính sách, cơ chế
của Đảng và Nhà nước một cách nhanh nhất.
Các bài viết và các công trình nghiên cứu đã có về việc UDCNTT nói chung và sử
dụng mạng internet để quản lý rất phong phú và đa dạng. Mỗi công trình mỗi bài viết đều
thể hiện sự tìm tòi khám phá công phu của người viết.
Nhìn từ góc độ UDCNTT, internet trong Utất cả các lĩnh vực nói chung,U có rất nhiều các
công trình, các bài viết như: “UDCNTT trong nghiệp vụ thanh toán liên kho bạc tại kho bạc
nhà nước tỉnh Hà Giang”; “Phát triển loại hình doanh nghiệp hỗ trợ dịch vụ công thông
qua khảo sát dịch vụ internet” (2000-2006) của ngành Bưu chính viễn thông; “Nghiên cứu
những điều kiện cần thiết để ứng dụng công nghệ internet vào giao dịch chứng khoán ở Việt
Nam” (2004) của Nguyễn Mạnh Tuấn; “Thử nghiệm kê khai thuế giá trị gia tăng qua mạng
internet” mã số đề tài LA1176; “Hạn chế rủi ro giao dịch trong Internet banking tại các
Ngân hàng thương mại Việt Nam” mã số đề tài LA1969; “Một số giải pháp chiến lược kinh
doanh sản phẩm dịch vụ Viễn thông và Internet nhằm nâng cao vị thế của Tập đoàn Bưu
chính Viễn thông Việt Nam trong giai đoạn cạnh tranh hội nhập” mã số đề tài LA2101;
“Nghiên cứu các giải pháp thúc đẩy ứng dụng Internet và thương mại điện tử để nâng cao
năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Nam Định” mã số đề tài
LA2272; “Ứng dụng Intelligent mobile agent trong công tác đào tạo trên mạng Internet tại
Học viện công nghệ Bưu chính Viễn Thông” mã số đề tài LA3036; “Đẩy mạnh hoạt động
bán hàng qua mạng Internet tại Công ty TNHH đầu tư - thương mại - dịch vụ Minh Anh”
mã số đề tài 11522; “Công nghệ tin học ngành chứng khoán Việt Nam với vấn đề giao dịch
trực tuyến” (2002) của Thạc sĩ Đoàn Thanh Tùng; “Nghiên cứu xây dựng hệ thống kiểm
soát truy cập mạng và an ninh thông tin dựa trên sinh trắc học sử dụng công nghệ nhúng”
(2008-2010) của PGS.TS Nguyễn Thị Hoàng Lan và TS. Vũ Thị Hương Giang; “Xây dựng
thử nghiệm mô hình trang thông tin điện tử có tích hợp dịch vụ hỗ trợ người khiếm thị tiếp
cận và sử dụng thông tin” (2009) của ThS. Nguyễn Thị Thu Trang; “Các tiêu chuẩn thiết kế
website dễ tiếp cận và phương pháp sử dụng thông tin “nói” hỗ trợ người khiếm thị Việt
Nam tiếp cận, định hướng và khai thác thông tin trên website; ứng dụng vào triển khai
trang thông tin điện tử dành cho người khiếm thị” mã số đề tài: B2010–01–359; “Nghiên
cứu, phát triển các hệ thống thông tin phục vụ giáo dục và y tế cộng đồng” (2007-2009) của

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét