Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2014

một số giải pháp và triển vọng tăng cường thu hút fdi của nhật bản vào việt nam


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "một số giải pháp và triển vọng tăng cường thu hút fdi của nhật bản vào việt nam": http://123doc.vn/document/1051912-mot-so-giai-phap-va-trien-vong-tang-cuong-thu-hut-fdi-cua-nhat-ban-vao-viet-nam.htm


Đổi mới thờng xuyên công nghệ là điều kiện sống còn trong cạnh tranh;
do đó các nhà đầu t Nớc ngoài thờng chuyển những máy móc công nghệ đã lạc
hậu so với trình độ chung của Thế Giới để đầu t sang các nớc khác. Điều đó,
một mặt giúp các chủ đầu t thực chất bán đợc máy móc cũ để thu hồi vốn nhằm
đổi mới thiết bị công nghệ; kéo dài đợc chu kì sống của sản phẩm của các hãng
ở thị trờng mới; di chuyển máy móc gây ô nhiễm môi trờng ra Nớc ngoài và
trong nhiều trờng hợp còn thu đợc đặc lợi do CGCN đã lạc hậu đối với các chủ
đầu t Nớc ngoài.
b. Đối với các nớc đang phát triển.
- Nguồn thu FDI là nguồn bổ xung quan trọng để các nớc đang phát
triển thực hiện CNH- HĐH đất nớc. So với toàn bộ vốn đầu t phát triển toàn xã
hội, vốn FDI ở Việt Nam hiện chiếm khoảng 30%. Do đó vốn FDI có đóng góp
quan trọng vào tăng trởng kinh tế của các nớc đang phát triển. Các nhà nghiên
cứu cũng đang chứng minh rằng vốn FDI chiếm tỉ trọng càng lớn trong GDP thì
tốc độ tăng trởng GDP thực tế càng cao.
-Đầu t Nớc ngoài góp phần phát triển nguồn nhân lực và tạo thêm nhiều
việc làm mới cho các nớc nhận đầu t. Các dự án FDI có yêu cầu cao về chất l-
ợng lao động do đó sự phát triển của FDI ở các nớc sở tại đã đặt ra yêu cầu
khách quan phải nâng cao chất lợng về ngoại ngữ, trình độ chuyên môn của ng-
ời lao động. Mặt khác, chính các chủ đầu t Nớc ngoài cũng đã góp phần tích
cực bồi dỡng, đào tạo đội ngũ lao động ở nớc sở tại.Các dự án FDI cũng góp
phần thu hút một lợng lớn lao động, góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp.
Chẳng hạn tính đến năm 2000, lợng lao động trực tiếp làm việc trong các dự án
FDI ở Việt Nam là khoảng 2,4 triệu ngời ngời.
-Hoạt động của các dự án FDI có tác động quan trọng tới xuất nhập
khẩu của các nớc chủ nhà. Tỉ lệ xuất khẩu của các dự án FDI so với tổng số
xuất khẩu ở Việt Nam là 22,7%vào năm 2000.
Các dự án FDI cũng tác động quan trọng nếu nhập khẩu của các nớc và
trong nhiều trờng hợp do qui mô nhập khẩu để xây dựng cơ bản, trang bị máy
móc rất lớn dẫn đến tiêu cực trong cán cân thơng mại, gây ra sự thâm hụt thơng
mại thờng xuyên.
-Với chính sách thu hút vốn FDI theo các ngành nghề định hớng hợp lí,
nguồn vốn FDI sẽ góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nớc theo h-
ớng CNH- HĐH.Chẳng hạn, vốn FDI đầu t vào Việt Nam có trên 72% tập trung
vào lĩnh vực công nghiệp.
-Các dự án FDI góp phần bổ xung quan trọng cho ngân sách quốc
gia.Các dự án FDI tại Việt Nam đã đóng góp 11,2% tổng thu từ thuế năm 2000
và tỉ lệ này đang có xu hớng gia tăng.
6
II.Chính sách đầu t trực tiếp Nớc ngoài của Việt Nam
và Nhật Bản.
1. Chính sách thu hút đầu t trực tiếp của Việt Nam.
Nhận thức đợc xu hớng quốc tế hoá đời sống kinh tế ngày càng mở
rộng. Đó là quá trình mà các nền kinh tế dân tộc tác động lẫn nhau, bổ xung
cho nhau và phụ thuộc lẫn nhau, Đảng và nhà nớc Việt Nam đã chủ trơng lợi
dụng" những khả năng to lớn của nền kinh tế Thế Giới về di chuyển vốn, mở
rộng thị trờng, CGCN để bổ xung và phát huy có hiệu quả các lợi thế và nguồn
lực trong nớc". Để thực hiện chủ trơng trên, Đảng và nhà nớc Việt Nam chủ tr-
ơng "đa dạng hoá và đa phơng hoá KTĐN". Trong đó FDI là hình thức quan
trọng của hoạt động KTĐN.
Từ việc nhận thức đầy đủ đặc trng quan trọng của thời đại hiện nay là xu
hớng Quốc Tế hoá đời sống kinh tế diễn ra mạnh mẽ nhà nớc Việt Nam đã chủ
trơng mở cửa nền kinh tế nhằm thúc đẩy quá trình liên kết kinh tế trong nớc và
giữa trong nớc với nớc ngoài thông qua việc mở rộng kinh tế với các nớc trên
Thế Giới trong đó có hợp tác đầu t và đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6 đã đánh
dấu một bớc ngoặt trong cuộc đổi mới xây dựng kinh tế ở Việt Nam.
Chính Phủ Việt Nam đã xây dựng chính sách đầu t Nớc ngoài theo mô
hình: Thực hiện khuyến khích đối với hoạt động thu hút vốn đầu t Nớc ngoài
của Việt Nam.Với các biện pháp nh thuế, chuyển đổi ngoại tệ, chính sách về lao
động, quyền sở hữu đất đai, Và đã đợc trình bày rõ ràng, cụ thể trong luật
ĐTNN tại Việt Nam
Bộ luật này đợc xây dựng trên cở sở các quan điểm của chính phủ Việt
Nam về ĐTNN bao gồm những quan điểm sau:
- Quan điểm về mục tiêu thu hút ĐTNN.
Mục tiêu này là nhằm thu hút vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lí
nhằm khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng và lợi thế của Quốc Gia về sức lao
động và vị trí địa lí, tăng tích luỹ cho công nghiệp hoá,nâng cao tốc độ tăng tr-
ởng kinh tế Trớc mắt, giải quyết việc làm cho nghời lao động là mục tiêu hàng
đầu.Đồng thời, nâng cao phúc lợi xã hội cho ngời lao động là mục tiêu lâu dài.
- Quan điểm bảo vệ quyền lợi chính đáng của các nhà ĐTNN.
Vấn đề cốt lõi trong chính sách hoạt động hợp tác ĐTQT, chi phối quan
hệ về ĐTNN của Việt Nam là xử lí lợi ích của bên Việt Nam với bên Nớc ngoài
sao cho có lợi cho 2 bên.Với quan điểm bảo vệ lợi ích của nhà ĐTNN, luật
ĐTNN tại Việt Nam qui định bên nớc ngoài đợc hởng những điều kiện u đãi về
mặt lợi nhuận và bảo đảm an toàn đối với các quyền sở hữu chính đáng của họ
cụ thể là:
7
+Bảo đảm đối xử công bằng và thoả đáng đối với nhà ĐTNN
+Vốn và tài sản thuộc quyền sở hữu của nhà ĐTNN không bị trng dụng hoặc
tịch thu bằng các biện pháp hành chính.
+Doanh nghiệp có VNN không bị quốc hữu hoá.
+Cho phép ngời nớc ngoài chuyển các khoản vốn, tiền, lợi nhuận thuộc sở
hữu hợp pháp của họ .
Việc qui định các loại thuế một cách hợp lí nhằm bảo đảm lợi ích của ta vừa
bảo đảm lợi ích của nhà ĐTNN có tính đến các mức thuế đợc ban hành ở khu
vực Đông Nam á-Thái Bình Dơng.
Các nhà ĐTNN đợc quyền chủ động chọn cơ quan trọng tài Việt Nam hay Quốc
Tế để bảo vệ quyền lợi chính đáng của họ trong trờng hợp xảy ra tranh chấp.
- Quan điểm về khuyến khích các nhà ĐTNN đầu t vào Việt Nam.
Để tạo môi trờng đầu t thuận lợi cho việc thu hút vốn ĐTNN, Việt Nam
phải xây dựng một hệ thống chính sách mở cửa cùng với hệ chính sách đối nội
thông thoáng,hấp dẫn nhằm khuyến khích các nhà ĐTNN vào kinh doanh lâu
dài tại Việt Nam. Việc tiếp tục bổ xung và hoàn thiện luật pháp chính sách về
hợp tác đầu t, hải quan, xuất nhập cảnh, ngoại hối, tỉ giá hối đoái; làm cho hệ
thống luật pháp đủ sức hấp dẫn với nhà ĐTNN đồng thời cho phép và tạo điều
kiện để Việt Nam có thể ra Nớc ngoài tìm hiểu và ngiên cứu thị trờng.
- Quan điểm về bảo vệ quyền tự chủ trong hoạt động kinh doanh của nhà ĐTNN.
Luật ĐTNN tại Việt Nam đã thể hiện rõ quan điểm này và đang cố gắng
tạo mọi điều kiện cho các DNCVĐTNN hoạt động tự chủ nhất. Luật qui định
các bên hợp tác ĐT có toàn quyền quyết định chơng trình và kế hoạch kinh
doanh của mình . Qui định này phù hợp với cơ chế "mở cửa" thích hợp với sản
xuất kinh doanh trong nớc cũng nh nớc ngoài.
- Quan điểm giữ vững chủ quyền và bản sắc dân tộc đồng thời bảo vệ lợi ích
Quốc Gia trong quan hệ hài hoà với lợi ích các bên có liên quan.
Các hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung và ĐTNN nói riêng chỉ có
thể phát triển tốt và thực sự có hiệu quả trên cơ sở nớc sở tại giữ vững đợc chủ
quyền bản sắc dân tộc. Muốn vậy các nhà ĐTNN vào làm ăn ở nớc ta phải tôn
trọng và tuân thủ luật pháp của Việt Nam .Để thực hiện quan điểm này, trong
quá trình hợp tác đầu t đòi hỏi chúng ta cơng quyết về nguyên tắc, không để sơ
hở, không để họ lợi dụng ta nhng về sách lợc và biện pháp phải linh hoạt, mềm
dẻo,coi trọng cả kinh tế lẫn chính trị, lợi ích riêng, lợi ích chung, bảo đảm thông
thoáng và hấp dẫn đối với nhà ĐTNN.
8
- Quan điểm đa phơng hoá quan hệ đối tác, đa dạng hoá hình thức đầu t, triệt để
khai thác thế mạnh của cả nớc, của khu vực và các đối tác đầu t để phát triển có
hiệu quả nền kinh tế trong nớc.
Mỗi chủ thể kinh tế quốc tế đều có thế mạnh riêng, để khai thác có hiệu
quả thế mạnh của đối tác thì nớc sở tại phải đa phơng hoá quan hệ đối tác và đa
dạng hoá hình thức đầu t. Quan điểm này đợc thể hiện khá rõ nét qua việc thiết
lập quan hệ kinh tế nói chung, quan hệ đầu t nói riêng với nhiều cực, nhiều
trung tâm kinh tế, nhiều đối tác, không phân biệt ý thức hệ và thể chế chính trị
nhằm thu hút đợc nhiều vốn đầu t, mở rộng thị trờng và bạn hàng ba.
d. Tác động của FDI đối với nền kinh tế Việt Nam.
Nh đã trình bày, FDI tác động tới cả nớc tiếp nhận đầu t và nớc đi đầu
t. Việt Nam là một nớc tiếp nhận đầu t của Nhật Bản. Do đó, FDI của Nhật Bản
sẽ có tác động tới nền kinh tế của Việt Nam:
- Khắc phục tình trạng thiếu vốn của Việt Nam để phát triển kinh tế .
Cuối thập kỉ 80 và đầu thập kỉ 90, Việt Nam thực hiện mở cửa nền kinh
tế với xuất phát điểm rất thấp. Việt Nam là một nớc nghèo và lạc hậu, lại phải
đơng đầu với sự khan hiếm các yếu tố cần thiết cho sự tăng trởng kinh tế nh
vốn, công nghệ, kiến thức quản lí và kinh doanh. Để đạt đợc sự tăng trởng cao
và ổn định, đa đất nớc thoát khỏi tình trạng nghèo nàn và lạc hậu, Việt Nam
phải tiến hành CNH. Hai yếu tố có vai trò quyết định đến quá trình CNH là vốn
và công nghệ. Trong khi nguồn vốn trong nớc còn hạn chế thì phải tìm kiếm sự
bổ xung nguồn vốn từ bên ngoài, trong đó nguồn vốn FDI đóng vai trò quan trọng.
Một trong những đặc điểm cơ bản của các nớc đang phát triển nói chung
và Việt Nam nói riêng là thiếu ngoại tệ, tỉ lệ tiết kiệm nội địa thấp. Mặt khác
quá trình tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế chậm, không đáng kể cho yêu cầu CNH.
Trong hoàn cảnh đó nguồn vốn FDI đặc biệt là nguồn vốn FDI của Nhật Bản là
nguồn vốn hết sức quan trọng để phát triển kinh tế "Tổng số FDI của Nhật Bản
vào Việt Nam trong năm 2000 lên tới 5098 triệu đô la trong đó vốn thực hiện là
3908 triệu đô la, tỉ lệ 38%" . Ngày nay dới tác động của quá trình khu vực hoá
và toàn cầu hoá, Việt Nam đã lợi dụng đợc quá trình này để thu hút thêm nguồn
vốn từ bên ngoài đặc biệt là nguồn vốn từ Nhật Bản.
- Góp phần CGCN tiên tiến và kinh nghiệm quản lí của Nhật Bản vào Việt Nam.
Nguồn vốn FDI, do tính đặc thù của nó là quyền sử dụng gắn liền với
quyền sở hữu; do vậy để đảm bảo hiệu quả cho nguồn vốn đầu t, các nhà đầu t
Nớc ngoài thờng CGCN tơng đối tiên tiến sang các nớc tiếp nhận FDI. Đứng về
lợi ích lâu dài, đây chính là lợi ích căn bản nhất đối với các nớc tiếp nhận nguồn
vốn đầu t. Thực tiễn cho thấy các nớc thu hút nguồn vốn FDI đã cải thiện đáng
kể công nghệ sản xuất ở nớc mình.Thông qua FDI, công nghệ sản xuất ô tô, xe
9
máy, hàng điện tử và sản xuất các mặt hàng khác của Nhật Bản đã đợc chuyển
đến Việt Nam nói riêng và châu á nói chung. Qúa trình hình thành các mạng lới
giữa Nhật Bản và Việt Nam trên cơ sở phân công lao động quốc tế tạo ra sự
bùng nổ lẫn nhau về phụ tùng, nguyên liệu, xu hớng thành lập cơ sở sản xuất
lắp ráp và chế tạo ở Việt Nam. Khi các công ty Nhật Bản đợc bố trí ở Nớc ngoài
thì đồng thời Nhật Bản cũng đã CGCN và kiến thức quản lí tới các nớc đó dới
hình thức liên doanh, 100% vốn nớc ngoài. Việc CGCN từ Nhật Bản đến Việt
Nam, một mặt có nguyên nhân từ trong quá trình đầu t; mặt khác khi Nhật Bản
chuyển lên công nghệ kĩ thuật mới buộc Nhật Bản và các nớc có nền kinh tế
phát triển khác phải chuyển nhợng những công nghệ kĩ thuật truyền thống đến
các nớc đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng. Thông qua FDI, công
nghệ tơng đối hiện đại của Nhật Bản, cùng với phơng pháp quản lí tiên tiến và
nghiệp vụ marketing năng động và hiệu quả đã tạo ra những bớc nhảy vọt trong
quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam.
- Thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam tăng trởng nhanh.
Vào cuối thập kỉ 80, nền kinh tế Việt Nam còn kém phát triển, thế nhng
từ đầu những năm 90 cho đến nay, các quốc gia trên Thế Giới đang rất quan
tâm theo dõi tới Việt Nam.Bởi vì, tốc độ tăng trởng kinh tế đáng khâm phục mà
nền kinh tế của Việt Nam đã đạt đợc. Tốc độ tăng trởng kinh tế trung bình ở
Việt Nam từ năm 1990 cho đến năm 1995 là 9,5% và từ năm 1997 đến năm
2000 là 8,9% do ảnh hởng của cuộc khủng hoảng Tài chính tiền tệ Đông Nam
á nên tốc độ này đã xuống thấp, nhng không vì thế mà phủ nhận thành tựu tăng
trởng kinh tế ở Việt Nam. Do đâu mà Việt Nam đạt đợc tỉ lệ tăng trởng cao nh
vậy? Câu trả lời là do nhiều nhân tố, nhng một trong những nhân tố có vai trò
quyết định đến sự tăng trởng là FDI đặc biệt là đầu t trực tiếp từ Nhật Bản.
- Nâng cao năng lực xuất khẩu và giải quyết công ăn việc làm.
FDI là một hớng cơ bản góp phần nâng cao năng lực xuất khẩu của Việt
Nam, trên cơ sở đó có ngoại tệ để nhập khẩu máy móc công nghệ tiên tiến đẩy
nhanh quá trình CNH- HĐH đất nớc. Đồng thời cũng giúp Việt Nam giải quyết
đợc công ăn việc làm. Hiện nay, số lao động làm việc trong các doanh nghiệp
có vốn đầu t của Nhật Bản chiếm 37% trong tổng số lao động làm việc trong
các doanh nghiệp có vốn đầu t Nớc ngoài.

2.Chính sách đầu t trực tiếp của Nhật Bản.
Nh đã trình bày, FDI đợc thực hiện chủ yếu bởi các nớc phát triển mà
Nhật Bản là một trong những nớc đó. Chính sách FDI của Nhật Bản là nhằm
10
giải quyết mâu thuẫn với các bạn hàng và hoà nhập quốc tế.Cụ thể là đối với
các nớc đang phát triển là khai thác những lợi thế so sánh trong sản xuất, hình
thành sự phân công lao động quốc tế theo chiều ngang; đối với các nớc phát
triển là việc duy trì thị trờng nhằm đối phó với các chính sách bảo hộ của
những nớc này.
Đầu t trực tiếp của Nhật Bản bắt đầu từ sau chiến tranh Thế Giới lần thứ
hai vào năm 1951. Tới năm tài chính 1988, tổng số vốn đầu t của Nhật Bản lên
tới 186 tỉ đô la.Đầu t Nớc ngoài lên tới đỉnh cao vào năm 1973, sau đó giảm
dần do cơn sốt dầu lửa và tăng trở lại vào những năm 1980, mức trung bình
hàng năm của những năm nay là khoảng 2500 triệu đô la trờng hợp đầu t với
tổng số vốn gần 8 tỉ đô la. Đầu t đã tăng lên đột ngột sau khi đồng yên tăng giá,
bắt đầu từ hiệp định PLAZA vào năm 1985.Trong những năm tiếp theo,FDI
của Nhật Bản tiếp tục tăng mạnh.Việc tăng đột ngột trong FDI của Nhật Bản
bắt nguồn từ việc đồng yên lên giá cùng với nó là giá đất tăng làm cho chi phí
ở Nhật Bản trở nên cao nhất trên Thế Giới. Do sức cạnh tranh của nhiều hàng
hoá Nhật Bản đã suy yếu các công ty đã tìm kiếm địa điểm sản xuất ở nớc
ngoài. Những xung đột về buôn bán cũng làm cho các công ty của Nhật Bản
tăng vốn FDI ở các thị trờng nớc ngoài đặc biệt là Mỹ và EU.
FDI sẽ tạo cho các công ty Nhật Bản mở rộng thị trờng tiêu thụ sản
phẩm, tăng cờng bành trớng sức mạnh kinh tế, thông qua việc xây dựng các nhà
máy sản xuất, chế tạo, lắp ráp ở Việt Nam dẫn đến những sản phẩm của họ sẽ
đợc biết đến và tiêu thụ trên thị trờng Việt Nam.Đồng thời là sự giảm chi phí
sản xuất,rút ngắn thời gian thu hồi vốn đầu t thu lợi nhuận cao do sự lợi dụng
chênh lệch về điều kiện giá cả các yếu tố đầu vào của sản xuất ở Việt Nam so
với Nhật Bản. Trớc hết đó là chi phí về lao động. Tiền lơng của ngời lao động
Nhật Bản gấp 18 lần lơng của ngời lao động Việt Nam. Thứ hai, là chi phí về
nguyên, nhiên liệu có giá rẻ hơn lại không mất thêm những chi phí khác kèm
theo bao gồm chi phí về vận chuyển, thúê, các chi phí khác có liên quan. Tiếp
đó là các chi phí nh quảng cáo, tiếp thị Bên cạnh đó, FDI giúp các chủ đầu t
Nhật Bản đổi mới cơ cấu sản xuất , áp dụng công nghệ mới nâng cao năng lực
cạnh tranh. FDI sẽ giúp các công ty Nhật Bản chuyển những máy móc, công
nghệ lạc hậu so với trình độ chung của Thế Giới sang Việt Nam, tạo điều kiện
thuận lợi cho họ đổi mới thiết bị công nghệ, kéo dài chu kì sống của sản phẩm ở
thị trờng mới.
chơng ii
đầu t trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam
11
I. Tình hình chung quan hệ đầu t trực tiếp của Nhật Bản
vào Việt Nam
1. Từ năm 1989 đến năm 1997.
Trong quan hệ kinh tế Việt Nam và Nhật Bản, FDI từ Nhật Bản sang
Việt Nam đợc bắt đầu từ năm 1989. Năm 1989, Nhật Bản có 4 dự án mang tính
thăm dò, khảo sát trong các nghành chế biến, cơ khí, khách sạn. Đến năm 1990
chỉ mới có 1 dự án đầu t với số vốn là 1 triệu đô la. Chín tháng đầu năm 1994
các công ty Nhật Bản có 21 dự án với tổng số vốn đầu t 162 triệu đôla, tăng
107% so với năm 1989. So với các đối tác khác Nhật Bản là ngời đầu t vào sau
Việt Nam.Đến năm 1994, Nhật Bản là nớc đứng thứ 5 trong số các nớc chủ yếu
đầu t vào Việt Nam sau Đài loan, Hồng kông, Sinhgapo, Hàn Quốc. Một quan
chức thuộc UBNN về hợp tác đầu t ( SCCI) viết:" Trong số các bạn hàng nớc
ngoài, Nhật Bản là nớc tơng đối chậm chạp trong đầu t ở Việt Nam, mức tăng
đầu t không cao, vừa đầu t vừa nghe ngóng, chờ thời".
So với đầu t của Nhật Bản ở các nớc đang phát triển khác ở châu á thì số
lợng đầu t của Nhật Bản vào Việt Nam là quá nhỏ. Đầu t của Nhật Bản ở Việt
Nam cũng tăng chậm so với đầu t của Mĩ, mặc dù" các công ty Mỹ là ngời đến
dự tiệc sau", vì đến tháng 2-1994 chính quyền Mỹ mới bỏ lệnh cấm vận chống
Việt Nam . Chỉ sau tháng 3-1994 đến tháng 3-1995, đầu t của Mỹ ở Việt Nam
đã lên tới con số 517 triệu đôla, đứng thứ 8 trong thứ tự các nớc đầu t ở Việt
Nam từ năm 1988, sau Đài loan với tổng số vốn đầu t là 2,47 tỉ đô la, tiếp theo
là Hồng kông với 2,02 tỉ đô la, Xinhgapo với 1,21 tỉ đô la,Hàn quốc1,07tỉ đô la,
Nhật 949 triệu đô la, úC 678 triệu đô la, Malaixia 618 triệu đô la. Nh vậy, các
công ty Mĩ đã tiến nhanh trong danh sách các nhà ĐTNN ở Việt Nam.
Nguyên nhân giải thích tại sao các công ty Nhật Bản chậm chạp đầu t
vào Việt Nam tất nhiên không phải do Nhật Bản không đủ mạnh về kinh tế. Cả
Nhật Bản và Mỹ đều là những siêu cờng kinh tế trên Thế Giới. Lí do chính cũng
không phải do môi trờng đầu t của Việt Nam kém hiệu phát triển, vì với tình
trạng môi trờng đầu t nh vậy nhng các nhà đầu t đến từ Đài loan, Hồng kông, ,
đã đến đầu t nhanh và nhiều hơn các công ty Nhật Bản.Vậy đằng sau các công
ty Nhật Bản có nguyên nhân gì? Tiến sĩ TOSHIHIKO KINOSHITA, giám đốc
điều hành viện ngiên cứu phát triển và ĐTQT Ngân hàng xuất nhập khẩu Nhật
Bản, đã dựa trên những cơ sở điều tra của ngân hàng và nêu ra những mối quan
tâm chủ yếu của công ty Nhật Bản nh sau:"Thứ nhất là chi phí lao động, đất
đai, nguyên liệu thô và năng lợng. Thứ hai là qui mô của thị trờng địa phơng
hoặc thị trờng khu vực. Thứ ba, là những trở ngại về vật chất, địa lí, và những
trở ngại do con ngời tạo ra, trong đó có chính sách Công Ngiệp là cái quyết
định những điều kiện trên đây. Nói một cách đơn giản là: Thứ nhất, nơi có yếu
tố chi phí sản xuất thấp, có sự tập trung tơng đối của các ngành công ngiệp mà
12
khả năng cạnh tranh phụ thuộc vào các yếu tố đầu vào sẵn có với chi phí thấp.
Thứ hai, trên các thị trờng lớn hoặc đang mở rộng với tốc độ nhanh chóng, các
công ty thiết lập đợc mạng lới bán hàng, các cơ sở sản xuất khẳng định đợc khả
năng cạnh tranh của họ. Trong một số trờng hợp nhất định, việc đầu t đợc thực
hiện ở một địa điểm đặc biệt trong đó có sự hấp dẫn trên cả hai phơng diện: chi
fí và qui mô thị trờng.Có thể thấy rằng các công ty Nhật Bản trong việc đa ra
quyết định theo hớng đa quốc gia hoá không khác gì so với các công ty Mỹ và
Tây âu. Tuy nhiên, Nhật Bản có lợi thế về mặt địa lí ở Châu á, các công ty Nhật
Bản có xu hớng ra quyết định đầu t trên cơ sở, của tầm nhìn dài hạn, đầu t của
Nhật Bản tập trung các ngành chế tạo hơn là các ngành dịch vụ đặc biệt các
công ty Nhật Bản rất cọi trọng trong việc kiểm tra chất lợng và tỉ giá trao đổi
của đồng yên so với đồng đô la tăng lên một cách đột ngột và tăng mạnh đó là
những đặc điểm đã chi fối phần lớn cách ứng xử của các công ty Nhật khi họ
quyết định đầu t vào đâu, hoặc CGCN nh thế nào, cách làm này đã tạo ra những
khác biệt quan trọng giữa các công ty Nhật Bản và các công ty đa quốc gia
đóng tại Mỹ và Châu Âu. Tuy nhiên, mức đầu t của Nhật Bản qua các năm đều
tăng và luôn đứng vào nhóm các quốc gia có lợng vốn đầu t lớn nhất ở Việt
Nam. Theo số liệu của vụ quản lí Bộ KH - ĐT cho đến tháng 12-1997 số dự án
đầu t của Nhật Bản vào Việt Nam là 262 với số vốn 3445,7 triệu đô la, vốn
thực hiện là 1467,3 triệu đô la, doanh thu là 1201,9 triệu đô la và thu hút 20213
lao động.
2.Từ năm 1997- đến nay.
Điều đáng chú ý là, Đầu T của Nhật Bản từ năm 1997 trở lại đây có xu
hớng giảm sút với tốc độ khá nhanh. Cho đến năm 1997 Nhật Bản có 215 dự
án(đứng thứ 2) với số vốn gần 3,5 triệu đô la(đứng thứ 3). Bớc sang năm 1998
Nhật Bản có 17 dự án( đứng) với số vốn 177,5 triệu đô la (đứng thứ 6). Bớc
sang năm 1999, tốc độ còn giảm mạnh hơn, năm tháng đầu năm chỉ đạt trên
30,7 triệu đô la và cho đến hết tháng 11 chỉ đạt 42 triệu đô la và đứng hàng thứ
9 trong các đối tác Đầu T vào Việt Nam. Sự suy giảm này gắn liền với sự
khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu á và cuộc suy thoái kinh tế của Nhật Bản.
Mặt khác ,sự suy giảm đầu t của nền kinh tế Nhật Bản vào Việt Nam trong hai
năm qua không nên chỉ nhìn nhận từ bối cảnh quốc tế và sự suy thoái của nền
kinh tế Nhật Bản .Nguyên nhân chính của sự suy giảm đó còn cần đợc nhìn
nhận từ phía Việt Nam. Chúng ta đã nhiều lần sửa đôỉ luật đầu t,ban hành
không ít chính sách hỗ trợ.Song trên thực tế môi trờng kinh doanh của ta vẫn
cha đủ sức hút. Hiện nay chúng ta đang đứng thứ 7 trong xếp hạng môi trờng
đầu t ở 10 quốc gia thuộc AS EAN. Cái yếu nhất trong môi trờng kinh doanh
của chúng ta so với các nớc trong khu vực là hiệu quả hoạt động của bộ máy
hành chính. sau nữa là hệ thống thuế, hai nhân tố gắn liền với bộ máy nhà nớc .
Hiện nay, nền kinh tế Nhật đang có dấu hiệu phục hồi, các quốc gia châu á
cũng đang từng bớc khắc phục hậu quả khủng hoảng Tài chính- tiền tệ và có b-
13
ớc phát triển, và đáng chú ý xu thế đồng yên tăng giá hiện nay có thể là những
tác nhân sẽ góp phần cải thiện tình hình đầu t của Nhật ở Việt Nam. Về phía
Việt Nam đang dần cải thiện môi trờng đầu t, lắng nghe ý kiến của các chủ ĐT
để gia tăng FDI của Nhật vào Việt Nam .
Bảng 4. So sánh vốn đầu t của một số nớc vào Việt Nam
Đơn vị tính: triệu USD
Tên nớc
1/1/1997-
15/5/1997
1/1/1998-
15/5/1998
1/1/1999-
15/5/1999
Đài Loan 61,8 105 39
Nhật Bản 217,9 101,2 30,7
Hàn Quốc 103,1 7,96 2,8
Hồng Kông 10,4 116 12,5
Xingapo 119,1 787,1 13,85
Thái Lan 252,3 5,35 2,0
Malaixia 18,3 5,0 6,9
Philippin 14,3 1,4
Nguồn : Bộ Kế hoạch và đầu t
3.Động cơ các doanh nghiệp Nhật Bản đầu t vào Việt Nam và các doanh
nghiệp Việt Nam chấp thuận đầu t trực tiếp của Nhật Bản.
a. Lí do mà các hãng Nhật Bản đầu t vào Việt Nam là:
-Thị trờng Việt Nam.
Theo đánh giá của các nhà kinh tế, đây là một thị trờng mới đầy tiềm năng
và hấp dẫn không chỉ đối với các nhà kinh doanh Nhật Bản mà còn đối với các
nhà kinh doanh Nớc ngoài khác. Bởi những lí do, thứ nhất, là khả năng cung
cấp các yếu tố đầu vào của thị trờng cho các công ty hoạt động tại Việt Nam với
số lợng rất lớn, đa dạng và có chất lợng cao,chi phí thấp.Thứ hai, có nguồn nhân
lực dồi dào, giá nhân công rẻ,chăm chỉ và tỉ lệ biết chữ của ngời dân Việt Nam
rất cao. Vì vậy, các doanh nghiệp sẽ giảm đợc chi phí về lao động và các chi phí
khác có liên quan. Tiếp đến, là số lợng các đối thủ cạnh tranh cha nhiều, năng
lực tài chính không lớn, các điều kiện về yêu cầu kĩ thuật vẫn còn thấp, uy tín
của họ không có ảnh hởng lớn đối với thị trờng Việt Nam so với các doanh
nghiệp của Nhật Bản. Mặt khác, trong những năm vừa qua tốc độ tăng trởng của
nền kinh tế Việt Nam rất là cao (trung bình là 9% tính từ năm 1990-2000) và ổn
định, tỉ lệ lạm phát thấp, ít có biến động, đời sống của ngời dân ngày càng đợc
nâng cao.Tuy nhiên, các nhà kinh doanh Nhật Bản có sự thuận lợi hơn khi xâm
nhập thị trờng Việt Nam. Việt Nam là một nớc thuộc Châu á, do đó thị trờng
của họ cũng có những nét tơng đồng nh thị trờng Nhật Bản.
-Sự mời chào của các doanh nghiệp Việt Nam hoặc của các nhà chức trách
Việt Nam.
Chính Phủ Việt Nam cố gắng tạo mọi điều kiện, khả năng thuận lợi nhất
để các nhà đầu t Nớc ngoài đến kinh doanh và hoạt động tại Việt Nam. Chính
Phủ luôn cải thiện môi trờng đầu t sao cho thông thoáng, không kồng kềnh, các
14
thủ tục nhanh gọn, cải tiến cơ sở hạ tầng, đa ra những chính sách để bảo hộ các
DNCVĐTNN hoạt động, kinh doanh tại Việt Nam một cách thuận lợi. Về phía
doanh nghiệp Việt Nam sẵn sàng đáp ứng những nhu cầu mà phía Nớc ngoài
quan tâm chủ yếu vấn đề yếu tố đầu vào nh lao động, nguyên, nhiên liệu, các tài
sản sẵn có của doanh nghiệp là mặt bằng, nhà xởng, các yếu tố khác. Danh
tiếng, uy tín của doanh nghiệp Việt Nam cũng là yếu tố quan trọng mà các nhà
đầu t quan tâm, bởi lẽ những doanh nghiệp này đã có sẵn một thị trờng trớc đây,
tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm sau này của doanh nghiệp
mới.
-Tạo dựng hình ảnh của doanh nghiệp.
Thông qua hoạt động FDI, các nhà kinh doanh Nhật Bản sẽ xây dựng
những nhà máy sản xuất, chế tạo hoặc lắp ráp tại Việt Nam để mở rộng thị tr-
ờng tiêu thụ sản phẩm, thâm nhập thị trờng một cách hữu hiệu đồng thời cũng
tạo đợc danh tiếng, hình ảnh của doanh nghiệp đặc biệt thông qua các kênh
quảng cáo, thông tin.
b. Lí do mà phía đối tác Việt Nam chấp thuận FDI
Việt Nam là một nớc đang phát triển và đang thực hiện quá trình CNH-
HĐH, do đó nhu cầu về vốn và công nghệ rất là lớn. Trong khi nguồn vốn trong
nớc còn nhiều hạn chế thì phải tìm kiếm sự bổ xung từ bên ngoài, trong đó
nguồn vốn FDI đóng vai trò quan trọng, đặc biệt là nguồn vốn, công nghệ đầu t
trực tiếp từ Nhật Bản. Vì vậy, động cơ chính của phía đối tác Việt Nam là nhập
khẩu công nghệ và sử dụng nguồn vốn, các linh kiện của Nhật Bản nhằm đáp
ứng nhu cầu của thị trờng nội địa, đồng thời sử dụng các kênh xuất khẩu của
Nhật Bản để mở rộng thị trờng tiêu thụ sản phẩm.

II.Đánh giá hoạt động đầu t trực tiếp của Nhật Bản vào
Việt Nam.
1. Các ngành, lĩnh vực kinh tế mà chủ đầu t Nhật Bản đầu t vào Việt Nam.

Đầu t của Nhật tơng đối đa dạng, phân phối ở khá nhiều lĩnh vực song
tập trung chủ yếu vào khu vực sản xuất công nghiệp, vào xây dựng cơ sở hạ
tầng phát triển nông thôn. Riêng lĩnh vực công nghiệp chiếm 60% tổng số dự
án 61% tổng số vốn, 71,4% vốn thực hiện trong đó ĐT cao nhất vào lĩnh vực
dầu khí, dới đó là các ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp thực phẩm. Các
nghành dịch vụ nh: khách sạn du lịch, bảo hiểm; ngân hàng; thuỷ sản thì FDI
của Nhật không chỉ thấp về mức vốn mà còn nhỏ bé về qui mô dự án.
Bảng 5. FDI của Nhật Bản theo ngành ở Việt Nam
(Tính đến 31/12/1999)
Ngành
Số dự án Tổng số đầu t
(triệu USD)
Vốn thực hiện
(triệu USD)
15

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét