Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

những nội dung cơ bản trong quan niệm của nho giáo về xã hội lý tưởng


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "những nội dung cơ bản trong quan niệm của nho giáo về xã hội lý tưởng": http://123doc.vn/document/1054707-nhung-noi-dung-co-ban-trong-quan-niem-cua-nho-giao-ve-xa-hoi-ly-tuong.htm


tác giả khác như tác giả Phan Văn Hoàng với bài viết Chủ tịch Hồ Chí Minh với
những yếu tố tích cực của Nho giáo; tác giả Minh Anh với bài viết Hồ Chí
Minh với Nho giáo; tác giả Kiều Thu Hoạch với bài viết Hồ Chí Minh với di sản
Nho giáo; tác giả Lê Ngọc Tân với bài Hồ Chí Minh và tư tưởng Khổng giáo;
…v.v.
- Hướng nghiên cứu thứ hai: Nghiên cứu Nho giáo chỉ chủ yếu là nhằm vạch ra
những hạn chế tiêu cực của Nho giáo, để từ đó và chủ yếu là nhằm bài xích Nho
giáo, coi Nho giáo là vô dụng, là có hại, không phù hợp với thời đại khoa học và
dân chủ. Tiêu biểu cho khuynh hướng này là các công trình nghiên cứu của Vi
Chính Thông, Trần Độc Tú, Trần Khuê, Nguyễn Thị Thanh Xuân, Mai Trung
Hậu,…v.v. Các tác giả này đã từ những yếu tố, tính chất tiêu cực và hạn chế của
Nho giáo để bảo vệ quan điểm của mình rằng, Nho giáo là có hại, nó không có
giá trị đối với văn hóa truyền thống và hiện nay ở Trung Quốc và Việt Nam.
Chẳng hạn, theo như tác giả Mai Trung Hậu thì, “Nho giáo về cơ bản mâu thuẫn
với truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam”; hay như một ý kiến khác của
tác giả Hà Thúc Minh cho rằng, ngay khi hình thành, “Nho giáo cũng không
phải là động lực phát triển kinh tế, thì ngày nay đối với nền kinh tế thị trường
càng khó có thể coi Nho giáo là một động lực phát triển kinh tế” vì theo tác giả,
“Nội dung giảng dạy chủ yếu của Nho giáo là lễ giáo, đạo đức chứ không phải
là sản xuất, khoa học, kinh tế”. Rõ ràng, những quan điểm trên chủ yếu là phủ
nhận vai trò và ảnh hưởng của Nho giáo trong xã hội Việt Nam trước kia, đặc
biệt là trong thời đại hiện nay. Do vậyTuy mà, những ý kiến này là siêu hình,
không có sức thuyết phục và không có được sự đồng thuận cao trong giới
nghiên cứu Nho giáo.
Sự trình bày trên đây càng cho thấy, nghiên cứu, đánh giá về Nho giáo và
ảnh hưởng của Nho giáo đối với xã hội và con người Việt Nam là một vấn đề
hết sức phức tạp, đòi hỏi cần phải nghiên cứu và làm rõ thêm.
Cũng trong hướng nghiên cứu thứ nhất, nghiên cứu quan niệm của Nho
giáo về xã hội lý tưởng là một vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm. Trong
các công trình nghiên cứu ở Việt Nam về vấn đề này, phải kể đến các tác giả
5
Nguyễn Tài Thư, Nguyễn Hiến Lê, Phạm Văn Khoái, Nguyễn Thanh Bình,…
v.v. Mặc dù vậy, việc nghiên cứu quan niệm của Nho giáo về xã hội lý tưởng
chỉ dừng lại ở các bài báo đăng trên các tạp chí, hay được nghiên cứu trong
tổng thể học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo, trong tổng thể tư tưởng của
một số nhà Nho tiêu biểu ở Trung Quốc và Việt Nam, cho nên trong những
công trình này, các tác giả cũng mới chỉ ra những nét khái quát nhất mô hình xã
hội lý tưởng của Nho giáo và những đặc trưng cơ bản của xã hội lý tưởng trong
quan niệm của Nho giáo mà thôi. Tiếp tục hướng nghiên cứu về xã hội lý tưởng
của Nho giáo, từ góc độ nghiên cứu triết học, chúng tôi nhận thấy rằng, cần phải
nghiên cứu, làm rõ thêm về nội dung, dù chỉ là những nội dung cơ bản trong
quan niệm này của Nho giáo một cách có hệ thống để từ đó có cơ sở chỉ ra
những giá trị và hạn chế cũng như ý nghĩa của nó ở Việt Nam hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
Mục đích của luận văn là: Xuất phát từ Lý do chọn đề tài và Tình hình
nghiên cứu liên quan đến đề tài, thông qua nghiên cứu những tiền đề, điều kiện
và những nội dung cơ bản trong quan niệm của Nho giáo về xã hội lý tưởng chỉ
để chỉ ra những giá trị, hạn chế chủ yếu của nó và từ đó rút ra ý nghĩa của nó
trong việc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.
Nhiệm vụ của luận văn là, để đạt được mục đích trên, Luận văn tập trung
làm rõ những nội dung chủ yếu sau:
- Những điều kiện, tiền đề chủ yếu cho sự hình thành và phát triển quan điểm
của Nho giáo về xã hội lý tưởng;
- Trình bày một cách có hệ thống những nội dung cơ bản trong quan niệm của
Nho giáo về xã hội lý tưởng;
- Chỉ ra một số giá trị và hạn chế chủ yếu trong quan niệm trên của Nho giáo.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
Cơ sở lý luận của Luận văn được dựa trên cơ sở lý luận của triết học Mác
- Lênin trong nghiên cứu về xã hội và con người.
Phương pháp nghiên cứu của Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp
biện chứng duy vật của Triết học Mác – Lênin kết hợp với một số phương pháp
6
nghiên cứu khoa học khác như phương pháp lôgic và lịch sử; phương pháp phân
tích - tổng hợp; phương pháp đối chiếu – so sánh.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn.
Đối tượng nghiên cứu: Quan niệm của Nho giáo về xã hội lý tưởng
Phạm vi nghiên cứu:
- Một số tác phẩm của Nho giáo, chủ yếu là Tứ thư, Ngũ Kinh;
- Các tác phẩm và các công trình nghiên cứu về Nho giáo và Nho giáo Việt
Nam.
6. Đóng góp của Luận văn.
Luận văn trình bày có hệ thống những nội dung chủ yếu trong quan niệm
của Nho giáo về xã hội lý tưởng.
7. Ý nghĩa của Luận văn.
Từ góc độ triết học, Luận văn bước đầu làm sáng tỏ và trình bày có hệ
thống những tiền đề, điều kiện ra đời và những nội dung cơ bản trong quan
niệm của Nho giáo về xã hội lý tưởng.
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong việc gảng dạy, nghiên cứu
và học tập về Nho giáo nói chung và quan điểm của Nho giáo về xã hội lý tưởng
nói riêng.
8. Kết cấu của Luận văn:
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Nội dung của Luận
văn gồm 2 chương với 5 tiết.
Chương 1. Những điều kiện và tiền đề chủ yếu cho sự hình thành quan
niệm của Nho giáo về xã hội lý tưởng,với 2 tiết.
Chương 2. Quan niệm của Nho giáo về xã hội lý tưởng, với 3 tiết.
7
NỘI DUNG
Chương 1.
NHỮNG ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ CHỦ YẾU CHO SỰ HÌNH THÀNH
QUAN NIỆM CỦA NHO GIÁO VỀ XÃ HỘI LÝ TƯỞNG.
1.1. Điều kiện kinh tế - xã hội thời Xuân Thu - Chiến Quốc với sự hình
thành và phát triển quan niệm của Nho giáo về xã hội lý tưởng.
Theo nhiều tài liệu sử học Trung Quốc, khoảng hơn 2000 năm tr.CN
(2205 -1766), nhà Hạ - nhà nước chiếm hữu nô lệ đầu tiên ở Trung Quốc đã
xuất hiện. Trải qua quá trình phát triển, đến thế kỷ thứ XVIII tr.CN, Thành
Thang - người đứng đầu nhà Thương đã lật đổ vua Kiệt nhà Hạ, lập nên nhà
Thương đặt và kinh đô ở đất Bạc, tỉnh Hà Nam ngày nay. Đến thế kỷ XIV
tr.CN, vua Bàn Canh – nhà Thương đã dời đô đến đất Ân nên đổi tên thành nhà
Ân. Rồi đến khoảng thế kỷ thứ XII tr.CN, bộ tộc Chu nổi lên ở khu vực sông Vị
thuộc tỉnh Thiểm Tây, ra sức phát triển nông nghiệp và chinh phục các bộ tộc
lân cận, chuẩn bị thế lực lật đổ nhà Thương. Hệ quả là đến thế kỷ thứ XI tr.CN,
Chu Vũ Vương con của Chu Văn Vương đã diệt vua Trụ nhà Thương, lập ra
nhà Chu ở phía Tây – gọi là nhà Tây Chu, đưa chế độ chiếm hữu nô lệ lên lên
giai đoạn phát triển cao hơn.
Dưới thời nhà Tây Chu, vua nhà Chu tự phong là “Thiên tử”, là lãnh chúa
tối cao thống trị toàn bộ đất đai và thần dân trong thiên hạ. Để biểu đạt uy
quyền của thiên tử nhà Chu, trong chương Công Tôn Sửu, sách Mạnh Tử, Mạnh
Tử nói “Dưới bầu trời không có chỗ nào không phải là đất nhà vua, khắp mặt
đất không người nào không là tôi nhà vua”[6, tr.164]. Như vậy có thể thấy, ở
thời Tây Chu, quyền lực của “Thiên Tử” là tối cao, là vô hạn, “Lễ, nhạc, chinh
phạt tự Thiên tử xuất”. Tuy nhiên, đến khoảng năm 771 tr.CN, khi Chu Bình
Vương dời đô về phía Đông thì nhà Chu suy yếu, “mệnh lệnh nhà Chu không ai
theo, chế độ tông pháp dần bị phá bỏ, các nước chư hầu phân dã đến khoảng
160 nước. Nhà Chu không còn khống chế được các vua chư hầu. Đây là thời
điểm mở đầu thời Xuân Thu (bắt đầu từ năm 770 đến năm 475 tr.CN). Trung
8
Quốc bước vào thời kỳ giao thời giữa hai chế độ xã hội – giai đoạn suy vong
của chế độ chiếm hữu nô lệ và sơ kỳ chế độ phong kiến đang lên” [6. tr164 –
165].
Nho giáo, như nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định, về cơ bản là học
thuyết chính trị - xã hội và đạo đức ra đời từ thời Xuân Thu – Chiến Quốc (770
– 221 tr.CN), thời kỳ suy tàn của chế độ chiếm hữu nô lệ và hình thành chế độ
phong kiến sơ kỳ. Để nghiên cứu nội dung, tính chất và những giá trị hạn chế
của một học thuyết chính trị - xã hội nào đó, nhất thiết phải dựa trên một cơ sở
lí luận và phương pháp luận khoa học. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác –
Lênin, con người và ý thức của con người tuy có thể tác động vào xã hội, tồn tại
xã hội nhưng ý thức, tư tưởng của con người lại do cái xã hội, cái tồn tại xã hội
ấy quy định. Như C.Mác đã khẳng định: “Không phải ý thức con người quyết
định tồn tại xã hội mà ngược lại, chính tồn tại xã hội đã quyết định ý thức con
người” [69, tr. 6]. Cho nên, khi nghiên cứu tư tưởng của một thời đại nào đó của
lịch sử, nếu chúng ta muốn có một kết luận chính xác, điều quan trọng bậc nhất
là phải nắm bắt được tình hình kinh tế và tình hình chính trị của thời đại ấy;
hiểu biết những nét căn bản phương thức sản xuất của thời đại ấy và những hình
thức căn bản của sự phát triển những mâu thuẫn của thời đại, ở tính đối lập của
những mâu thuẫn và tính thống nhất các mặt đối lập trong thời đại đó. Dựa trên
cơ sở lí luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, nghiên cứu quan
niệm của Nho giáo về xã hội lý tưởng, điều quan trọng và có ý nghĩa quyết định
là nắm bắt được tình hình kinh tế, chính trị - xã hội của thời kỳ Xuân Thu -
Chiến Quốc – cơ sở hình thành quan niệm ấy của Nho giáo về xã hội lí tưởng. Ở
thời kỳ này, tình hình kinh tế, chính trị xã hội biểu hiện tập trung ở những điểm
sau:
Thứ nhất: Nền kinh tế có những chuyển biến mạnh mẽ, sức sản xuất có
bước phát triển, do “Công cụ sản xuất, nhất là công cụ bằng đồ sắt đã bắt đầu
xuất hiện” với sự ra đời của nhiều công cụ lao động mới, “việc dùng bò kéo cày
trở thành phổ biến” [6, tr.165]. Với sự xuất hiện của công cụ lao động bằng sắt
đã tạo điều kiện thuận lợi cho nền sản xuất xã hội phát triển – cơ sở của những
9
sự chuyển biến về kinh tế, chính trị, xã hội thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc. Mô
tả sự xuất hiện của kim loại trong xã hội, sách Quốc ngữ có viết: “Đồng thau để
đúc kiếm kích… sắt dùng để đúc cuốc cào và quả cân” [6, tr.165]. Chính sự
chuyển biến ấy “không chỉ thúc đẩy kỹ thuật luyện sắt phát triển mà còn tạo
điều kiện cho việc khai khẩn đất hoang, phát triển kỹ thuật canh tác, “dẫn thủy
nhập điền”, góp phần nâng cao năng suất lao động trong nông nghiệp” [6,
tr.165] mà còn tạo điều kiện cho các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa đều phát
triển, “đặc biệt là sự phát triển của kinh tế, chính trị, văn hóa trong các nước chư
hầu Tề, Trịnh, …” [69, tr.39]. Cũng chính nhờ vào sự chuyển biến của công cụ
lao động mà làm cho các nước chư hầu như Tề, Trịnh có sự phát triển vượt bậc
hơn hẳn so với nhà Chu. “Trường hợp nhà họ Quý, một gia thần ở nước Lỗ
được đánh giá là “giàu hơn Chu Công, ông tổ của nước Lỗ, đã phần nào minh
chứng cho tình hình đó” [37, tr.125]. Vì vậy mà qua đó, các nước chư hầu có
thêm điều kiện và cơ hội đua nhau gây chiến để tranh giành quyền lực, tranh
giành địa vị, đất đai với nhà Chu. Và khi các nước chư hầu nhỏ, nhờ vào sự cố
gắng nỗ lực của bản thân mà trở nên phát triển hùng mạnh, thì không có lí do gì
các nước đó lại cam chịu bị các nước khác ở trên thống trị, nô dịch. Vì thế, việc
các nước đó gây chiến tranh nhằm xác lập lại địa vị của mình, phân chia lại bờ
cõi trong thiên hạ cũng là một sự tất yếu. Đây là một nguyên nhân quan trọng
bậc nhất dẫn đến tình trạng xã tắc loạn lạc, tình trạng trong thiên hạ “vua không
ra vua, cha không ra cha, con không ra con” diễn ra phổ biến – một bối cảnh xã
hội quan trọng đưa đến sự nảy sinh, hình thành các học thuyết chính trị - xã hội,
đặc biệt là học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo, trong đó có quan niệm của
Nho giáo về xã hội lý tưởng. Tuy nhiên cũng cần phải thấy rằng, mặc dù đã có
sự phát triển như vậy nhưng đời sống kinh tế, xã hội vẫn phụ thuộc và chịu sự
tác động của điều kiện tự nhiên (hạn hán, thiên tại, bão lụt,…v.v.), tình trạng
mất mùa vẫn diễn ra hết sức phổ biến, tình cảnh dân ly tán, tha phương cầu thực
khắp nơi. Vì vậy, một vấn đề có ý nghĩa lí luận và thực tiễn được đặt ra là,
muốn đưa xã hội từ tình trạng loạn lạc trở thành một xã hội có trật tự thì, “Vua
phải theo đúng đạo làm vua, tôi phải theo đúng đạo làm tôi, cha phải theo đúng
10
đạo làm cha, con phải theo đúng đạo làm con”. Nhưng để đạt được mục đích
này thì một trong những yêu cầu chủ yếu là, “Thiên Tử”, các vua chư hầu, các
quan đại phu phải thi hành đúng “Đạo”, đúng “Lễ” của nhà Chu, phải xây dựng
một xã hội thái bình, thịnh trị. Và theo nhà Nho, xã hội ấy là xã hội Đại đồng,
xã hội hữu đạo – đó cũng chính là xã hội lý tưởng cần phải được thiết lập, duy
trì. Bởi theo như Khổng Tử thì, “Thiên hạ yên trị thì việc lễ nhạc đều xuất phát
từ thiên tử; thiên hạ vô đạo thì việc lễ nhạc và chinh phạt xuất phát từ các vua
chư hầu. Xuất phát từ chư hầu thì ít khi giữ nổi quá mười đời; xuất phát từ các
quan đại phu ít khi giữ nổi quá năm đời. Các bồi thần nắm giữ quyền chính
trong nước ít ai giữ nổi quá ba đời. Thiên hạ yên trị, việc chính trị không ở trong
tay các quan đại phu. Thiên hạ yên trị thì người dân thường chẳng nghị luận
việc nước” [22, tr.597 -598].
Thứ hai: Chế độ chiếm hữu tư nhân về ruộng đất ra đời là cơ sở cho sự
xuất hiện của các giai cấp và các tầng lớp mới trong xã hội, làm cho các mâu
thuẫn giữa các giai cấp trong xã hội ngày càng mở rộng và gay gắt: Ở Trung
Quốc, thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc, trong cấu trúc các quan hệ thân tộc đã
có những thay đổi căn bản theo xu hướng những liên hệ thân thuộc theo huyết
thống giảm dần, những liên hệ kinh tế trên cơ sở sở hữu ruộng đất tăng lên.
Những chính sách về ruộng đất do những đại diện của phái Pháp gia như Quản
Trọng, Thương Ưởng đưa ra đã dần làm thay đổi các quan hệ về sở hữu ruộng
đất. Theo đề nghị của Quản Trọng, vua Tề Hoàn Công đã áp dụng những mức
thuế khác nhau đối với ruộng đất nhằm làm giảm hiện tượng nông dân bỏ ruộng
đất canh tác, ly tán bốn phương. Đến Thương Ưởng, lối chia ruộng đất bình
quân theo chế độ tỉnh điền đã không còn. Những biến đổi về kinh tế tất yếu dẫn
đến những thay đổi về thiết chế xã hội và các quan hệ xã hội. Mâu thuẫn giữa
các tầng lớp trong xã hội trở nên phổ biến: Mâu thuẫn giữa tầng lớp quý tộc nhà
Chu và giai cấp địa chủ mới với nông dân; Mâu thuẫn giữa tầng lớp quý tộc cũ,
bảo thủ muốn duy trì chế độ thống trị cũ với một bộ phận quý tộc mới muốn
thực hiện cải cách để duy trì sự thống trị của mình; Mâu thuẫn giữa các phe phái
trong nội bộ quý tộc với nhau muốn tiêu diệt lẫn nhau, tranh giành với nhau
11
nhằm thiết lập quyền thống trị cho riêng mình. Trong phạm vi xã hội, đó là mâu
thuẫn giữa Thiên tử với các nước chư hầu. Nếu như ở đầu thời Chu (Tây Chu),
Thiên tử có quyền uy tối cao, mọi việc đều do “thiên tử xuất”, “Dưới trời đất đai
nào chẳng là của vua, dân ở trên đất người nào mà chẳng là tôi tớ của vua” , thì
đến thời Xuân Thu - Chiến Quốc, thiên tử nhà Chu không còn giữ vai trò tối cao
như trước, mà giờ đây, nền chính trị lại do các nước chư hầu làm bá chủ và chi
phối. Mâu thuẫn gay gắt trong giới quý tộc đã làm cho xã hội rối ren, trật tự xã
hội bị đảo lộn, tình trạng cướp bóc, tranh giành nhau về địa vị, quyền lực, đất
đai, ….v.v không được khắc phục, ngăn chặn. Trong sách Luận ngữ, Khổng Tử
đã gọi đây là thời đại: quân bất quân, thần bất thần, phụ bất phụ, tử bất tử (nhà
vua không theo đúng đạo làm vua, bề tôi không theo đúng đạo làm bề tôi, cha
không theo đúng đạo làm cha, con không theo đúng đạo làm con). Mô tả về sự
hỗn loạn đẳng cấp và danh phận, trong thiên Bát dật sách Luận ngữ, Khổng tử
than rằng “Các nước kém mở mang còn có vua, không hề giống như các nước ở
Trung hoa (cứ như thể) không vua” [22, tr.241].
Sở dĩ có tình trạng mâu thuẫn như trên cũng xuất phát từ sự phát triển của
sản xuất. Bên cạnh sự phát triển của các nước chư hầu như Tề, Trịnh thì đối lập
lại với nó là sự suy vi của nhà Tây Chu, vì thế một mặt, dẫn đến tình trạng hình
thành sự lớn mạnh và thôn tính lẫn nhau của các lãnh chúa địa phương; mặt
khác, thiên tử, tên lãnh chúa cao nhất dần dần giảm mất địa vị và vai trò thống
trị thiên hạ. Phản ánh sự suy vong của nhà Tây Chu, trong sách Kinh Thi có nói:
“Đến lúc đạo vua đã suy vi, lễ nghi bị thay đổi, chính giáo bị sút kém. Chính trị
trong nước đã đổi khác, phong tục trong nhà cũng đổi khác, do đó mới có những
biến phong, biến nhã” (Biến phong, biến nhã- những bài nói lên sự suy vong
của chế độ) [69, tr.39]. Phản ánh tình trạng rối loạn xã hội, nhất là tình hình
chính trị rối ren, xã hội thối nát, sách Kinh Thi có viết: “Nhân hữu thổ điền, Nhữ
phản hữu chi! Nhân hữu nhân dân, Nhữ phúc đoạt chi! Thử nghi vô tội, Nhữ
phản thu chi! Bản nghi hữu tội, Nhữ phúc duyệt chi”, nghĩa là “Người ta có
ruộng đất, Mày lại chiếm lấy! Người ta có người, Mày lại cướp mất! Người này
đáng vô tội, Mày lại bắt giam! Kẻ kia đáng có tội, thì mày lại ưa” [62, tr. 63].
12
Tiếp nữa, phản ánh thời đại binh cách loạn ly, xã hội mờ tối, người ta càng sống
thêm ngày nào càng khổ thêm ngày đó, có khi muốn tránh chính sự phiền hà,
mà không sao hóa thành chim, thành cá để tránh cho thoát, tình cảnh ấy, trong
chương Tiểu nhã, sách Kinh Thi đã chép lại rằng: “Phỉ thuần, phỉ diên, Hàn phi
lệ thiên, Phỉ chiên, phỉ vũy, Tiềm đạo vu uyên!”, nghĩa là: “Không phải chim
cút, không phải con diều, là sao mà bay tít lên trời cao được? Không phải cá
chiên, không phải cá vũy, làm sao mà lặn trốn xuống vực sâu được ?” [62, tr.
61].
Thứ ba: Các nước chư hầu xâm lấn và thôn tính lẫn nhau, chiến tranh
khốc liệt và kéo dài đã làm cho nhân dân sống trong đau khổ. Trong bối cảnh
đó, bề tôi giết vua, con giết cha, anh em giết nhau đã trở thành hiện tượng phổ
biến. Cảnh tượng đánh nhau giành đất, thây chết đầy đất, đánh nhau giành
thành, thây chết đầy thành phản ánh một thời kỳ chiến tranh khốc liệt có một
không hai trong lịch sử Trung Quốc, thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc. Từ năm
(722 – 479 tr.CN), nhà Chu sau khi dời đô về phía Đông, các đời vua suy
nhược, chư hầu tự do phóng túng, người xưng Công, kẻ xưng Bá, tranh giành,
đánh nhau không ngớt, trong nước rối loạn, nhân dân hoặc phải làm binh lính,
hoặc phải chịu hậu quả chiến tranh, đời sống của họ thật vô cùng khốn khổ. Đó
là thời kỳ của 12 nước chư hầu tranh giành, thôn tính lẫn nhau, trong những
nước ấy thì các nước chư hầu như nước Tề, Tấn, Tần, Sở, Tống là những nước
lớn và mạnh hơn cả. Tuy nhà Chu đã suy, chính lệnh thiên tử không được các
nước chư hầu tuân theo nữa, nhưng ân đức của các tiên vương chưa phai mờ
trong suy nghĩ của con người thời đó nên nhân tâm còn theo. Vì thế mà, “chư
hầu nào có mưu lược, thường lấy cớ “Tôn phò nhà Châu, đánh dẹp giặc rợ” để
làm minh chủ sai khiến thiên hạ” [66, tr.378]. Các nước chư hầu thâu tóm được
quyền lực trong tay, tự xưng hùng, xưng bá, tình hiện trạng đó trong lịch sử
Trung Hoa còn được gọi là thời kỳ Ngũ bá, “đó là Hoàn Công nước Tề, Văn
Công nước Tấn, Tương Công nước Tống, Trang Công nước Sở, Mục Công
nước Tần” [66, tr.378].
13
Đến thời Chiến Quốc, Các chư hầu đua nhau mở mang bờ cõi, lại chuyên
tâm hưởng lạc, việc chính trị đều giao cho bề tôi, khanh tướng chuyên quyền
nên dẫn tình trạng đoạt ngôi, cướp vị như họ Điền ở nước Tề, sáu quan Khanh ở
nước Tấn. Vì thế mà ở thời kỳ này xuất hiện tình trạng bảy nước đánh nhau liên
miên mà lịch sử gọi thời gian ấy là Chiến Quốc, và bảy nước ấy là Thất hùng.
Chính trong hoàn cảnh lịch sử ấy đã tạo thêm những nhân tố thúc đẩy sự ra đời
của của nhiều tư tưởng, học thuyết.
Như vậy, với sự phát triển kinh tế, những biến đổi trong lĩnh vực chính trị
- xã hội như trên, có thể đi đến một số kết luận về thời kỳ Xuân Thu – Chiến
Quốc. Đó là một xã hội “hỗn loạn về quan niệm đẳng cấp và danh phận; các chư
hầu xâm lấn và thôn tính lẫn nhau; sự phát triển của những mâu thuẫn giai cấp
giữa nông dân và bọn lãnh chúa phong kiến, và địa vị của bọn lãnh chúa phong
kiến lớn bị lung lay; sự rối loạn của những quan hệ tông pháp” [69. tr.84]. Nếu
như thời Tây Chu, vận hành xã hội nhờ lễ nhạc, các quan hệ xã hội cũng được
đánh giá theo tiêu chuẩn lễ nhạc thì đến thời Khổng tử, lễ nhạc đã băng hoại,
chư hầu lẫn át thiên tử, quan đại phu lại giàu có và thế lực mạnh hơn vua chư
hầu.
Trước một thực trạng kinh tế, chính trị, xã hội như vậy, để duy trì sự tồn
tại và giữ vững được địa vị và uy quyền của mình, các nước đã đua nhau trọng
dụng kẻ sỹ. Nhiều nước đã tập hợp kẻ sỹ với số lượng lớn như trong thái ấp của
Mạnh Thường Quân nuôi tới 3000 kẻ sỹ, Tín Lăng Quân ở nước Ngụy, Bình
Nguyên Quân ở nước Triệu có hàng trăm, hàng ngàn kẻ sỹ trong nhà, … Nhờ
phương thức “chiêu hiền, đãi sỹ” này mà các tư tưởng, các học thuyết chính trị -
xã hội được nảy sinh và phát triển. Chính điều này đã tạo ra một giai đoạn đặc
biệt trong lịch sử tư tưởng của Trung Quốc. Người ta gọi đây là thời kỳ “Bách
gia tranh minh” (Trăm nhà đua tiếng) hay “Bách gia chư tử” (Trăm nhà trăm
thầy). Bách gia bao gồm nhiều học phái tiêu biểu: Âm dương gia, Nho gia, Mặc
gia, Danh gia, Pháp gia, Đạo gia, Tung hoành gia, Nông gia, Tạp gia, Binh gia,
Tiểu thuyết gia, …v.v.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét