LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "giải pháp thúc đẩy xuất khẩu dệt may việt nam sang thị trường mỹ": http://123doc.vn/document/1052216-giai-phap-thuc-day-xuat-khau-det-may-viet-nam-sang-thi-truong-my.htm
thông qua sức ép giảm giá, giảm khối lợng hàng hoá mua từ công ty
hoặc đa ra yêu cầu chất lợng phải tốt hơn với cùng một mức giá.
+ Sự đe doạ của sản phẩm, dịch vụ thay thế: do giá cả của sản
phẩm hiện tại tăng lên nên khách hàng có xu hớng tiêu dùng các sản
phẩm, dịch vụ thay thế. Đây là nhân tố đe doạ sự mất mát thị trờng của
công ty.
+ Cạnh tranh trong nội bộ ngành: trong điều kiện này, các công ty
cạnh tranh khốc liệt với nhau về giá cả, sự khách biệt hoá của sản phẩm
hoặc việc đổi mới sản phẩm giữa các công ty hiện đang cùng tồn tại
trong thị trờng.
- Các yếu tố VH XH
Các yếu tố văn hoá tạo nên các loại hình khác nhau của nhu cầu
thị trờng là nền tảng cho sự xuất hiện thị hiếu tiêu dùng sản phẩm cũng
nh sự tăng trởng của các đoạ thị trờng mới. Do có sự khác nhau về nền
văn hoá đang tồn tại ở các quốc gia nên các nhà kinh doanh phải sớm có
những quyết định nên hay không nên tiến hành xuất khẩu sang thị tr-
ờng đó. Điều này trong một chừng mực nhất định tuỳ thuộc vào sự chấp
nhận của doanh nghiệp đối với môi trờng văn hoá nớc ngoài.
Trong môi trờng văn hoá, những nhân tố nổi nên giữ vị trí cực kỳ
quan trọng là nối sống, tập quan ngôn ngữ, tôn giáo. Đây có thể coi nh
là những hàng rào chắn các hoạt động giao dịch kinh doanh xuất khẩu.
-Các yếu tố kinh tế
Muốn tiến hành hoạt động xuất khẩu thì các doanh nghiệp buộc
phải có những kiến thức nhật định về kinh tế. Chúng sẽ giúp cho doanh
nghiệp xác định đợc những ảnh hởng của những doanh nghiệp đối với
nền kinh tế nớc chủ nhà và nớc sở tại, đồng thời doanh nghiệp cũng thấy
đợc ảnh hởng của những chính sách kinh tế quốc gia đối với hoạt động
kinh doanh xuất khẩu của mình.
Tính ổn định hay không ổn định về kinh tế và chính sách kinh tế
của một quốc gia nói riêng, các quốc gia trong khu vực và thế giới nói
5
chung có tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động xuất khẩu của doanh
nghiệp sang thị trờng nớc ngoài. Mà tính ổn định trớc hết và chủ yếu là
ổn định nền tài chính quốc gia, ổn định tiền tệ, khống chế lạm phát. Có
thể nói đây là những vấn đề mà doanh nghiệp luôn quan tâm hàng đầu
khi tham gia kinh doanh xuất khẩu.
- Các yếu tố chính trị.
Các yếu tố chính trị đang và sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng
trong kinh doanh, đặc biệt là các hoạt động kinh doanh xuất khẩu. Tính
ổn định về chính trị của các quốc gia sẽ là nhân tố thuận lợi cho các
doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu sang thị trờng nớc ngoài. Không có
sự ổn định về chính trị thì sẽ không có điều kiện để ổn định và phát
triển hoạt động xuất khẩu. Chính vì vậy, khi tham gia kinh doanh xuất
khẩu ra thị trờng thế giới đòi hỏi các doanh nghiệp phải am hiểu môi tr-
ờng chính trị ở các quốc gia, ở các nớc trong khu vực mà doanh nghiệp
muốn hoạt động.
-Các yếu tố luật pháp.
Một trong những bộ phận của nhân tố bên ngoài ảnh h ởng đến
hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp là hệ thống luật pháp. Vì vậy
trong hoạt động xuất khẩu đòi hỏi doanh nghiệp phải quan tâm và nắm
vững luật pháp luật quốc tế, luật quốc gia mà ở đó doanh nghiệp đang
và sẽ tiến hành xuất khẩu những sản phẩm của mình sang đó, cũng nh
các mối quan hệ luật pháp đang tồn tại giữa các nớc này.
Nói một cách khác khái quát, luật pháp cho phép doanh nghiệp đ-
ợc quyền kinh doanh trong lĩnh vực ngành nghề, và dới hình thức nào.
Ngợc lại, những mặt hàng, lĩnh vực nào mà doanh nghiệp bị hạn chế hay
không đợc quyền kinh doanh. Nh vậy, luật pháp không chỉ chi phối các
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trên chính quốc gia đó mà còn
ảnh hởng đến cả các hoạt động kinh doanh xuất khẩu.
-Các yếu tố khoa học công nghệ
Các yếu tố khoa học công nghệ có quan hệ khá chặt chẽ với hoạt
động kinh tế nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng. Ngày nay,
6
nhờ có sự phát triển nh hũ bão của khoa học, công nghệ đã cho phép các
doanh nghiệp chuyên môn hoá cao hơn, quy mô sản xuất kinh doanh
tăng lên, có khả năng đạt đợc lợi ích kinh tế nhờ quy mô. Ttừ đó, doanh
nghiệp có thể chống chọi đợc với sự cạnh tranh gắt trên thị trờng quốc
tế.
2. Các nhân tố bên trong doanh nghiệp.
Các nhân tố thuộc doanh nghiệp là một trong các nhân tố có ảnh
hởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung
hoạt động xuất khẩu nói riêng. Nó đợc hiểu nh là nền văn hoá của tổ
chức doanh nghiệp, đợc hình thành và phát triển cùng với quá trình vận
hành doanh nghiệp. Nền văn hoá doanh nghiệp bao gồm nhiều yếu tố
cấu thành: triết lý kinh doanh, tập quán, thói quen, truyền thống, phong
cách sinh hoạt, lễ nghị đợc duy trì sử dụng trong doanh nghiệp.
Tất cả các yếu tố này đã tạo nên bầu không khí, một bản sắc và
tinh thần đặc trng riêng cho từng doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp nào
có nền văn hoá phát triển cao thì sẽ có khí thế làm việc hăng say, đề cao
sự sáng tạo, chủ động trung thành. Ngợc lại, một doanh nghiệp có nền
văn hoá thấp sẽ là sự bàng quan, bất lực hoá đội ngũ lao động của doanh
nghiệp.
Do các nhân tố bên trong có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại
và phát triển của doanh nghiệp, nên ngày nay hầu hết mọi doanh nghiệp
đều chú trọng đầu t đến những yếu tố này.
Các yếu tố bên trong bao gồm:
- Ban lãnh đạo doanh nghiệp: đây là bộ phận đầu não của doanh
nghiệp. Ban lãnh đạo là ngời đề ra mục tiêu, xây dựng những chiến lợc,
kiểm tra giám sát việc thực hiện các kế hoạch. Vì vậy, trình độ quản lý
của ban lãnh đạo có ảnh hởng trực tiếp tới hoạt động xuất khẩu của
doanh nghiệp.
- Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp: một cơ cấu tổ chức phù hợp sẽ
phát huy đợc trí tuệ của các thành viên trong doanh nghiệp, phát huy
tinh thần đoàn kết, sức mạnh tập thể đồng thời vẫn đảm bảo cho việc ra
7
quyết định, truyền tin và thực hiện sản xuất kinh doanh nhanh chóng
hơn nữa, với cơ cấy tổ chức đúng đắn sẽ tạo ra sự phối hợp nhịp nhàng,
linh hoạt giữa các bộ phận, từ đó có thể giải quyết kịp thời mọi vấn đề
nảy sinh.
-Đội ngũ cán bộ công nhân viên: Hầu hết các doanh nghiệp đều
nhấn mạnh tầm quan trọng của những nhân viên có năng lực và trình độ
trong việc đạt các mục tiêu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Sở dĩ
nh vậy là vì các hoạt động xuất khẩu chỉ có thể tiến hành khi đã có sự
nghiên cứu kỹ lỡng về thị trờng, đối tác, phơng thức giao dịch, đàm
phán và ký kết hợp đồng muốn vậy, doanh nghiệp phải có đ ợc đội ngũ
cán bộ kinh doanh am hiểu luật pháp quốc tế, có khả năng phân tích, dự
báo những biến đổi của thị trờng, thông thạo các phơng thức thanh toán
quốc tế, có nghệ thuật giao dịch đàm phán kỹ kết hợp đồng.
- Các nguồn lực khác: đấy là ht cơ sở vật chất kỹ thuật để phục vụ
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nh:
+ Văn phòng làm việc
+ Hệ thống nhà xởng, nhà kho cùng các thiết bị vận tải.
+ Máy móc thiết bị.
+ Tình hình tài chính của doanh nghiệp.
III. Sự cần thiết phải tăng cờng xuất khẩu hàng dệt
may sang mỹ
1. Sự cần thiết của hoạt động xuất khẩu.
-Xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu.
Công nghiệp hoá đất nớc theo những bớc đi thích hợp là con đờng
ngắn nhất để khắc phục nghèo nàn lạc hậu. Tuy nhiên muốn có đợc điều
này phải cần một số vốn lớn để nhập khẩu hàng hoá, thiết bị, kỹ thuật
công nghệ tiên tiến, hiện đại, nguồn vốn này có thể lấy từ nhiều nguồn
nh : đầu t nớc ngoài vay nợ, viện trợ Nh ng nguồn vốn quan trọng
nhất để nhập khẩu là thu từ xuất khẩu. Có thể khảng định rằng xuất
khẩu quyết định quy mô tốc độ tăng trởng của nhập khẩu
8
- Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản
xuất phát triển.
Cơ cấu xuất khẩu và sản xuất thế giới đã và đang thay đổi mạnh
mẽ. Đó là thành quả của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại.
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình CNH-HĐH phù hợp với
sự phát triển của nền kinh tế thế giới là một tất yếu đối với n ớc ta. Có
thể nhìn nhận theo hai hớng khác nhau về tác động của xuất khẩu đối
với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và sản xuất.
Một là: Xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ những sản phẩm thừa do
sản xuất vợt quá nhu cầu nội địa .
Trong khi nớc ta còn chậm phát triển, sản xuất nói chung còn cha
đủ cho tiêu dùng. Nếu chỉ thụ động dựa vào sự thừa ra của sản xuất thì
xuất khẩu mãi mãi nhỏ bé, tăng trởng thấp. Từ đó, sản xuất và chuyển
dịch cơ cấu sẽ diễn ra rất chậm chạp .
Hai là: Coi thị trờng mà đặc biệt là thị trờng thế giới là hớng
quan trọng là để tổ chức sản xuất. Điều này tác động đến sự chuyển
dịch cơ cấu kinh tế mà nó thể hiện ở chỗ :
+Xuất khẩu tạo điều kiện cho các nghành khác có cơ hội phát
triển .
+ Xuất khẩu tạo khả năng để mở rộng thị trờng tiêu thụ .
+Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế, kỹ thuật nhằm cải tạo và
nâng cao năng lực sản xuất trong nớc. Điều này có nghĩa là xuất khẩu là
phơng tiện quan trọng để đa vốn, kỹ thuật công nghệ tiên tiến vào Việt
Nam để công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nớc .
+Thông qua xuất khẩu, hàng hoá Việt Nam sẽ tham gia vào cuộc
cạnh tranh trên thị trờng thế giới về mặt giá cả cũng nh chất lợng. Điều
này đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn luôn thay đổi để thích ứng với
thị trờng .
- Xuất khẩu có tác động tích cực đến giải quyết công ăn việc làm
và cải tiến đời sống nhân dân.
9
- Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế
đối ngoại .
2. Vai trò của xuất khẩu hàng may mặc đối với nền kinh tế
Việt Nam
Nh chúng ta đã biết, ngành dệt may có vị trí quan trọng đối với
nền kinh tế quốc dân bởi vì nó vừa đảm bảo nhu cầu tiêu dùng nội địa
lại vừa là nguồn thu ngoại tệ chủ yếu của quốc gia nhờ việc xuất khẩu
những sản phẩm của ngành .
Hiện nay, hàng dệt may Việt Nam đợc xuất khẩu sang hơn 40 thị
trờng trên thế giới và tính đến năm 1999 tổng kim ngạch xuất khẩu của
ngành đạt 1700 tr USD đứng thứ 3 sau dầu thô và nông sản . Cho đến
nay ngành dệt may đã có quan hệ buôn bán với 200.000 công ty thuộc
hơn 40 nớc trên thế giới và khu vực và giờ đây hàng dệt may Việt Nam
lại có thêm thị trờng Mỹ rộng lớn, sức mua cao.
Trong tơng lai gần ngành may sẽ còn phát triển không ngừng và
sẽ đóng góp một phần không nhỏ cho nền kinh tế quốc dân.
10
Chơng II
thực trạng xuất khẩu hàng dệt may
sang thị trờng mỹ
i. Vài nét về xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam
thời gian qua .
Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may tăng nhanh nhng lợi nhuận
thực tế thu đợc lại nhỏ, ớc tính chiếm 20% tổng kim ngạch xuất khẩu
hàng dệt may. Và tính riêng giá trị vải nhập để sản xuất gia công hàng
may mặc đã lên tới trên dới 50% kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may,
cha kể đến các loại phụ liệu may khác mà Việt Nam phải nhập khẩu
phần lớn từ các nớc thuê gia công.
Giác độ khác, tuy với Hiệp định Thơng mại Việt - Mỹ giúp hàng
dệt may Việt Nam vào thị trờng này đợc hởng giảm thuế suất nhập
khẩu, từ 45% trớc đây xuống còn 15% (thuế tính trên giá trị hàng hoá,
chứ không tính riêng phần giá trị gia công , vẫn lo ngại rằng sắp tới sự
kiện Trung Quốc gia nhập WTO thì đây sẽ là đối thủ rất mạnh trong
canhj tranh về giá hàng hoá bán buôn trên thị trờng quốc tế.
Do cha phải là thành viên WTO nên hàng dệt may Việt Nam đang
chịu hai bất lợi lớn so với các nớc xuất khẩu là thành viên WTO, còn bị
hạn chế bằng hạn ngạch theo các hiệp định song phơng kể cả sau năm
2001 (thời điểm chế độ kiểm soát nhập khẩu hàng dệt may bằng hạn
ngạch đợc bãi bỏ hoàn toàn cho các nớc thành viên của WTO); chịu
thuế suất nhập khẩu cao hơn ở nhiều thị trờng, do các nớc phát triển sẽ
tăng cờng những loại hàng rào phi thuế quan khác để hạn chế bớt việc
nhập khâủ sản phẩm từ những quốc gia đang phát triển. Do vậy, từ cơ sở
của Hiệp định Thơng mại Việt - Mỹ, đích đênsawps tới phải là gia nhập
WTO. Có nh vậy mới giúp đợc khả năng xuất khẩu sản phẩm dệt - may
với số lợng lớn trong tơng lai.
11
Quy hoạch phát triển đến năm 2010.
Chỉ tiêu Đơn vị 2000 2005 2010
+ Kim ngạch xuất khẩu Tr.USD 2.000 3.000 4.000
- Hàng may Tr.USD 1.630 2.200 3.000
- Hàng dệt Tr.USD 370 800 1.000
+ Sản lợng
+ Vải lụa thành phẩm Tr.m 800 1.330 2.000
- Sản phẩm dệt kim Tr.SP 70 150 210
- Sản phẩm may Tr.SP 350 480 720
- Sản phẩm may qui chuẩn Tr.SP 580 780 1.200
II- Thực trạng hoạt động xuất khẩu hàng dệt may
Việt Nam sang mỹ.
1. Quy mô và nhịp độ xuất khẩu.
Trong những năm qua, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt
Nam đã tăng trởng không ngừng và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong
tổng kim ngạch xuất khẩu (đứng thứ 2 sau dầu thô). Mặc dù bị ảnh hởng
của cuộc khủng hoàng tải chính khu vực song kim ngạch xuất khẩu
hàng dệt may Việt Nam vẫn tăng trởng đều, đạt 1,45 tỷ USD trong năm
1998, tới năm 1999 đã tăng lên 1,76 tỷ USD và năm 2000 đạt khoảng
1,9 tỷ USD. Tuy nhiên, kim ngạch hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu
sang thị trờng Mỹ - một thị trờng tiềm năng lớn - còn rất nhỏ, chỉ đạt
26,4 triệu USD năm 1998, 48 triệu USD năm 1999 và 60 triệu USD năm
2000.
2. Các hình thức xuất khẩu.
Từ khi Việt Nam thực hiện quá trình đổi mới (từ năm 1989), giá
trị xuất khẩu hàng dệt may có tăng lên. Trong đó ngành may có mức độ
tăng cao hơn ngành dệt. Ngành dệt may đã chuyển từ thị trờng Liên Xô
cũ và Đông Âu sang thị trờng phơng Tây và châu á. Thị trờng xuất khẩu
hàng dệt may hiện nay của Việt Nam bao gồm thị trờng có quota và phi
quota. Thị trờng EU là thị trờng xuất khẩu có Quota dệt may Việt Nam
bắt đầu xâm nhập thị trờng này từ năm 1993 khi hiệp định buôn bán
hàng dệt may giữa Việt Nam và EU đợc ký kết và có hiệu lực cho đến
nay kim ngạch xuất khẩu hàng dệt vào thị trờng EU tăng lên hàng năm.
12
Thị trờng xuất khẩu phi Quota đợc mở rộng mạnh trong những năm gần
đây. Nhật Bản là thị trờng phi Quota lớn nhất. Hồng Kông, Singapore,
Đài Loan, Hàn Quốc là những nớc nhập khá nhiều hàng dệt của Việt
Nam. Hiện nay Việt Nam vẫn tiếp tục xuất khẩu hàng dệt may sang Nga
và các nớc Đông Âu nhng chủ yếu dới hình thức đổi hàng và thanh toán
nợ
Đối với thị trờng Mỹ, sản phẩm của ngành dệt may xuất khẩu vào
thị trờng này có xu hớng tăng nhng không ổn định. Phần lớn xuất khẩu
là hàng may mặc.Bắc Mỹ là một thị trờng lớn của thế giới, kim ngạch
nhập hàng dệt may hàng năm gần 40 tỷ USD. Dẫn đầu xuất hàng dệt
may sang Mỹ là Trung Quốc rồi đến các nớc ASEAN. Việt Nam xuất
khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ còn rất khiêm tốn. Năm 1994 Mỹ
nhập khẩu 2,3 triệu USD sợi và quần áo đứng thứ 19 trong số những nớc
xuất khẩu hàng dệt may vào Mỹ và chiếm 0,05 thị phần thị trờng Mỹ
(nguồn Bộ Thơng mại Mỹ). Sản phẩm dệt may xuất khẩu của Việt Nam
sang Mỹ chiếm chủ yếu là quần áo, chiếm tới 98%. Còn hàng sợi dệt
còn rất nhỏ. Thị trờng Mỹ là một thị trờng mới đối với các mặt hàng
Việt Nam chính vì vậy mà đã phần nào tác động vào kim ngạch xuất
khẩu của hàng hoá Việt Nam nói chung và của hàng dệt may nói riêng.
3. Cơ cấu mặt hàng dệt may xuất khẩu.
Mặc dù thị trờng nhập khẩu hàng dệt may của Mỹ lớn hơn cả EU,
song lâu nay Việt Nam mới xuất khẩu đợc một số loại vải thô, vải
cotton, dệt kim sang Nhật, Canada, EU với kim ngạch không đáng kể,
chủ yếu là gia công và xuất khẩu hàng may mặc, trong đó, mặt hàng áo
Jacket luôn chiếm đến 50% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt - may đi
EI. Nhng thị trờng Mỹ luôn đòi hỏi cập nhật về chất lợng, mẫu mã,
chủng loại.
III- Đánh giá hoạt động xuất khẩu hàng dệt may của
Việt Nam sang Mỹ.
Nguyên nhân chủ yếu là do hiện nay hàng dệt may của Việt Nam
khi xuất khẩu vào Mỹ vẫn phải chịu thuế suất rất cao. Tại Hội thảo
13
"Xuất khẩu hàng dệt may vào thị trờng Mỹ", do Phòng thơng mại và
công nghiệp Việt Nam phối hợp với Công ty Công nghệ Việt - Mỹ và
Công ty XNK dệt may, cùng với sự hợp tác của Công ty Luật Russin &
Vecchi và Công ty Luật White & Case phối hợp tổ chức ngày 6/11/2000
tại Hà Nội, luật s Ellen Kerrigan Dry thuộc Công ty Luật Russin &
Vecchi cho biết Mỹ có các luật về trách nhiệm đối với sản phẩm, có hệ
thống u đãi phổ cập (GSP) và hiện nay đã có trên 10 quốc gia đợc hởng
GSP khi xuất khẩu hàng dệt may vào thị trờng Mỹ. Cũng cần phải nói rõ
rằng các sản phẩm đợc miễn thuế phải thoả mãn yêu cầu là hàng đợc
xuất khẩu từ chính nớc đợc hởng GSP và đợc chế biến toàn bộ sản phẩm
hay ít nhất là trên 30% giá trị tăng tại chính các nớc này. Trong khi đó,
hiện nay Việt Nam vẫn cha đợc hởng u đãi GSP. Việc u đãi trên chỉ đợc
thực hiện sau khi Việt Nam đạt đợc quy chế tối huệ quốc với Mỹ và là
thành viên của WTO và IMF.
Bên cạnh trở ngại thuế quan, để tăng cờng xuất khẩu sang thị tr-
ờng Mỹ, hàng dệt may Việt Nam phải đủ sức cạnh tranh với các sản
phẩm của các hãng sản xuất Mỹ và các nớc xuất khẩu truyền thống vào
thị trờng này nh: Trung Quốc, ấn Độ, Băngladet và các nớc Nam Mỹ,
đặc biệt là Trung Quốc đang có nhiều thế mạnh. Một bất lợi nữa là
trong số các mặt hàng của Việt Nam xuất khẩu vào thị trờng Mỹ thì
hàng dệt may phải chịu mchính sách thuế phí rất cao, gần gấp 2,5 lần so
với các nớc khác. Thêm nữa, cũng cần phải nói lên một thực tế rằng
chất lợng hàng dệt may của Việt Nam cha cao nên đã gặp rất nhiều khó
khăn khi thâm nhập vào thị trờng Mỹ.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét