Đề án môn học
____________________________________________________________________________
Lịch sử ra đời cổ phiếu gắn liền với lịch sử hình thành công ty cổ phần.
Hay nói cách khác, cổ phiếu chính là sản phẩm riêng có của công ty cổ phần. Khi
một công ty gọi vốn, số vốn cần gọi được chia thành nhiều phần nhỏ bằng nhau
gọi là cổ phần. Người mua cổ phần gọi là cổ đông. Cổ đông được cấp một giấy
xác nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu. Như vậy cổ phiếu là chứng chỉ xác nhận
quyền sở hữu của cổ đông đối với công ty cổ phần. Quyền sở hữu của cổ đông
trong công ty tương ứng với số lượng cổ phiếu mà cổ đông nắm giữ. Do đó, cổ
phiếu còn được gọi là chứng khoán vốn. Cổ phiếu có những đặc điểm sau:
- Là giấy chứng nhận góp vốn vào một công ty cổ phần.
- Không có kỳ hạn, tồn tại cùng với sự tồn tại của tổ chức phát hành nó.
- Được quyền nhận cổ tức hàng năm, có thể biến động hay cố định tuỳ theo
từng loại cổ phiếu của tổ chức phát hành.
- Người mua cổ phiếu chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số vốn
góp của mình và được quyền biểu quyết các vấn đề có liên quan.
- Được quyền chuyển nhượng nếu là cổ phiếu vô danh.
- Được chia phần tài sản còn lại theo quy định của pháp luật nếu công ty
giải thể.
1.2.2 Trái phiếu
Trái phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát
hành( người vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán( người cho vay)
một khoản tiền xác định, thường là trong những khoảng thời gian cụ thể, và phải
hoàn trả số tiền vay ban đầu khi nó đáo hạn.
Bản chất của trái phiếu là một công cụ nợ, được phát hành dưới hình thức
chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của
người sở hữu trái phiếu đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành. Việc phát
hành công cụ này là tổ chức phát hành đứng ra vay theo phương thức có hoàn trả
____________________________________________________________________________
Nguyễn Minh Đức - KT&QLC46
5
Đề án môn học
____________________________________________________________________________
cả gốc lẫn lãi. Người sở hữu trái phiếu sẽ không chịu bất cứ trách nhiệm nào về
kết quả hoạt động sử dụng vốn của tổ chức phát hành và trong mọi trường hợp, tổ
chức phát hành phải có trách nhiệm hoàn trả cho người sở hữu trái phiếu theo các
cam kết đã được xác định trong trái phiếu. Trái phiếu thường có thời hạn xác
định.
Thông thường trái phiếu có những đặc điểm chung sau:
+ Không làm thay đổi quan hệ sở hữu trong doanh nghiệp, tức là
không ảnh hưởng đến quyền quản lý và kiểm soát doanh nghiệp, do đó được coi
là biện pháp an toàn về mặt sở hữu để huy động vốn.
+ Chi phí vốn của phát hành trái phiếu bao gồm lợi tức trái phiếu phải trả
cho người mua và các chi phí phát hành được hạch toán vào chi phí sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, do đó có lợi cho doanh nghiệp về phương diện thuế thu
nhập doanh nghiệp.
+ Các doanh nghiệp có thể chủ động phát hành trái phiếu theo nhu cầu vốn
thực tế và điều chỉnh kì hạn huy động tương ứng hoặc ngắn hơn so với thời gian
hoàn vốn của dự án. Tuỳ thuộc vào quyết định của từng doanh nghiệp và đặc
điểm của từng dự án đầu tư mà lựa chọn trái phiếu phát hành theo lãi suất cố định
hay thả nổi theo lãi suất thị trường.
+ Nghĩa vụ trả nợ (bao gồm gốc và lãi) đối với người sở hữu trái phiếu
không phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh cuả tổ chức phát hành trái
phiếu.
1.2.3 Chứng chỉ quỹ
Chứng chỉ quỹ là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu của nhà đầu tư
đối với một phần vốn góp của quỹ đại chúng.
Về bản chất chứng khoán quỹ cũng giống như cổ phiếu của một công ty: là
bằng chứng xác nhận quyền sở hữu, hưởng lợi nhuận trên phần vốn góp, và đặc
____________________________________________________________________________
Nguyễn Minh Đức - KT&QLC46
6
Đề án môn học
____________________________________________________________________________
biệt được niêm yết trên thị trường chứng khoán để mua bán giữa các nhà đầu tư
vì quỹ đại chúng là quỹ đầu tư chứng khoán hình thành từ vốn góp của nhà đầu tư
với mục đích kiếm lợi nhuận từ việc đa dạng hóa đầu tư vào chứng khoán và các
dạng tài sản đầu tư khác nhau nhằm phân tán rủi ro, trong đó nhà đầu tư không có
quyền kiểm soát hang ngày đối với việc ra quyết định đầu tư của quỹ. Khi muốn
thành lập quỹ thì các công ty quản lý quỹ phải phát hành chứng chỉ quỹ, nhà đầu
tư mua chứng chỉ quỹ tức là đã xác nhận sự góp vốn của mình vào quỹ chung đó.
Tuy nhiên những điểm khác nhau giữa cổ phiếu và chứng chỉ quỹ như sau:
- Thứ nhất: cổ phiếu là phương tiện huy động vốn của một công ty kinh
doanh một vài ngành nghề cụ thể còn chứng chỉ quỹ là phương tiện để thành lập
quỹ của một quỹ đầu tư chứng khoán mà ngành nghề hoạt động chính là “kinh
doanh chứng khoán”.
- Thứ hai: nếu người sở hữu cổ phiếu phổ thông có quyền biểu quyết hay
quản lý công ty thì nhà đầu tư sở hữu chứng khoán quỹ không có quyền tương tự,
mọi quyền hành đều do công ty quản lý quỹ quy định.
- Thứ ba: được quản lý bởi một đội ngũ quản lý quỹ chuyên nghiệp đứng
ra “ kinh doanh chứng khoán” nên độ an toàn và lợi nhuận kỳ vọng cao hơn khi
đầu tư vào cổ phiếu mà không cần phải suy tính đầu tư vào chứng khoán nào.
1.2.4 Chứng khoán phái sinh
Chứng khoán phái sinh là những công cụ được phát hành trên cơ sở những
công cụ đã có như cổ phiếu, trái phiếu, nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân
tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận. Các chứng khoán phái sinh sẽ là
đòn bẩy, làm tăng nhiều lần giá trị các đối tượng đầu tư như cổ phiếu, trái phiếu,
để đảm bảo rằng nếu giá của cổ phiếu, trái phiếu có thay đổi bao nhiêu thì giá của
các công cụ phái sinh vẫn sẽ được duy trì ở mức ban đầu. Thị trường các chứng
____________________________________________________________________________
Nguyễn Minh Đức - KT&QLC46
7
Đề án môn học
____________________________________________________________________________
khoán phái sinh là thị trường phát hành và mua đi bán lại các chứng từ tài chính
như quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp đồng quyền chọn.
2. Thị trường chứng khoán
2.1 Quá trình hình thành và phát triển thị trường chứng khoán
- Thị trường chứng khoán trước công ty cổ phần
Vào khoảng thế kỷ XV, XVI với sự xuất hiện của ngành hang hải, thương
mại thế giới bước vào một kỷ nguyên phát triển dữ dội. Frankfurt ở Đức và
Amstecdam ở Hà Lan, là hai thương cảng lớn nhất thời kỳ bấy giờ. Tại đây,
người ta tụ tập nhau lại để buôn bán các chứng từ văn tự nợ (debenture). Các
chứng từ ghi nợ là những giấy tờ được coi là những giấy tờ có giá trị như tiền
vậy. Các chứng từ nợ gồm 2 loại: các kỳ phiếu (bills) và các hối phiếu (bill of
exchange). Các kỳ phiếu là các giấy nợ có kỳ hạn thanh toán mà con nợ phải trả
cho chủ nợ một số tiền nhất định. Các hối phiếu là một lệnh trả mà con nợ yêu
cầu một người thứ 3 nào đó trả hộ mình một món nợ cho chủ nợ (có thể có kỳ
hạn hoặc không có kỳ hạn). Khi muốn chuyển nhượng các văn tự nợ thì người đó
phải trả một khoản lãi suất nhất định cho người mua do phải chờ đến kì hạn thanh
toán. Hoạt động này gọi là sự chiết khấu (discounting).
Cùng với sự phát triển của thương mại là sự nảy sinh các sáng kiến vay
vốn trả lãi cho công chúng của Chính phủ nhằm huy động vốn xây dựng các công
trình lớn như cơ sở hạ tầng, giao thong vận tải… Để có tài chính, Chính phủ đã
huy động vốn từ dân bằng cách phát hành trái phiếu vay nợ (bond) ra công
chúng. Người mua trái phiếu sẽ được hưởng lãi suất đã được ấn định và được
hưởng lãi cho đến kỳ hạn thanh toán. Biện pháp này đã được các địa phương áp
dụng. Tuy nhiên, cũng có người cần tiền mặt và họ phải bán, chuyển nhượng lại.
Các hoạt động chuyển nhượng giấy tờ có giá trị vậy gọi là các hoạt động mua bán
____________________________________________________________________________
Nguyễn Minh Đức - KT&QLC46
8
Đề án môn học
____________________________________________________________________________
chứng khoán, nơi diễn ra các hoạt động này gọi là sở giao dịch chứng khoán, lĩnh
vực xảy ra các hoạt động này gọi là thị trường chứng khoán. Những chứng khoán
đầu tiên là những thương phiếu ( kỳ phiếu và hối phiếu) và các trái phiếu ( Chính
phủ, Trung ương và địa phương).
- Thị trường chứng khoán sau công ty cổ phần.
+ Công ty cổ phần:
Vào thế kỷ XIX, nhiều ngành công nghiệp phát triển mạnh mẽ. Bên cạnh
những ngành công nghiệp truyền thống thì xuất hiện nhiều ngành mới (như
đường sắt…) đòi hỏi vốn nhiều, và để có thể mở được doanh nghiệp, không một
người chủ nào có thể tự đảm bảo được đủ số vốn ban đầu để mở mang doanh
nghiệp. Trong khi đó, triển vọng của ngành này là rõ rệt và hấp dẫn đầu tư. Và đã
có sáng kiến thành lập công ty cổ phần (Stock Company). Doanh nghiệp này là
do một nhóm người cùng nhau góp vốn để kinh doanh thành lập nên. Phần đóng
góp về tài chính của mỗi người trong công ty gọi là cổ phần (share). Mỗi người
giữ các văn tự chứng thực cho sự đóng góp cổ phần của mình gọi là cổ phiếu
(shares). Những người có cổ phần đóng góp gọi là cổ đông ( share holders). Có
hai loại cổ phiếu cơ bản: cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi. Cổ phiếu thường là
những cổ phần theo đó việc hưởng lợi từ công ty phụ thuộc vào tình trạng kinh
doanh của công ty. Những người nắm giữ cổ phần này có quyền tham gia vào
việc ra các quyết định kinh doanh, do đó họ được hưởng lợi hay phải chịu rủi ro
trong kinh doanh. Trái lại, cổ phiếu ưu đãi là những cổ phần dành cho những
người không có khả năng hoặc không có điều kiện tham gia các hoạt động kinh
doanh của công ty nhưng vẫn muốn đóng góp đầu tư để hưởng lợi và nếu trong
trường hợp bị phá sản, toàn bộ tài sản của công ty sẽ được dùng để trả nợ (nếu
còn) sẽ thanh toán cho các khoản đầu tư của cổ phiếu ưu đãi trước, và cuối cùng
____________________________________________________________________________
Nguyễn Minh Đức - KT&QLC46
9
Đề án môn học
____________________________________________________________________________
(nếu còn) mới thanh toán cho các cổ phiếu thường. Người sở hữu cổ phiếu có thể
chuyển nhượng cho người khác.
+ Sự bùng nổ của thị trường chứng khoán:
Với sự xuất hiện của công ty cổ phần, việc giao dịch mua bán chứng khoán
đã bùng nổ và bước sang giai đoạn hoàn toàn mới. Điều này bắt nguồn từ nhiều
lý do: thứ nhất, các lĩnh vực đầu tư đa dạng; thứ hai, mức độ kiếm lời và rủi ro
của các lĩnh vực này lại khác nhau, do đó mức sinh lời cho đầu tư các lĩnh vực
hay công ty khác nhau cũng khác nhau, thậm chí mức đầu tư còn phụ thuộc vào
cả tình hình chính trị hay sự sống còn của một cá nhân có uy tín trong chính
trường hay trong kinh doanh; thứ ba, tính chất đầu cơ trong giao dịch mua bán
loại chứng khoán này xuất hiện; thứ tư, một khối lượng lớn giao dịch mua bán
chuyển nhượng chứng khoán trên thị trường trở nên thường xuyên với sự tham
gia hết sức đông đảo của hầu hết các tầng lớp trong xã hội. Thị trường chứng
khoán đến lúc đó thực sự bước sang một giai đoạn phát triển hoàn toàn mới với
sự phát triển cả về lượng cũng như về chất.
2.2 Bản chất, chức năng, nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng
khoán
2.2.1 Bản chất của thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán
các loại chứng khoán trung và dài hạn (cổ phiếu, trái phiếu và chứng khoán phái
sinh). Việc mua bán này được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua mua
được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành và diễn ra ở thị trường thứ
cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ
cấp. Như vậy xét về mặt hình thức, thị trường chứng khoán chỉ là nơi diển ra các
hoạt động trao đổi, mua bán, chuyển nhượng các loại chứng khoán, qua đó thay
đổi chủ thể nắm giữ chứng khoán.
____________________________________________________________________________
Nguyễn Minh Đức - KT&QLC46
10
Đề án môn học
____________________________________________________________________________
Xét về mặt bản chất của thị trường chứng khoán thì:
- Thị trường chứng khoán là nơi tập trung và phân phối các nguồn vốn tiết
kiệm. Tập trung các nguồn tiết kiệm để phân phối lại cho những ai muốn sử dụng
các nguồn tiết kiệm đó theo giá mà người sử dụng sẵn sang trả và theo phán đoán
của thị trường về khả năng sinh lợi từ các dự án của người sử dụng. Chuyển từ tư
bản sở hữu sang tư bản kinh doanh.
- Thị trường chứng khoán là định chế tài chính trực tiếp, cả chủ thể cung
và cầu vốn đều tham gia vào thị trường một cách trực tiếp. Ngược với cách tài trợ
gián tiếp được thực hiện thông qua các trung gian tài chính, những người có vốn
có đủ điều kiện về môi trường tài chính, pháp lý… sẽ trực tiếp đầu tư vào sản
xuất, kinh doanh không cần qua các trung gian tài chính mà chuyển nhượng vốn
thông qua thị trường chứng khoán, một thị trường vốn trực tiếp từ người có vốn
sang người cần vốn theo nguyên tắc đầu tư.
2.2.2 Chức năng của thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán ra đời đã có vị trí rất lớn đối với sự phát triển của
nền kinh tế. Thị trường chứng khoán thực hiện các chức năng chủ yếu sau:
- Huy động vốn cho nền kinh tế:
Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền
nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần
mở rộng sản xuất xã hội. Bằng cách hỗ trợ các hoạt động đầu tư của công ty, thị
trường chứng khoán đã có những tác động quan trọng đối với sự phát triển của
nền kinh tế quốc dân. Thông qua thị trường chứng khoán, Chính phủ và chính
quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử
dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội.
- Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng:
____________________________________________________________________________
Nguyễn Minh Đức - KT&QLC46
11
Đề án môn học
____________________________________________________________________________
Thị trường chứng khoán cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư
lành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú. Các loại chứng khoán trên thị
trường rất khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư
có thể lựa chọn cho mình loại hang hoá phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở
thích của mình. Chính vì vậy, thị trường chứng khoán góp phần đáng kể làm tăng
mức tiết kiệm quốc gia.
- Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán:
Nhờ có thị trường chứng khoán, các nhà đàu tư có thể chuyển đổi các
chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt hoặc thành các loại chứng khoán khác khi
họ muốn. Khả năng thanh toán (khả năng chuyển đổi thành tiền mặt) là một trong
những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với nhà đầu tư. Đây là yếu tố cho
thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư. Thị trường chứng khoán càng năng
động và có hiệu quả thì càng có khả năng nâng cao tính thanh khoản của các
chứng khoán giao dịch trên thị trường.
- Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp:
Thông qua giá chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản
ánh một cách tổng hợp và chính xác giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động
của các doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra một môi
trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp
dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm.
- Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô:
Các chỉ số của thị trường chứng khoán phản ánh động thái của nền kinh tế
một cách nhạy bén và chính xác. Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư
đang mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng; và ngược lại giá chứng khoán giảm sẽ
cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế. Vì thế, thị trường chứng khoán
được ví là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp
____________________________________________________________________________
Nguyễn Minh Đức - KT&QLC46
12
Đề án môn học
____________________________________________________________________________
Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô. Thông qua thị trường chứng
khoán, Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn thu bù
đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát. Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử
dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào thị trường chứng khoán nhằm
định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế.
2.2.3 Các nguyên tắc hoạt động cơ bản của thị truờng chứng khoán:
Sự vận động của bất kì một thị trường nào cho dù đơn giản hay phức tạp
đều có nguyên tắc hoạt động riêng của nó. Các nguyên tắc này đảm bảo sự tồn tại
và phát triển của thị trường theo những hướng nhất định. Đối với thị trường
chứng khoán, cơ chế vận hành của nó được dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau:
- Nguyên tắc công khai:
Chứng khoán là một loại hang hoá trừu tượng, người đầu tư không thể
kiểm tra trực tiếp được các chứng khoán như các hàng hoá thông thường mà phải
dựa trên các thông tinh có liên quan. Vì vậy, thị trường chứng khoán phải được
xây dựng trên cơ sở hệ thống công bố thông tin tốt. Việc công khai thông tin thị
trường chứng khoán phải thoả mãn các yêu cầu: chính xác, kịp thời, dễ tiếp cận.
Nguyên tắc công khai nhằm bảo vệ nhà đầu tư, song đồng thời nó cũng
hàm nghĩa rằng, một khi đã được cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời và chính xác
thì nhà đầu tư phải chịu trách nhiệm về các quyết định đầu tư của mình.
- Nguyên tắc trung gian:
Thị trường chứng khoán hoạt động không phải do những người muốn mua
hay muốn bán chứng khoán trực tiếp thực hiện, mà phải thông qua các môi giới,
làm nhiệm vụ trung gian trong việc tổ chức và hoạt động của thị trường chứng
khoán. Nguyên tắc này nhằm đảm bảo các loại chứng khoán được giao dịch là
chứng khoán thật, và thị trường chứng khoán hoạt động được lành mạnh, hợp
pháp, bảo vệ được lợi ích của các nhà đầu tư.
____________________________________________________________________________
Nguyễn Minh Đức - KT&QLC46
13
Đề án môn học
____________________________________________________________________________
Nguyên tắc trung gian trong giao dich chứng khoán được thực hiện thông
qua các nhà môi giới và các thương gia chứng khoán hay còn gọi là các nhà kinh
doanh chứng khoán.
Các trung gian môi giới phải là những người có kiến thức về chứng khoán
và thị trường chứng khoán, có khả năng phân tích, đánh giá và nhận định xu
hướng phát triển của nền kinh tế.
- Nguyên tắc cạnh tranh:
Theo nguyên tắc này, giá cả trên thị trường chứng khoán phản ánh quan hệ
cung cầu về chứng khoán và thể hiện tương quan cạnh tranh giữa các công ty.
Trên thị trướng sơ cấp, các nhà phát hành (doanh nghiệp niêm yết chứng khoán)
cạnh tranh với nhau để bán chứng khoán của mình cho các nhà đầu tư, các nhà
đầu tư được tự do lựa chọn các chứng khoán theo mục tiêu của mình. Trên thị
trường thứ cấp, các nhà đầu tư cũng cạnh tranh tự do để tìm kiếm cho mình một
lợi nhuận cao nhất, và giá cả được hình thành theo phương thức đấu giá. Nguyên
tắc này dựa trên mối quan hệ cung cầu trên thị trường quyết định.
- Nguyên tắc công bằng:
Công bằng có nghĩa là mọi người tham gia thị trường đều phải tuân thủ
những quy định chung, được bình đẳng trong việc chia sẻ thông tin và trong việc
gánh chịu các hình thức xử phạt nếu vi phạm vào những quy định đó.
- Nguyên tắc tập trung:
Các giao dịch chứng khoán chỉ diễn ra trên sở giao dịch và trên thị trường
OTC dưới sự kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức tự
quản.
2.3 Cơ cấu tổ chức của thị trường chứng khoán
____________________________________________________________________________
Nguyễn Minh Đức - KT&QLC46
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét