- Thể thể hiện được nhiều phương pháp giảng dạy thích hợp đối với GDTC ở trường tiểu
học.
- Lập các loại kế hoạch chi tiết, giáo án chi tiết cho môn thể dục trong nhà trường tiểu
học.
- Có thể nghiên cứu về GDTC trong trường tiểu học.
- Cố gắng nâng cao năng lực chuyên môn thông qua việc nghiên cứu và thực hành giảng
dạy.
Phần III: Trò chơi vận động.
Trong giáo dục thể chất, trò chơi vận động vừa là một phương tiện vừa là phương pháp tập
luyện hữu hiệu nhằm phối hợp hoạt động một cách hưũ cơ với việc rèn luyện thân thể. Trò chơi vận
động là một hình thức giáo dục thể chất được vận dụng rộng rãi trong nhà trường phổ thông, đặc
biệt ở các lớp tiểu học.
Trò chơ i vận động là một nội dung quan trong trong chương trình đào tạo GV tiểu học có
trình độ CĐSP.
Giảng dạy trò chơi vận động nhằm:
- Trang bị cho SV những kiến thức cơ bản nhất về nguồn gốc, bản chất, đặc điểm và ý nghĩa,
tác dụng của trò chơi vận động đối với SV trong các trường sư phạm đào tạo GV tiểu học và với HS
tiểu học, về phương pháp và các hình thức tổ chức thực hiện trò chơi vận động cho HS tiểu học.
- Xác định, mô tả, phân tích được các yêu cầu, nguyên tắc và phương pháp tổ chức thực hiện
trò chơi cho HS tiểu học.
- Bước đầu xác lập được một số trò chơi vận động phù hợp đặc điểm tâm – sinh lý HS tiểu
học.
- Thuần thục khi thực hiện tổ chức, điều khiển một số trò chơi vận động bậc tiểu học.
- Có thể tổ chức, điều hành thi đấu một số trò chơi vận động cho HS tiểu học.
- Có thái độ tự giác, tích cực trong học tập, rèn luyện tham gia các trò chơi.
- Có thói quen nghiên cứu, sưu tầm, sáng tác các trò chơi vận động và trò chơi dân gian phù
hợp đăc điểm tâm - sinh lý HS tiểu học.
- Hình thành cho SV kỹ năng vận dụng những tri thức đã học vào thực tiễn tập luyện và đặt
cơ sở cho công tác giảng dạy trò chơi vận động sau này. Đồng thời, hình thành cho họ năng lực và
các phẩm chất nghiệp vụ sư phạm về giảng dạy trò chơi vận động cho HS tiểu học.
- Góp phần hình thành thế giới quan duy vật biện chứng, nhân sinh quan khoa học, bồi
dưỡng tình cảm nghề nghiệp cho SV, trên cơ sở đó giúp cho họ tiếp tục hoàn thiện nhân cách người
GV XHCN.
Lần đầu tiên, tài liệu được biên soạn theo chương trình và phương pháp mới, chắc chắn
không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Các tác giả và Ban điều phối Dự án rất mong nhận
được những ý kiến đóng góp chân thành của bạn đọc, đặc biệt là đội ngũ giảng viên, sinh viên các
trường Sư phạm, GV tiểu học trong cả nước.
Trân trọng cảm ơn!
Dự án Phát triển GVTH
PHẦN I
ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC
Chủ đề I: Đặc điểm tâm lý và sinh lý vận động của HS tiểu học (2 tiết)
Mục tiêu
Học xong chủ đề này giúp sinh viên:
- Có những hiểu biết cơ bản về đặc điểm tâm lý và sinh lý của HS tiểu học.
- Xác định được đặc điểm tâm lý và sinh lý của HS tiểu học để từ đó làm cơ sở cho sau này
khi ra trường tiến hành công tác giáo dục nói chung, giảng dạy thể dục nói riêng cho HS tiểu học có
hiệu quả.
Hoạt động: Tìm hiểu đặc điểm tâm lý và sinh lý vận động của HS tiểu học
Thông tin cơ bản
1. Đặc điểm tâm lí của HS tiểu học
HS tiểu học thuộc lứa tuổi từ 6 - 11 tuổi. Ở lứa tuổi này các em có những biến đổi quan trọng
trong cuộc sống, lao động, học tập, do đó các đặc điểm tâm lý thể hiện qua các hoạt động về nhận
thức, tình cảm, cảm xúc có những thay đổi cơ bản.
So với lứa tuổi mẫu giáo, mối quan hệ giao tiếp, quan hệ xã hội của HS tiểu học có những
thay đổi và biểu hiện rõ trên các nội dung và hình thức giáo dục khác nhau.
Đối với lứa tuổi HS tiểu học, học tập đã trở thành một hoạt động chủ đạo. Sự say mê học tập
chưa thể hiện đó là nhận thức trách nhiệm đối với xã hội, mà chủ yếu là từ các động cơ mang ý nghĩa
tình cảm như: được thầy cô, ông bà, bố mẹ, anh chị khen ngợi và động viên. Do đó các em cố gắng
học tập vì tình yêu thương, chăm lo của ông bà, bố mẹ, anh chị học tốt để được khen ngợi và trở
thành:" Cháu ngoan Bác Hồ".
HS tiểu học ở các lớp đầu cấp, có khuynh hướng ghi nhớ một cách máy móc, chưa có khả
năng phân tích tự giác.
HS các lớp 3, 4 bước đầu đã biết tìm các dấu hiệu đặc trưng cho sự vật, biết phân biệt các đặc
điểm của các chi tiết, các phần kỹ thuật động tác, song còn giản đơn. Khả năng phân tích các hiện
tượng trong tập luyện, lao động, sinh hoạt còn kém, nên dễ bị động khi được nhắc nhở, sai bảo, dẫn
đến biểu hiện kém tự tin, kém khả năng kiềm chế hành vi, thái độ.
Để hình thành các hiểu biết, kiến thức các em thường học thuộc lòng từng câu, từng chữ. Để
hình thành kỹ năng vận động các em thường bắt chước, cố gắng làm theo các động tác, điệu bộ, hành
vi của GV
Ở các lớp cuối cấp (lớp 4,5), việc ghi nhớ được hình thành và phát triển, do đó: khi lên lớp giảng
dạy lý thuyết cũng như thực hành GV cần chú ý sử dụng linh hoạt các phương pháp, biện
pháp giảng dạy nhằm kích thích sự suy nghĩ, tính sáng tạo, ý thức tự giác- tích cực tập luyện của HS
Trong giảng dạy TDTT, do tư duy của các em vẫn còn mang tính chất hình ảnh cụ thể. Các em sẽ
tiếp thu dễ dàng và nhanh chóng hơn đối với các khái niệm có kèm theo minh hoạ (hình ảnh trực quan).
Do vậy, khi giảng dạy các động tác TDTT ngoài việc phân tích- giảng giải kỹ thuật động tác, nhất thiết
GV phải làm mẫu động tác và sử dụng rộng rãi các hình thức trực quan khác.
Hoạt động vui chơi đối với HS nói chung (đặc biệt là HS tiểu học) là một yêu cầu hết sức cần
thiết, đây là nhu cầu tự nhiên và rất cấp thiết không thể thiếu được trong cuộc sống và trong học tập
của trẻ.
Thông qua các hoạ t động vui chơi mà tạo nên các hình thức giáo dục tri thức, đạo đức, thẩm
mỹ và hoàn thi ện sự phát triển cơ thể của các em. Mặt khác, hình thức hoạt động vui chơi còn giúp
các em giải toả sự "căng thẳng", "dồn ép" thời gian khá nhiều cho học tập, hồi phục khả năng làm việ
c, hồi phục sức khoẻ , góp phần duy trì tính tích cực- tự giác, lòng hăng say học tập, lao động, tạo tâm
hồn tươi trẻ cho các em.
Về mặt tình cảm, thái độ cư xử trong sinh hoạt, học tập của HS tiểu học chưa ổn định. Các
em thường thay đổi tâm trạng, hay xúc động, sự vui-buồn thường gặp trong cùng một hoạt động, một
thời điểm.
Các phẩm chất tâm lý, như: tính độc lập, sự tự kiềm chế, tự chủ còn thấp.
Do trình độ thể lực, kinh nghi ệm cuộc sống chưa có mọi sinh hoạt của các em còn chịu sự
tác động ả nh hưởng trực tiếp của cha mẹ, thầy cô do đó các em thường trông chờ vào sự giúp đỡ
của người khác khi gặp khó khăn, vì vậy trong các hoạt động giáo dục nói chung (trong đó có GDTC)
và trong sinh hoạt, cần có các yêu cầu mớ i phù hợp với khả năng của các em để gây dựng cho các em
lòng say mê và sáng tạo trong các hoạt động.
Trong hoạt động GDTC nói chung và giảng dạy TDTT nói riêng, GV cần có những phương pháp
sư phạm thích hợp, có những biện pháp tổ chức t ập luyện hợp lý để động viên kịp thời và phát huy tính
tự giác- tích cực tập luyện của HS tạo cho các em sự tin t ưởng vào GV và vào chính bản thân mình để
sẵn sàng đón nhận các yêu cầu mới của bài tập và các hiểu biết khác.
Các thủ thuật về phương pháp cần áp dụng trong giảng dạy TDTT cho HS tiểu học là:
- Mô tả chính xác động tác bằng lời nói.
- Làm mẫu động tác chính xác, đẹp, có sức lôi cuốn.
- Tích cực vận dụng phương pháp trò chơi trong tập luyện.
Bên cạnh đó, GV phải luôn luôn là tấm gương tốt về phẩm chấ t, hành động, lời nói, việc làm
để các em theo đó học tập và củng cố lòng tin đối vời thầy- cô giáo, vời bạn bè, gia đình và xã hội.
2. Đặc điểm sinh lý vận động của HS tiểu học
2.1. Đặc điểm hệ cơ- xương
a) Hệ cơ
Ở lứa tuổi HS tiểu học, cơ của các em có chứa nhiều nước, tỉ lệ các chất đạm, mỡ còn ít, nên
khi hoạt động chóng mệt mỏi.
Sức mạnh cơ ở lứa tuổi này còn rất hạn chế, giới hạn sinh lý về khả năng chịu đựng mà các
em có thể mang vác được tính theo lứa tuổi:
-
5 tuổi là 2,1 kg -
8 tuổi là 3,5 kg
-
7 tuổi là 2,9 kg -
12 tuổi là 5,2 kg
Các nhóm cơ to phát triển sớm hơn các nhóm cơ nhỏ, do đó khả năng phối hợp vận động ở
HS tiểu học nói chung còn rất kém. Để phát triển khả năng vận động có sự phối hợp nhịp nhàng và
khéo léo cho các em cần hướng dẫn cho các em các thao tác kỹ thuật nhỏ, yêu cầu tính khéo léo, như:
múa, vẽ, viết, làm thủ công, các trò chơi vận động (xếp chữ, sắp xếp các đồ vật nhỏ cần thao tác khéo
léo, nhẹ nhàng, tỉ mỉ )
Lực cơ của HS tiểu học được tăng dần theo lứa tuổi. Với các HS nam 7 tuổi thì lực cơ trung
bình là: 4 - 7 kg, 12 tuổi là: 11,3 - 13,9 kg. Ở lứa tuổi này cơ phát triển còn thiếu cân đối, nên khả
năng phối hợp vận động còn kém, khi thực hiện động tác sẽ có nhiều cử động thừa, tốn sức, kém hiệu
quả, gây mệt mỏi và sự chán nản trong tập luyện.
b) Hệ xương
Ở lứa tuổi HS tiểu học, tốc độ phát triển của xương nhanh hơn so với các bộ phận khác của cơ
thể, đặc biệt là xương ở tay và chân.
Cấu trúc xương và khớp chưa được phát triển hoàn chỉnh, vững chắc, mà là đến tuổi 16 - 17
mới tương đối ổn định. Vì vậy, trong tập luyện TDTT cũng như trong sinh hoạt, lao động cần tránh
các động tác đè nén lên cơ thể, đòi hỏi HS phải chống đỡ, làm mất cân xứng hai bên chậu hông, tạo
nên sự sai lệch cơ thể, gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển và trưởng thành sau này cho các em.
Ở lứa tuổi HS tiểu học, các đốt xương ở cột xương sống có độ dẻo cao, chưa thành xương
hoàn toàn và còn ở trong giai đoạn hình thành đường cong sinh lý. Do đó, những tư thế ngồi, đứng, đi
lại, chạy, nhảy không phù hợp với cấu trúc tự nhiên và giải phẫu sẽ dễ làm cong vẹo cột sống, gây
ảnh hưởng không tốt tới sự phát triển của lồng ngực và cấu trúc cân đối của toàn thân. Ở độ tuổi 20 -
25 xương sống mới được cốt hoá hoàn toàn.
Tập luyện TDTT thường xuyên, trên cơ sở có sự hướng dẫn khoa học với một chương trình, kế
hoạch tập luyện hợp lý, phù hợp đặc điểm cấu tạo giải phẫu và đặc điểm sinh lý của HS tiểu học sẽ tạo
nên điều kiện thuận lợi cho quá trình phát triển của hệ xương và cơ thể các em.
2.2. Đặc điểm hệ tuần hoàn
Ở lứa tuổi HS tiểu học, nhịp tim nhanh (mạch đập thông thường là: 85 - 90 lần/phút). Khi
hoạt động vận động hoặc có trạng thái lo lắng thì nhịp tim đập nhanh hơn, dồn dập hơn.
Lượng máu mỗi lần tim co bóp đưa vào động mạch (LLTT) được tăng dần: -
Ở lứa tuổi 7-8, LLTT là: 23 ml
- Ở lứa tuổi 13-14, LLTT là: 35- 38 ml
- Ở người trưởng thành, LLTT là: 65- 70 ml.
Ở lứa tuổi HS tiểu học, nếu các em phải chịu đựng hoạt động lao động, học tập, tập luyện
TDTT hoặc vui chơi quá sức và kéo dài, dẫn đến tim phải làm việc quá tải sẽ phát sinh bệnh tim-
mạch hoặc các bệnh khác.
Trong quá trình tập luyện TDTT, nếu các em được hướng dẫn tập luyện theo nội dung,
chương trình phù hợp, sẽ tạo điều kiện phat triển và rèn luyện nâng dần sức chịu đựng, khả năng làm
việc của hệ tuần hoàn.
2.3. Đặc điểm hệ hô hấp
Ở lứa tuổi HS tiểu học, hệ hô hấp đang ở thời kỳ hoàn thiện, các em đang dần dần tạo nên thói
quen chuyển từ thở kiểu bụng sang thở kiểu ngực, lồng ngực phát triển chưa hoàn thiện.
Độ giãn nở của các phế nang (túi phổi) còn thấp, nên nhịp thở còn nông. Số lượng phế nang
tham gia mỗi lần hô hấp còn ít, nên lượng ôxy được đưa vào máu không cao.
Lượng không khí chứa đựng trong phổi còn thấp (ở trẻ 8 tuổi là: 1,699 lít, ở người trưởng
thành là: 4 lít). Do vậy, phổi của các em phải thường xuyên làm việc khẩn trương mới cung cấp đủ ô
xy cho cơ thể .
Về lượng thông khí phổi (thể tích khí mỗi lầ n hít vào hoặc thở ra bình thường), dung tích
sống (thể tích khí thở ra cố gắng, sau khi hít vào hết sức) được tăng dần theo sự phát triển lứa tuổi
của trẻ .
Tần số hô hấp (số lần thở ra -hít vào trong một phút) của HS tiểu học t ương đối cao. Do đó,
khi hoạt động vận động (tập luyện TDTT) với lượng vận động vừa phải thì nhị p thở đã tăng lên cao,
các em dễ mệt mỏi sớm chuyển sang thở gấp, đòi hỏi phải có thời gian nghỉ ngơi phù hợp với lứa tuổi
các em.
Tập luyện TDTT đảm bả o tính khoa học, phù hợp đặc điểm hệ hô hấp của trẻ sẽ tạo điều kiện
cho hệ hô hấp phát triển tốt và từ đó nâng cao chất lượng hô hấp c ủa phổi, tạo điều kiện phát triển và
hoàn thiện quá trình trao đổi chất và nâng cao khả năng hoạt động của các hệ thống cơ quan khác:
tuần hoàn, cơ- xương, thần kinh, bài tiết, tiêu hoá
Đặc điểm hệ thần kinh
lứa tuổi HS tiểu học, hoạt động phân tích và tổng hợp của HS kém nhạy bén, nhận thức các
hiện tượng biến đổi của xã hội còn mang tính chủ quan, cảm tính, bị động
lứa tuổi này các em có khả năng bắt chước một cách máy móc, khả năng phân biệt, tính sáng
tạo còn hạn chế. Do đó, trong giảng dạy TDTT, GV cần phải làm mẫu chính xác các kỹ thuật động
tác theo yêu cầu bài học.
lứa tuổi HS tiểu học, thường có một số loại hình thần kinh sau:
Loại mạnh- thăng bằng: Hưng phấn bình thường, thể hịên trạng thái sức khoẻ tốt, các em này
có khả năng hình thành phản xạ nhanh, có tình cảm sâu sắc, bình tĩnh, tự tin, mức độ tập trung cao, trí
nhớ tốt
Loại mạnh- hưng phấn: Hưng phấn mạnh, dễ bị kích thích, chóng thích nhưng cũng chóng chán,
thành lập phản xạ nhanh nhưng cũng dễ phá vỡ, khả năng tập trung tư tưởng kém
Loại yếu (thụ động): Là những HS nhút nhát, khả năng phản ứng kém, trí nhớ kém phát triển,
khó thành lập phản xạ có điều kiện
Trong quá trình giảng dạy TDTT, GV cần că n cứ vào các đặc điểm biểu hiện của các loại
hình thần kinh trên để phân loại HS theo các loại, để từ đó có các phương pháp giáo dục phù hợp,
nhằm đưa lại hiệu quả cao nhất trong GDTC cho HS tiểu học.
Nhiệm vụ
1: Toàn lớp nghe GV giảng bài kết hợpđàm thoại (45 phút)
Câu hỏi đàm thoại:
Đặc điểm tâm lý HS tiểu học ?
Đặc điểm hệ cơ của HS tiểu học ?
Đặc điểm hệ xương của HS tiểu học ?
Đặc điểm hệ tuần hoàn của HS tiểu học ?
Đặc điểm hệ hô hấp của HS tiểu học ?
Đặc điểm hệ bài tiết của HS tiểu học ?
2: SV tựnghiên cứu tài liệu và tiến hành thảo luận nhóm (30 phút)
Câu hỏi thảo luận:
Đặc điểm sinh lý vận động của HS tiểu học ?
3 Traođổi, thảo luận chung cảlớp (15 phút).
SV: Đại diện từng tổ báo cáo kết quả thảo luận.
GV: Nhận xét, đánh giá và kết luận.
Đánh giá: Câu hỏi tự đánh giá
Câu1: Đánh dấu vào ô tương ứng, phản ánh một số đặc điểm tâm lý HS tiểu
học. a. Khuynh hướng ghi nhớ của HS tiểu học:
Máy móc Có ý thức
b. Khả năng phân tích tự giác:
Chưa hình thành
Đã hình thành
c. Tư duy mang tính chất:
Hình ảnh cụ thể
Trừu tượng
d. Thái độ cư xử của HS tiểu học trong học tập, sinh hoạt:
Đã ổn định Chưa ổn định
e. Tính độc lập, kiềm chế, tự chủ:
Thấp
Cao Bình thường
Câu 2: Hãy cho biết m ột số đặc điểm hệ cơ của HS tiểu học, thông qua việc lựa chọn và
đánh dấu vào ô tương ứng.
a. Lượng nước trong cơ:
ÍtNhiều Vừa
b. Tỷ lệ các chất đạm, mỡ trong cơ
Vừa ÍtNhiều
c. Sức mạnh cơ:
Bình thường
Mạnh
Yếu
d. Giới hạn sinh lý về khả năng chịu đựng mà lứa tuổi 8 tuổi có thể mang vác được:
3 kg 3,5 kg
5 kg
e. Khả năng phối hợp vận động:
Khá Trung bình kém
f. Lực cơ trung bình của HS nam 7 tuổi:
4-7 kg
8-10 kg
11-14 kg
Câu 3: Đánh dấu vào ô tương ứng, phản ánh một số đặc điểm về xương của HS tiểu
học:
a. Tốc độ phát triển của xương so với các bộ phận khác của cơ thể:
Nhanh Chậm
Trung bình
b. Cấu trúc của xương:
Chưa phát triển hoàn chỉnh
Phát triển hoàn chỉnh
c. Độ dẻo của xương:
Thấp
Cao Trung bình
Câu 4: Chọn các cụm từ trong các cụm từ : Lưu lượng phút, lưu lượng tâm thu, lượng
thông khí phổi, mạch đập điền vào các dấu tương ứng nhằm phản ánh đặc điểm hệ tuần
hoàn và hệ hô hấp của HS tiểu học:
a. là 85-90 lần / phút
b. ở lứa tuổi 7-8 tuổi là 23 ml
c. ở lứa tuổi 7-8 tuổi là khoảng 1,8 lít/ phút.
d. ở trẻ 8 tuổi là khoảng 1,7 lít.
Chủ đề II:
Ảnh hưởng và tác dụng củ a tập luyện TDTT đối vớ i con người nói chung
và với HS tiểu học (2 tiết)
Mục tiêu:
Học xong chủ đề này giúp sinh viên:
- Có những hiểu biết về ảnh hưởng và tác dụng của tập luyện TDTT đối với cơ thể con người
nói chung và đặc biệt là ảnh hưởng và tác dụng của tập luyện TDTT HS tiểu học.
- Hình thành ý thức tham gia tập luyện TDTT và giữ gìn vệ sinh nhằm không ngừng củng cố,
nâng cao sức khoẻ để phục vụ cho nhiệm vụ học tập, rèn luyện và tham gia tích cực các hoạt động
TDTT do nhà trường và xã hội tổ chức.
Hoạt động: Phân tích ảnh hưởng và tác dụng của tập luyện TDTT đối với con người nói
chung và với HS tiểu học
Thông tin cơ bản
Đặt vấn đề.
Cơ thể con người là một khối thống nhất. Tất cả các hệ thống, cơ quan trong cơ thể có mối
quan hệ mật thiết, tác động qua lại với nhau.
Khi ta vận động (tập luyện TDTT) thì không những cơ bắp hoạt động, mà tim, phổi, thần
kinh, bài tiết đều tăng cường hoạt động và có ảnh hưởng rõ rệt.
Tập luyện TDTT có tác dụng làm cho các tổ chức của các cơ quan trong cơ thể thay đổi hình
thái và nâng cao năng lực vận động. Hai mặt đó liên quan mật thiết và tác động lẫn nhau (cấu trúc
thay đổi ↔ chức năng thay đổi).
1. Tác dụng của tập luyện TDTT đối với cơ thể con người
Hoạt động TDTT là một trong những hoạt động vận động tích cực được thực hiện trong các
điều kiện phức tạp của thế giới tự nhiên.
Phương tiện hoạt động TDTT gồm có các bài tập thể chất, các điều kiện tự nhiên (ánh sáng,
không khí, bức xạ mặt trời, nước ) và các yêu cầu về vệ sinh, chính vì vậy mà: tập luyện TDTT có
tác động và ảnh hưởng tốt đối với cơ thể người tập, cụ thể là:
Tập luyện TDTT là phương pháp phòng bệnh tích cực, tăng cường sức đề kháng cho cơ thể,
chống bệnh tật, tạo điều kiện cho cơ thể được phát triển tự nhiên, cân đối, tăng cường sức khoẻ và
kéo dài tuổi thọ.
Nâng cao năng lực hoạt động của cơ thể, góp phần rèn luyện những phẩm chất đạo đức- ý
chí cần thiết cho con người, phát triển toàn diện các tố chất vận động: Sức nhanh, sức mạnh, sức
bền, mềm dẻo và khéo léo.
1.3. Tập luyện TDTT sẽ góp phần khắc phục, sửa chữa được một số khuyết tật của cơ thể,
phòng chống bệnh nghề nghiệp và góp phần quan trọng vào việc điều trị, hồi phục tích cực các cơ
quan vận động và một số bệnh lý khác về thần kinh, nội tạng
Thực vậy, hoạt động TDTT một cách thường xuyên sẽ nâng cao được khả năng trao đổi chất
trong cơ thể, góp phần tích cực nâng cao sức khoẻ, giúp cơ thể phát triển tự nhiên, cân đối, hài hoà.
Dưới tác động của tập luyện TDTT sẽ làm thay đổi cấu trúc theo hướng tích cực và nâng cao
khả năng làm việc của các hệ thống, cơ quan trong cơ thể, nhờ đó mà các tố chất thể lực được nâng
cao.
Tập luyện TDTT một cách thường xuyên sẽ nâng cao được cường độ hoạt động, khả năng
thăng bằng, độ linh hoạt, khả năng phân tích- tổng hợp của hệ thần kinh, từ đó nâng cao năng lực
thích ứng của cơ thể đối với những thay đổi của thời tiết, khí hậu và hoàn cảnh Do vậy, tập luyện
TDTT thường xuyên có ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực công tác, lao động, học tập được nâng lên
rõ rệt.
1.4. Tập luyện TDTT sẽ làm cho năng lực hoạt động của các cơ quan nội tạng được nâng
cao, cụ thể là:
a) Đối với hệ tuần hoàn
Khi chúng ta thực hiện động tác TDTT sẽ làm tăng nhu cầu cung cấp năng lượng và ôxy.
Những sản phẩm của quá trình trao đổi chất (Ni tơ, Axít lác tíc ) cũng cần phải được vận chuyển đi
mau chóng. Do vậy, hoạt động tuần hoàn phải được tăng cường.
Dưới tác động trực tiếp của việc thực hiện các động tác thể dục thể thao, thì: +
Tốc độ tuần hoàn của máu được tăng lên.
+ Lưu lượng tâm thu (LLTT) và lưu lượng phút (LLP) của tim tăng lên.
+ Sự phân phối máu trong toàn cơ thể thay đổi.
Tập luyện TDTT một cách thường xuyên sẽ làm cho tim có khả năng thích nghi với yêu cầu hoạt
động ngày càng cao nhờ có sự thay đổi về cấu trúc tim và chức năng hoạt động của nó.
+ Trước hết là sự thay đổi độ lớn của tim.
* Tim của người tham gia tập luyện TDTT thường xuyên (VĐV) sẽ có thể tích lớn hơn người
thường và thành tâm thất dày lên.
* Trọng lượng tim của VĐV cũng lớn hơn của người thường (VĐV: 350 - 450 gam; người
thường: 300 - 350 gam).
+ Thay đổi về khả năng hoạt động của tim.
Hoạt động TDTT thường xuyên làm cho cấu trúc tim thay đổi, nhờ đó mà LLTT và LLP của
Tim VĐV có sự khác biệt so với của người thường, cụ thể là:
+ Khi yên tĩnh:
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét