§Ò ¸n m«n häc
2.Cơ cấu của tổ chức WTO :
WTO có một cơ cấu tổ chức hoàn thiện gồm 3 cấp: các cơ quan lãnh
đạo chính trị (decision- making power) bao gồm Hội nghị Bộ trưởng, Đại hội
đồng WTO, Cơ quan giải quyết tranh chấp và Cơ quan kiểm điểm chính sách
thương mại; các cơ quan thi hành và giám sát việc thực hiện các hiệp định
thương mại đa phương, bao gồm Hội đồng Thương mại hàng hoá, Hội đồng
Thương mại dịch vụ và Hội đồng về các khía cạnh liên quan đến Thương mại
của quyền sở hữu trí tuệ.
+ Hội nghị Bộ trưởng WTO: là cơ quan lãnh đạo chính trị cao nhất của
WTO, họp ít nhất 2 năm 1 lần, thành viên là đại diện cấp Bộ trưởng của tất cả
các thành viên. Hội nghị Bộ trưởng WTO cũng có quyền quyết định về tất cả
các vấn đề trong khuôn khổ bất kỳ một hiệp định đa phương nào của WTO.
+ Đại hội đồng WTO: Trong thời gian giữa các khoá họp của Hội nghị
Bộ trưởng WTO, các chức năng của Hội nghị Bộ trưởng WTO do Đại hội
đồng (General Council) đảm nhiệm. Đại hội đồng có quyền thành lập các uỷ
ban giúp việc và báo cáo trực tiếp lên Đại hội đồng là: Uỷ ban về thương mại
và phát triển; Uỷ ban về các hạn chế cán cân thanh toán; Uỷ ban về ngân sách,
tài chính và quản trị; Uỷ ban về các hiệp định thương mại khu vực. Đại hội
đồng WTO cũng đồng thời là "Cơ quan giải quyết tranh chấp" (DSB -
Dispute Settlement Body) khi thực hiện chức năng giải quyết tranh chấp và là
"Cơ quan kiểm điểm chính sách thương mại" (TPRB - Trade Policy Review
Body) khi thực hiện chức năng kiểm điểm chính sách thương mại.
+ Các Hội đồng giám sát việc thực thi các hiệp định thương mại đa
phương WTO có 3 Hội đồng (Council) được thành lập để giám sát việc thực
thi 3 hiệp định thương mại đa phương là Hội đồng GATT, Hội đồng GATS và
Hội đồng TRIPS.
+ Tổng giám đốc và Ban Thư ký WTO
§Ò ¸n m«n häc
Khác với GATT 1947, WTO có một Ban Thư ký rất quy mô, bao gồm
khoảng 500 viên chức và nhân viên thuộc biên chế chính thức của WTO.
Đứng đầu Ban Thư ký WTO là Tổng giám đốc WTO. Tổng giám đốc WTO
Bộ trưởng bổ nhiệm với nhiệm kỳ 4 năm. Ngoài vai trò điều hành, Tổng giám
đốc của WTO còn có một vai trò chính trị rất quan trọng trong hệ thống
thương mại đa phương. Chính vì vậy mà việc lựa chọn các ứng cử viên vào
chức vụ này luôn là một cuộc chạy đua ác liệt giữa các nhân vật chính trị quan
trọng, cấp bộ trưởng, Phó Thủ tướng hoặc Tổng thống (Trong số các ứng cử
viên vào chức vụ Tổng giám đốc đầu tiên của WTO có ông Salinas, cựu Tổng
thống Mê-hi-cô).
3.Thủ tục khi tham gia vào tổ chức thương mại thế giới WTO
+ Để có thể tham gia vào tổ chức này thì các quốc gia phải thoả mãn
các điều kiện như: độc lập về chính sách thương mại quốc tế, công khai rõ
ràng các số liệu kinh tế, quốc gia đó phải có nền kinh tế thị trường và có
nguyện vọng tham gia trở thành thành viên và có khả năng đáp ứng yêu cầu
trong việc thực hiện các hiệp định trong WTO.
+ Thủ tục gia nhập WTO:
- Hội đồng nội các lập uỷ ban xét duyệt giao cho nước muốn tham gia
dự một danh mục các câu hỏi và dự thảo nghị định gia nhập WTO.
- Trên cơ sở báo cáo trả lời câu hỏi, chủ tịch uỷ ban sẽ triệu tập các
thành viên và nước muốn tham dự để bàn bạc, tìm hiểu và đặt thêm các câu
hỏi (nếu có).
- Nước muốn tham gia đàm phán về điều kiện gia nhập và ưu đãi thuế
quan với các nước thành viên. Các nước muốn tham gia nộp đơn lên tổng
giám đốc WTO. Uỷ ban xét duyệt đệ trình lên hội đồng chung để phê duyệt.
Quốc gia nộp đơn trở thành thành viên khi được sụ đồng ý của ít nhất 2/3 số
thành viên hiện có và được quốc hội nước đó thông qua.
+ Lợi thế của các nước khi là thành viên của WTO
§Ò ¸n m«n häc
WTO với tư cách là một tổ chức quốc tế của tất cả các nước trên thế
giới vói mục đích là nâng cao mức sống của nhân đân thành viên các nước,
sử dụng một cách có hiệu quả nhất các nguồn lực của thế giới, đảm bảo việc
làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thương mại.
- Các thành viên khi tham gia vào tổ chức này sẽ được hưởng quy chế
tối huệ quốc (MFN) quy chế đối xử quốc gia (NT), mức thuế quan đặc biệt đối
với từng thành viên khi xuất nhập khẩu. Như vậy, các quốc gia này có thể
chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế, thúc đẩy tăng
trưởng hành hoá, dịch vụ. Đối với các nước đang phát triển được chế độ ưu
đãi do WTO quy định, được phép bảo hộ những ngành nghề còn non yếu cao
hơn các nước đang phát triển.
- Mặt khác, các thành viên của tổ chức còn được giải quyết mọi bất
đồng, tranh chấp thương mại trong khuôn khổ của hệ thống thương mại đa
phương, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của công pháp quốc tế, đảm bảo
cho các nước đang phát triển và các nước kém phát triển nhất được hưởng
những lợi ích thực sự từ sự tăng trưởng của thương mại quốc tế phù hợp với
nhu cầu phát triển kinh tế của các nước này và khuyến khích các nước ngày
càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới.
- Hơn nữa, WTO có chức năng là cơ chế kiểm điểm các chính sách
thương mại của các nước thành viên để đảm bảo thực hiện mục tiêu thúc đẩy
tự do hoá thương mại, tuân thủ các quy định của WTO và quy định này được
áp dụng đối với tất cả các thành viên. Điều này giúp cho các thành viên của tổ
chức thuận lợi cho việc thoả thuận thương mại, giao lưu buôn bán, thúc đẩy
quá trình chuyển giao công nghệ, du lịch và đem lại lợi ích cho đông đảo
người dân được hưởng những thành quả của tiến bộ khoa học công nghệ với
giá rẻ nhất.
4/ Nền kinh tế của Trung Quốc trước khi gia nhập WTO :
Trung Quốc là một đất nước có diện tích 9.597.000 km
2
, đứng thứ tư
sau Liên Bang Nga (17.075.000 km
2
), Canada (9.971.000 km
2
) và Mỹ
§Ò ¸n m«n häc
(9.629.000 km
2
), gấp 30 lần so với diện tích nước ta. Dân số giữa năm 2000
khoảng 2.264,5 triệu người, đông nhất thế giới, chiếm 20,8% dân số toàn
cầu, gấp hơn 15 lần dân số Việt Nam. Tỷ lệ dân số thành thị năm 2000 của
Trung Quốc là 31% cao hơn tỷ lệ 23,5% của Việt Nam. Tỷ lệ lao động nông
nghiệp năm 1998 của Trung Quốc là 47,5% thấp hơn tỷ lệ 70% của Việt Nam.
Sau 20 năm cải cách kinh tế, ngoại thương của Trung Quốc đã vươn lên
từ vị trí thứ 32 lên vị trí thứ 7 trên thế giới, kim ngạch xuất khẩu tăng 10 lần.
Năm 2001 vừa qua, tổng thu nhập quốc dân (GNP) của Trung Quốc đạt 1.190
tỷ USD. Theo số liệu của hải quan Trung Quốc, riêng năm 2000, kim ngạch
xuất khẩu ngoại thương của Trung Quốc đạt 474 tỷ USD với mức xuất siêu 24
tỷ USD. Trung Quốc cũng đứng đầu về xuất khẩu trong nhóm các nước đang
phát triển. Khoảng một nửa kim ngạch được thực hiện dưới hình thức “ thầu
lại” nghĩa là Trung Quốc mua nguyên vật liệu để chế biến rồi tái xuất. Trong
20 năm qua, GDP của Trung Quốc đã tăng 16 lần. Tổng sản phẩm trong nước
(GDP) của Trung Quốc năm 1999 đạt 8.205,4 tỷ NDT, tính theo tỷ giá hối
đoái bình quân (được duy trì trong 5 năm liền ) là 8,28 NDT/USD thì GDP
của Trung Quốc đạt xấp xỉ 1.000 USD, gấp hơn 35 lần của Việt Nam (28,54
tỷ USD).
Trung Quốc là quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất Châu
A', quốc gia có thị trường nội địa lớn nhất thế giới. Năm 2000, thu nhập hàng
năm trên một đầu người của Trung Quốc chỉ đạt 850 USD so với 9.000 USD
của Hàn Quốc và 35.000 USD của Nhật Bản. Trung Quốc có tương đối nhiều
lợi thế: lao động dồi dào, quy mô dân số lớn cho nên nhu cầu còn rất lớn; tài
nguyên phong phú, đa dạng, có chế độ chính trị ổn định; có hệ thống chính
sách theo hướng cởi mở.
Từ đầu những năm 90, Trung Quốc đã chiếm vị trí thứ hai trên thế giới
về thu hút đầu tư nước ngoài, chỉ sau Mỹ. Trung Quốc là nơi thu hút được
nhiều vốn đầu tư nước ngoài, bình quân thời kỳ 1995-2000 lên đến 41 tỷ
USD/năm, chiếm 70% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Châu Âu, Bắc
§Ò ¸n m«n häc
Mỹ vào Đông Á. Trung Quốc cũng là nước có tỷ lệ vốn đầu tư phát triển so
với GDP khá cao. Cộng kim ngạch xuất khẩu với đầu tư nước ngoài, Trung
Quốc trở thành nước đứng thứ hai thế giới về dự trữ ngoại tệ (sau Nhật Bản)
với hơn 165 tỷ USD.
Theo cơ quan thống kê, trong nửa đầu năm nay, nền kinh tế Trung
Quốc tăng 7,9% so với cùng kỳ năm ngoái. Ông Yiping Huang - một chuyên
gia kinh tế của Salomon Smith Barney (tập đoàn cung cấp các dịch vụ quản lý
tài sản, đầu tư ngân hàng và môi giới chứng khoán toàn cầu), tại Hồng Kông
cho biết: "Việc đầu tư trực tiếp tăng cùng với khả năng gia nhập Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO) trong tương lai gần cũng có thể giúp tăng trưởng
kinh tế tăng thêm 1%. Khi Trung Quốc gia nhập WTO sẽ giúp cho các nhà
xuất khẩu lớn của Trung Quốc thâm nhập thị trường nước ngoài. Nó cũng sẽ
cho phép nhiều công ty nước ngoài giành được lợi thế ”.
Với việc thành công trong cuộc đua giành quyền đăng cai Olympic
2008 sẽ giúp tỷ lệ tăng trưởng kinh tế Trung Quốc tăng thêm từ 0,3% đến
0,4%. Đây là một dấu hiệu đáng mừng về tăng trưởng của nền kinh tế Trung
Quốc. Để thúc đẩy tiêu dùng nội địa, Chính phủ Trung Quốc hiện đang tăng
chi tiêu xây dựng các công trình công cộng và tăng lương cho các viên chức
Nhà nước có kế hoạch phát hành 150 tỷ NDT trái phiếu nội địa trong năm nay
cho các quỹ việc làm công cộng, hy vọng tạo được nhiều việc làm và duy trì
chi tiêu xã hội
5/ Những thuận lợi và khó khăn đối với Trung Quốc khi là thành viên
của -WTO
a/ Những thuận lợi đối với Trung Quốc khi gia nhập WTO :
Tự do hoá thương mại và đầu tư, về lý thuyết, luôn là động lực phát
triển cho bất kỳ nền kinh tế nào tham gia vào quá trình đó. Nền kinh tế Trung
Quốc không phải là một ngoại lệ. Mặc dù cần có thời gian để có những tính
toán định lượng chính xác những lợi ích và thách thức do việc trở thành thành
§Ò ¸n m«n häc
viên WTO đem lại, song hiện thời, bằng quan sát thực chứng đã có thể thấy
những ảnh hưởng lớn trên cả cấp độ vĩ mô và vi mô.
+ Trung Quốc sẽ được tham gia quy tắc mậu dịch quốc tế và được
hưởng quy chế tối huệ quốc một cách rộng rãi. Sử dụng cơ chế giải quyết
tranh chấp của WTO có thể làm giảm sự hạn chế về tính kỳ thị đơn phương
của các nước phương tây góp phần cải thiện môi trường bên ngoài và xúc tiến
quan hệ mậu dịch. Có thể thâm nhập tham gia phân công quốc tế, điều này có
lợi cho quốc tế hoá sản phẩm.
+ Lợi ích tiếp theo mà Trung Quốc thu được từ việc gia nhập WTO là
nâng cao hiệu quả nền kinh tế trên cơ sở hình thành một môi trường cạnh
tranh bình đẳng. Một thị trường kinh doanh lành mạnh, không phân biệt các
chủ thể kinh tế tham gia vào đó là động lực khiến cho nền kinh tế nói chung
và các doanh nghiệp nói riêng nâng cao khả năng cạnh tranh và phát huy tối
đa những lợi thế so sánh mà Trung Quốc vốn có.
+ Ba là, xét trên góc độ ngắn hạn và trung hạn, tự do hoá thương mại
và đầu tư sẽ góp phần đẩy nhanh thêm tiến trình tăng trưởng của nền kinh tế
Trung Quốc. Tự do hoá thương mại, cũng có nghĩa là giảm thuế nhập khẩu và
các hạn chế nhập khẩu khác khiến giá cả trên thị trường nội địa sẽ rẻ hơn,
người tiêu dùng Trung Quốc sẽ có lợi và kích thích nhu cầu đầu tư và nhu cầu
trong nước. Hệ quả là, nhu cầu đầu tư và tiêu dùng sẽ kích thích sản xuất
trong nước phát triển.
+ Một thuận lợi khác của việc gia nhập này là nền kinh tế Trung Quốc
sẽ ít bị tổn thương, bị tấn công bởi những hành vi bảo vệ mậu dịch hoặc trừng
phạt kinh tế bởi các quốc gia khác trong trưòng hợp có tranh chấp kinh tế,
thương mại hay những lý do chính trị nào đó.
+Việc gia nhập và các cam kết thực hiện các nguyên tắc tự do hoá
thương mại, Trung Quốc đã khẳng định đường lối nhất quán trong công cuộc
cải cách mở cửa, tiến thêm một bước mới về chất trong việc hoàn thiện môi
trường đầu tư kinh doanh của mình.
§Ò ¸n m«n häc
b/ Khó khăn đối với Trung Quốc khi gia nhập WTO :
Tuy vậy, không thể phủ nhận được rằng gia nhập WTO, cũng như
những nền kinh tế đang phát triển khác Trung Quốc sẽ gặp phải những bất lợi
nhất định.
+ Khi gia nhập, toàn bộ thể chế kinh tế sẽ có sự chuyển đổi về căn bản.
Mặc dù 20 năm qua là bước chuẩn bị khá lớn, nhưng những chuẩn bị đó chủ
yếu tập trung vào những lĩnh vực có liên quan đến hoạt động kinh tế đối
ngoại, phục vụ cho chiến lược kinh tế hướng vào xuất khẩu. Trung Quốc sẽ
gặp rất nhiều khó khăn khi đối mặt với các đối thủ cạnh tranh hùng mạnh
khác. Chẳng hạn, nếu khuôn khổ pháp lý của Trung Quốc không phù hợp với
khuôn khổ pháp lý quốc tế, các doanh nghiệp của Trung Quốc sẽ không được
bảo vệ khi xảy ra tranh chấp thương mại.
+ Thách thức lớn tiếp theo là những vấn đề nảy sinh từ việc thúc đẩy
nhanh chóng tiến trình cải cách khu vực kinh tế quốc doanh, chủ yếu là trong
lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ. Cải cách sẽ khiến cho tốc độ tăng trưởng
trong công nghiệp chậm lại trong một thời gian, một phần đầu tư do nhà nước
vào khu vực này giảm, phần nữa là những xí nghiệp yếu kém sẽ phải thu hẹp
sản xuất, đóng cửa hoặc chuyển đổi sang những lĩnh vực kinh doanh mới.
+ Những thách thức trong nông nghiệp thậm chí có thể còn nghiêm
trọng hơn trong công nghiệp. Khi các rào cản thương mại bị loại bỏ hoặc giảm
thiểu, nông sản nhập khẩu từ Mỹ và Châu Âu với giá thấp hơn sẽ khiến nền
kinh tế nông thôn Trung Quốc bị một sức ép rất lớn, hàng triệu hộ nông dân
với tư cách là các đơn vị kinh doanh nông nghiệp có thể bị phá sản. Số người
này sẽ đi chuyển về các thành phố công nghiệp, càng gia tăng sức ép lên vấn
đề thất nghiệp. Chính phủ sẽ phải đối phó với các vấn đề xã hội gay gắt mà
hiện có chưa thể đánh giá một cách đầy đủ.
§Ò ¸n m«n häc
6/ Những ảnh hưởng đối với quan hệ kinh tế - thương mại Việt -
Trung khi Trung Quốc gia nhập WTO:
Đối với Việt Nam, việc Trung Quốc gia nhập WTO có ảnh hưởng nhất
định đến tình hình phát triển kinh tế của kinh tế Việt Nam, trong đó có vấn đề
xuất khẩu và thu hút vốn đầu tư nước ngoài, cũng như quan hệ song phương
giữa hai nước:
+ Một là, về quan hệ song phương giữa hai nước. Từ khi bình thường
hoá quan hệ năm 1991 đến nay, mối quan hệ Việt - Trung đã có bước phát
triển vượt bậc. Nhìn về cơ cấu hàng hoá xuất khẩu trong thời gian qua giữa
hai nước cho thấy: Việt Nam chủ yếu xuất khẩu nguyên vật liệu, nông, lâm,
hải sản chưa qua chế biến; còn chưa nhập khẩu chủ yếu là máy móc thiết bị,
hàng tiêu dùng và hàng hoá đã gia công chế biến. Cơ cấu hàng hoá nói trên có
tính bổ sung cho nhau tương đối rõ nét. Vì vậy, sau khi Trung Quốc gia nhập
WTO, tính bổ sung trên vẫn còn duy trì trong một thời gian. Tuy nhiên, do
Việt Nam chưa được hưởng những ưu đãi của nước thành viên nên nếu muốn
tăng tổng kim ngạch buôn bán hai chiều lên gấp đôi trong thời gian 2001 -
2005 thì các ngành hữu quan hai nước cần phải có chính sách, biện pháp hữu
hiệu hơn mới thực hiện được. Điều đáng chú ý ở đây là ngoài buôn bán chính
ngạch, giữa hai nước còn có buôn bán tiểu ngạch biên giới, tỷ lệ giữa hai hình
thức này cũng dao động trong khoảng 50% - 60%. Với đường biên giới đất
liền dài 1350 km và đường biên giới biển, đi lại dễ dàng, nếu không có sự
quản lý tốt thì hàng hoá phương Tây với ưu thế về chất lượng và giá cả một
khi đã thâm nhập thị trường Trung Quốc sẽ rất dễ dàng tràn qua biên giới vào
Việt Nam, gây nhiều khó khăn cho các nhà sản xuất Việt Nam.
+ Hai là, ảnh hưởng đến lĩnh vực xuất khẩu của Việt Nam. Theo các
chuyên gia, hiện tại cả Việt Nam và Trung Quốc cùng có một số mặt hàng
xuất khẩu chủ chốt được tiêu thụ tại các thị trường Mỹ, Nhật, EU, ASEAN
v.v như: hàng dệt may, giầy dép, gốm sứ và hàng điện tử Đây là những mặt
hàng Trung Quốc chiếm ưu thế cả về khối lượng lẫn thị phần, còn hàng Việt
§Ò ¸n m«n häc
Nam có điểm yếu là giá thành cao do giá đầu vào cao. Khi Trung Quốc gia
nhập WTO, nước này sẽ được hưởng ưu đãi thuế quan, hạn ngạch xuất khẩu,
nhất là tại các thị trường Mỹ, Nhật, EU, thì những mặt hàng cùng chủng loại
của Việt Nam sẽ rất khó cạnh tranh với hàng hoá Trung Quốc. Đó là chưa tính
đến việc khi đồng Nhân Dân Tệ (NDT) nếu được tự do chuyển đổi, tỷ giá hối
đoái của nó sẽ thường xuyên dao động, làm cho sức cạnh tranh của hàng hoá
Trung Quốc càng được nâng cao ở trên thị trường thế giới.
+ Ba là, ảnh hưởng trong lĩnh vực thu hút đầu tư nước ngoài. Hơn 20
năm qua, nhờ thực hiện chính sách cải cách mở cửa, Trung Quốc đã trở thành
quốc gia lớn nhất trong số các nước đang phát triển và thứ hai trên thế giới
trong việc thu hút đầu tư nước ngoài. Khi gia nhập WTO, môi trường đầu tư
của Trung Quốc cả về “môi trường cứng” (cơ sở hạ tầng) lẫn “môi trường
mềm” (cơ chế chính sách) sẽ được cải thiện hơn nữa, Trung Quốc sẽ trở thành
một “điểm nóng ” thu hút đầu tư nước ngoài của thế giới. Đây cũng là một cơ
hội tốt cho các nhà đầu tư của một số nước Đông Nam Á khi đến đầu tư tại
Trung Quốc. Khi các nhà đầu tư nước ngoài đến Trung Quốc nhiều hơn, thị
trường Trung Quốc cũng sẽ cần nhiều hơn các nguyên liệu cho sản xuất. Như
vậy, các nước Đông Nam Á có điều kiện xuất khẩu nhiều hơn các nguyên liệu
như xăng dầu, than đá, cao su cho thị trường khổng lồ này. Nhưng mặt khác,
cũng cần thấy rằng sức “hấp dẫn” của Trung Quốc cũng sẽ tao nên một sự
cạnh tranh đối với các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.
§Ò ¸n m«n häc
PHẦN II: THÁCH THỨC ĐỐI VỚI VIỆT NAM VỀ VẤN ĐỀ XUẤT
KHẨU KHI TRUNG QUỐC GIA NHẬP WTO
I/ Thực trạng về xuất khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc trong
những năm gần đây:
Là một quốc gia lớn mạnh có nhiều điểm tương đồng trong cơ cấu phát
triển kinh tế trong nhiều năm trở lại đây, Trung Quốc đã và đang là một đối
tác quan trọng nhưng đồng thời cũng là một đối thủ cạnh tranh khá mạnh của
các nước ASEAN, trong đó có Việt Nam. Việc quốc gia này chính thức trở
thành thành viên đầy đủ của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) trong thời
gian này sẽ là một thách thức không nhỏ đối với các ngành kinh tế của Việt
Nam, đặc biệt là đối với hoạt động xuất khẩu.
- Nhìn chung, vấn đề xuất khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc tăng
mạnh trong 10 năm qua. Hoạt động ngoại thương giữa hai nước được thực
hiện thông qua nhiều phương thức khác nhau như buôn bán chính ngạch, buôn
bán tiểu ngạch, tạm nhập tái xuất, trong đó buôn bán chính ngạch và tiểu
ngạch là hai phương thức chính.
+ Về xuất nhập khẩu chính ngạch: Kể từ năm 1991 đến nay, quan hệ
buôn bán giữa hai nước tăng khá đều từ 272 triệu USD năm 1991 lên 1400
triệu USD năm 2000. Kim ngạch này bằng khoảng 0,4% tổng kim ngạch
ngoại thương của Trung Quốc nhưng lại xấp xỉ 10% tổng kim ngạch ngoại
thương của Việt Nam. Năm 2000, tổng kim ngạch buôn bán hai chiều đạt
2,957 tỷ USD (thoả thuận giữa hai chính phủ là 2 tỷ USD), tăng 78 lần so với
năm 1991, trong đó xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc đạt 1,534 tỷ
USD.
Riêng 6 tháng đầu năm 2001, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang
Trung Quốc đạt 794,1 triệu USD với mức tăng trưởng là 30%. Cùng với việc
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét