Chủ Nhật, 9 tháng 3, 2014

Quá trình CNH- HĐH ở nước ta hiện nay

- Mới tiến hành tái sản xuất mở rộng nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân, mới tích luỹ về lợng mới để xây dựng thành công nền sản
xuất lớn xã hội chủ nghĩa.
- Mới tăng cờng phát triển lực lợng giai cấp công nhân.
- Mới củng cố quốc phòng giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã
hội.
- Mới góp phần xây dựng và phát triển nền văn hoá dân tộc, xây dựng con
ngời mới ở Việt Nam.
Nh vậy công nghiệp hoá là xu hớng mang tính quy luật cả các nớc đi từ
một nền sản xuất nhỏ sang nền sản xuất lớn.
2. Tính tất yếu phải tiến hành đồng thời công nghiệp hoá - hiện đại
hoá của nớc ta.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, nhiều nớc dù thắng hay bại đều trở
thành nớc kiệt quệ đã trở thanh một trong những nguyên nhân cho bớc khởi
động của cuộc khoa học công nghệ hiện đại. Có thể chia cuộc cách mạng khoa
học kỹ thuật hiện đại thành hai giai đoạn.
- Giai đoạn thứ nhất bắt đầu từ những năm 40 đến giữa những năm 70.
Giai đoạn này sử dụng khoa học kỹ thuật để hiện đại hoá các công cụ sản xuất,
phát triển kinh tế theo hớng mở rộng và tăng thêm các yếu tố sản xuất. Thực
chất đây là giai đoạn bắt đầu phát triển của lực lợng sản xuất cả về con ngời và
công cụ sản xuất.
Bình quân tăng trởng kinh tế hàng năm ở các nớc kinh tế phát triển là
5,6%. Tốc độ tăng trởng này đợc giữ nguyên trong vòng 20 năm kể từ năm
1950 đến 1970.
- Giai đoạn hai bắt đầu vào những năm 70 trở đi và cho đến nay vẫn đang
tiếp tục rất mạnh mẽ. Giai đoạn này là thực hiện cuộc cách mạng với qui mô lớn
và toàn diện trên lực lợng sản xuất trên cơ sở áp dụng các thành tựu khoa học -
kỹ thuật, đổi mới toàn bộ bộ máy sản xuất hiện hành trên cơ sở sử dụng những
5
phơng tiện kỹ thuật về công nghệ mới khác hẳn về nguyên tắc thay thế hàng
loạt các thiết bị lạc hậu bằng các thiết bị hiện đại làm cho năng suất và chất l-
ợng sản phẩm lên cao.
Đây là giai đoạn biến đổi hẳn về chất của lực lợng sản xuất ở các nớc t
bản chủ nghĩa thì đây cũng là thời kỳ mâu thuẫn giữa lực lợng sản xuất và quan
hệ sản xuất lên cao tạo điều kiện cho sự ra đời của phơng thức sản xuất mới.
Quá trình diễn ra không đồng đều ở các nớc do nhiều nguyên nhân dễ
dẫn đến sự chênh lệch về kinh tế.
Trên thế giới hình thành 3 nhóm nớc đó là các cờng quốc về kinh tế, các
nớc phát triển và đang phát triển. Sự phân chia này cũng hình thành nên các
mâu thuẫn cơ bản của xã hội, vấn đề cơ bản của các nớc đang phát triển là đờng
lối đấu tranh hoà bình giải quyết mâu thuẫn thông qua làm cuộc cách mạng về
kinh tế.
Việt Nam là một nớc có nền kinh tế nhỏ, lạc hậu về khoa học kỹ thuật,
lực lợng sản xuất còn non nớt cha phù hợp với quan hệ sản xuất của xã hội chủ
nghĩa. Để có cơ sở kỹ thuật của nền sản xuất lớn, không còn con đờng nào khác
là công nghiệp hoá, cơ khí hoá cân đối và hiện đại trên trình độ khoa học kỹ
thuật phát triển cao.
Muốn vậy công nghiệp hoá, hiện đại hoá là phát triển tuần tự và phát
triển nhẩy vọt, cùng một lúc thực hiện hai cuộc cách mạng đó là chuyển lao
động thô xơ sang lao động bằng máy móc và chuyển lao động máy móc sang
lao động tự động hoá có sự chỉ đạo của Nhà nớc theo định hớng XHCN.
II. Lý luận chung về CNH và khái quát lịch sử quá trình CNH ở
Việt Nam
1. Những vấn đề lý luận chung về công nghiệp hoá - hiện đại hoá
(CNH-HĐH)
Công nghiệp hoá - hiện đại hoá là một khái niệm mà đợc nhiều chuyên gia
kinh tế đề cập đến, nhiều nghiên cứu định nghĩa về vấn đề này. Lôgic và lịch sử
đều khẳng định rằng từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn hiện đại, CNH là bớc đi
6
tất yếu mà mỗi dân tộc sớm muộn đều phải trải qua. Trong thời đại ngày nay
công nghiệp hoá bao gồm cả hiện đại hóa làm xuất hiện cụm từ kép "công
nghiệp hoá, hiện đại hoá". Không nên chỉ hiểu CNH, HĐH theo nghĩa hẹp, theo
nghĩa nó là một quá trình hình thành cách thức sản xuất chỉ tiêu kỹ thuật và
công nghệ hiện đại riêng trong lĩnh vực tiểu công nghiệp mà nên hiểu theo
nghĩa rộng: quá trình đó diễn ra trong tất cả các ngành của nền kinh tế quốc
dân.
Kinh nghiệm CNH ở nhiều nớc trên thế giới cho thấy "cốt lõi" của CNH
trong thời đại ngày nay là sự đổi mới trang bị kỹ thuật (phần cứng: máy móc
thiết bị ) và công nghệ (phần mềm: phơng pháp, quy tắc, quy trình, phơng
thức, kinh nghiệm, kỹ năng ), chuyển từ kỹ thuật và công nghệ lạc hậu năng
suất thấp lên trình độ kỹ thuật và công nghệ tiên tiến có năng suất và hiệu quả
kinh tế xã hội cao trong tất cả các lĩnh vực, các ngành của nền kinh tế quốc dân.
Theo t duy và quan điểm mới hiện nay có thể hiểu nội dung chủ yếu của
CNH ở các nớc cũng nh nớc ta là: trang bị kỹ thuật công nghệ hiện đại và theo
đó xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý trong tất cả các ngành của nền KTQD.
Tóm lại có thể hiểu là: "Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi
căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh
tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ
biến sức lao động cùng với công nghệ, phơng tiện và phơng pháp tiên tiến, hiện
đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ tạo ra
năng suất lao động xã hội cao.
Theo định nghĩa của Liên hiệp quốc (1993) công nghiệp hoá là một quá
trình phát triển nền kinh tế. Trong quá trình này nguồn của cải quốc dân đợc
động viên để phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành trong nớc với kỹ thuật hiện
đại. Đặc điểm của cơ cấu kinh tế này là có một bộ phận luôn luôn thay đổi để
sản xuất ra những t liệu sản xuất và hàng hoá tiêu dùng có khả năng đảm bảo
cho toàn bộ nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao, đảm bảo đạt tới sự tiến bộ
kinh tế xã hội. Hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt
động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội từ chỗ theo những
quy trình công nghệ thủ công là chính sang chỗ sử dụng một cách phổ biến
những quy trình công nghệ, phơng tiện, phơng pháp tiên tiến hiện đại dựa trên
sự phát triển khoa học kỹ thuật tạo ra năng suất lao động hiệu quả và trình độ
văn minh kinh tế xã hội cao.
7
Trong văn kiện hội nghị lần thứ VII Ban chấp hành trung ơng khoá VII có
viết "Quá trình CNH-HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt
động kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ công sang sử dụng một cách phổ
biến sức lao động cùng công nghệ và phơng tiện hiện đại tạo ra năng suất lao
động cao. Đối với nớc ta đó là một quá trình thực hiện chiến lợc phát triển kinh
tế xã hội nhằm cải tiến một xã hội nông nghiệp lạc hậu thành một xã hội công
nghiệp gắn với việc hình thành từng bớc quan hệ sản xuất tiến bộ. Ngày càng
thể hiện đầy đủ hơn bản chất u việt của chế độ mới. Nh vậy CNH-HĐH không
chỉ là một quá trình tất yếu khách quan đối với nớc ta mà chúng ta có sẵn những
cơ sở lý luận vững chắc để áp dụng vào thực tế nền kinh tế nớc ta.
2. Khái quát lịch sử quá trình CNH-HĐH ở Việt Nam trong thời gian qua
Có thể xem xét thực trạng CNH ở nớc ta qua 2 khía cạnh trang bị kỹ thuật,
công nghệ và việc xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý. Trên thực tế công cuộc CNH
đợc tiến hành ở nớc ta từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (1960).
Chủ trơng CNH đợc tiến hành qua các kế hoạch dài hạn 5 năm song do
nhiều điều kiện khách quan gây khó khăn nh nền kinh tế vốn nghèo nàn lạc hậu
chính sách cấm vận gây thù địch của Mỹ, trình độ dân trí, nguồn lao động cha
cao v.v Thực trạng của quá trình CNH còn nhiều khó khăn.
Trình độ trang bị kỹ thuật, trình độ kết cấu hạ tầng và việc ứng dụng
những thành tựu mới của khoa học và công nghệ vào sản xuất và dịch vụ còn
thấp kém, lạc hậu.
Qua mấy thập niên CNH, chúng ta đã xây dựng đợc một số cơ sở vật chất -
kỹ thuật nhất định. Cho đến nay một số công trình lớn và trọng điểm sau nhiều
năm xây dựng và bắt đầu đa vào hoạt động trong cả công nghiệp lẫn nông
nghiệp, giao thông vận tải, bu điện v.v Tất nhiên so với trình độ của thế giới
vẫn ở trong tình trạng còn thấp kém và lạc hậu: Thành phần kinh tế nhà nớc đợc
trang bị nhiều nhất, cao nhất có tổng số 27,8 nghìn tỷ đồng tài sản cố định chỉ
26% giá trị thiết bị máy móc, phần lớn thiết bị thuộc hệ kỹ thuật những năm
1950-1960 chịu ảnh hởng lớn của hao mòn vô hình. Việc tiếp cận thành tựu
khoa học mới của nớc ta còn chậm trình độ tự động hoá các công cụ sản xuất
còn thấp: Trung ơng đạt tỷ lệ 3%, địa phơng 1,7% về mức độ tự động hoá công
cụ. Kết cấu hạ tầng sản xuất và xã hội còn rất thấp kém cả về trình độ kỹ thuật,
công nghệ lẫn mạng lới nhỏ hẹp. Sản phẩm làm ra không có sức cạnh tranh, giá
8
thành cao, mặt hàng không nhiều, cha có khả năng vơn ra thị trờng quốc tế rộng
lớn.
- Gây khó khăn cho quá trình đầu t của nớc ngoài vào nớc ta, cản trở nền
kinh tế nớc ta hội nhập kinh tế thế giới. Ngăn trở việc xây dựng thị trờng và sự
hình thành chiến lợc thị trờng hớng ngoại.
- Khó tránh khỏi vòng luẩn quẩn kỹ thuật công nghệ và kết cấu hạ tầng
thấp kém, lạc hậu dẫn đến năng suất lao động thấp và thu nhập quốc dân tính
theo đầu ngời thấp, từ đó khả năng tích luỹ hầu nh không có và kết quả là không
có vốn đầu t.
Bên cạnh đó là sự cha phù hợp của cơ cấu kinh tế đợc hình thành trong
thời gian qua mà việc điều chỉnh lại là không dễ dàng: Với xuất phát điểm từ 1
quốc gia nông nghiệp lạc hậu. Sau nhiều kế hoạch phát triển kinh tế lần lợt các
mô hình cơ cấu kinh tế hình thành, sự tập trung vốn thông qua nhiều hoạt động
tích luỹ trong nớc, vay vốn quốc tế, đã đa nền kinh tế có tỷ trọng công nghiệp
tăng khá. Qua các thời kỳ kế hoạch 5 năm nền kinh tế có sự tăng trởng nhất
định song cha có sự phát triển kinh tế - xã hội đáng kể, cha có sự phát triển theo
chiều sâu năng suất, chất lợng và hiệu quả. Nền kinh tế nghiêng về xây dựng
nền công nghiệp nặng, muốn hiện đại hoá nhanh nhng do nền kinh tế của ta còn
nhỏ bé, phân tán và lạc hậu, nguồn vốn tích luỹ không lớn trình độ khoa học
công nghệ cha cao không đủ điều kiện cần thiết để xây dựng một nền đại công
nghiệp. Điều này dẫn đến thực tế kinh tế nớc ta mất cân đối, sản xuất phát triển
chậm, thu nhập quốc dân và năng suất thấp, đời sống nhân dân vẫn cha đợc cải
thiện trong một thời gian.
Sớm nhận thức đợc những biểu hiện cha phù hợp của các chính sách kinh
tế Đảng và Nhà nớc đã đa ra những chủ trơng mới nhằm khắc phục khiếm
khuyết, tiếp tục thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH của đất nớc. Đại hội toàn quốc
lần thứ VI của Đảng đánh dấu một mốc quan trọng trong lịch sử quá trình CNH
ở nớc ta. Đại hội cũng là đại hội của thời kỳ đổi mới của đất nớc. Đại hội nhận
định đặc điểm của thời kỳ quá độ lên CNXH ở nớc ta là một thời kỳ lâu dài và
gian khổ trải qua nhiều chặng đờng và chúng ta hiện đang ở chặng đờng đầu
tiên với nhiệm vụ đề ra là: "ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội tiếp tục
xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh CNH trong chặng đờng
tiếp theo". Trong 5 năm trớc mắt (1986-1990) cần tập trung sức ngời sức của
9
thực hiện bằng đợc những mục tiêu của 3 chơng trình kinh tế: lơng thực - thực
phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Nội dung của chơng trình kinh tế là sự
cụ thể hoá nội dung chính của CNH-HĐH trong chặng đờng đầu tiên. Bớc đầu
ta đã đạt đợc thành tựu mới: xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
vận động theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc. Phát triển quan điểm
kinh tế của đại hội VI, Hội nghị ban chấp hành Trung ơng đã khẳng định phát
triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần là một chủ trơng chiến lợc lâu dài trong
thời kỳ quá độ lên CNXH. Trong chính sách này chúng ta đã chuyển từ công tác
kế hoạch pháp lệnh sang kế hoạch hoá định hớng là chủ yếu. Trong thời gian
này đờng lối mới của Đảng đề ra từ Đại hội VI đã thu đợc những thành quả bớc
đầu rất quan trọng. Trớc tiên trong kinh tế - xã hội đời sống nhân dân đợc cải
thiện dần dần, ổn định sản lợng lơng thực tăng nhanh đáp ứng nhu cầu trong n-
ớc hàng hoá đa dạng thị trờng mở rộng, các cơ sở sản xuất gắn liền với nhu cầu
thị trờng. Phần bao cấp của nhà nớc về vốn, giá, tiền lơng giảm đáng kể, lạm
phát đợc kiểm chế một bớc. Các cơ sở kinh tế có điều kiện hạch toán kinh
doanh, mọi mặt của đời sống đợc nâng lên.
Trên cơ sở phát huy những thành quả đạt đợc đại hội lần thứ VII (1991)
của Đảng đã kế thừa, phát huy và đề ra chủ trơng mới khắc phục những khó
khăn hạn chế thúc đẩy, phát huy những u điểm đã đạt đợc, bổ sung phát triển đ-
ờng lối đổi mới đề ra trong đại hội 6. Phơng hớng mục tiêu của đại hội 7 "đẩy
lùi và kiểm soát đợc lạm phát" ổn định phát triển nâng cao hiệu quả sản xuất,
từng bớc cải thiện đời sống nhân dân bớc đầu tích luỹ nội bộ nền kinh tế. Đại
hội đại biểu lần thứ VIII của Đảng cũng đã đề ra những mục tiêu và giải pháp
cơ bản cho quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc trong đó đặc biệt
nhấn mạnh quan điểm "lấy việc phát huy nguồn nhân lực con ngời là yếu tố cơ
bản cho sự phát triển nhanh và bền vững. Trong những năm qua Đảng và Nhà n-
ớc đã làm đợc nhiều việc để thực hiện chiến lợc con ngời trên tất cả các lĩnh vực
của đời sống xã hội. Một số văn bản pháp luật quan trọng có liên quan đến con
ngời và các chính sách xã hội đã đợc ban hành và đang đi vào cuộc sống.
Số lợng và chất lợng nguồn nhân lực đất nớc có bớc phát triển đáng kể.
Tuy nhiên phát triển nguồn nhân lực lúc này đợc xem là một chiến lợc cơ bản
để đa nớc ta đạt tới mục tiêu một nớc công nghiệp. Với sự nỗ lực của toàn
Đảng, toàn dân ta đến nay nền kinh tế nớc ta đã chấm dứt đợc thời kỳ khủng
hoảng và bớc vào thời kỳ mới phát triển toàn diện.
10
III. Quá trình CNH- HĐH ở nớc ta hiện nay
1. Những quan điểm chỉ đạo của Đảng trong quá trình CNH-HĐH
Nghị quyết hội nghị lần thứ VII ban chấp hành Trung ơng Đảng đã cụ thể
hoá thành phần quan điểm chỉ đạo quá trình CNH-HĐH đất nớc nh sau: CNH-
HĐH phải theo định hớng XHCN, định hớng XHCN của quá trình này đợc xác
định bởi 4 nhân tố sau:
- Mục tiêu trớc mắt cũng nh lâu dài CNH-HĐH là lợi ích vật chất và tinh
thần của nhân dân gắn tăng trởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội.
Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật ngày càng hiện đại cho một xã hội trong
đó nhân dân làm chủ.
Phát triển một nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó kinh tế quốc doanh
là chủ đạo cùng với kinh tế hợp tác dần trở thành nền tảng.
CNH-HĐH đợc tiến hành dới sự lãnh đạo của Đảng, của giai cấp công
nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc điều hành và quản lý quá trình đó là
nhà nớc của dân, do dân và vì dân.
Quan điểm thứ 2: Giữ vững độc lập tự chủ đi đối với mở rộng hợp tác quốc
tế đa phơng hoá, đa dạng hoá quan hệ với nớc ngoài kết hợp kinh tế với quốc
phòng an ninh, xây dựng nền kinh tế hớng mạnh sản xuất đồng thời thay thế
nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nớc có hiệu quả.
Quan điểm thứ 3: CNH-HĐH là sự nghiệp của toàn dân của mọi thành
phần kinh tế, nhà nớc là chủ toạ đợc vận hành theo thị trờng có sự quản lý của
nhà nớc, mặt khác đây là một vấn đề mới so với quan niệm CNH trớc đây - cho
rằng CNH chỉ là sự nghiệp của nhà nớc, của các tổ chức quốc doanh. Ngày nay
chúng ta cho rằng đó là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế.
Nếu toàn xã hội không nhất trí quan tâm, không đề cao tinh thần tự chủ, tự cờng
ra sức làm việc có hiệu quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tham ô, nếu
mọi thành phần không coi đó là sự nghiệp của chính mình thì CNH-HĐH
không thể thành công đợc.
Quan điểm thứ 4: Công nghiệp CNH- HĐH phải lồng việc phát huy nguồn
lực con ngời làm yếu tố căn bản cho sự phát triển nhanh và bền vững, muốn vậy
11
trong mọi chủ trơng, chính sách phải nhằm giải phóng mọi tiềm năng của con
ngời, phải thờng xuyên quan tâm bồi dỡng trí lực, thể lực, có chính sách sử
dụng nhân tài, tăng trởng kinh tế phải gắn với cải thiện đời sống nhân dân, phát
triển văn hoá giáo dục, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội bảo vệ môi trờng.
* Mục tiêu xây dựng nớc ta thành một nớc công nghiệp cơ sở vật chất kỹ
thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với lực l-
ợng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững
chắc, dân giàu nớc mạnh, xã hội công bằng văn minh. Mục tiêu này cho thấy sự
nghiệp đó là một cuộc cách mạng toàn diện sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực của
đời sống xã hội. Đó trớc hết là vì con ngời, do con ngời.
Trong bối cảnh hiện nay công nghiệp hoá- hiện đại hoá đợc coi là xu hớng
phát triển chung của cả nớc đang phát triển. Đối với nớc ta cha thoát khỏi tình
trạng nghèo nàn lạc hậu thì công nghiệp hoá - hiện đại hoá là "nhiệm vụ trung
tâm xuyên suốt từ thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội" là con đờng tất yếu để
đa ta thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu thì trớc tiên phải chăm lo phát triển kinh tế,
song sẽ là sai lầm nếu không quan tâm giải quyết tốt những vấn đề xã hội,
không tạo ra cân đối hài hoà giữa kinh tế và xã hội.
Cho đến nay Việt Nam sau 10 năm đổi mới đã đạt đợc những thành tựu to
lớn, có ý nghĩa quan trọng, tại Đại hội Đảng VIII Đảng ta đã khẳng định "nớc ta
đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội nhng một số mặt còn cha vững chắc.
Nhiệm vụ đề ra cho chặng đờng đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền cho
công nghiệp hoá đã cơ bản hoàn thành cho phép nớc ta chuyển sang thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc.
2. Nội dung chính của CNH-HĐH ở nớc ta
CNH về logic cũng nh về lịch sử là quá trình tất yếu mà mỗi dân tộc đều
phải trải qua. CNH là một quá trình bao gồm cả thời kỳ chuẩn bị những tiền đề
kinh tế vật chất mà thiếu nó thì không thể nào bớc vào thời kỳ đẩy mạnh và
hoàn thành về cơ bản sự nghiệp CNH.
a) Lơng thực và thực phẩm - tiền đề cho CNH lôgic và lịch sử đều khẳng
định nông nghiệp là cơ sở quan trọng nhất cho công nghiệp hóa, do vậy việc
xác định công nghiệp hóa trong mỗi thời kỳ không thể không tính đến vai trò cơ
sở cuả nông nghiệp, mà trớc hết là vấn đề lơng thực và thực phẩm. Đảng ta vẫn
luôn khẳng định nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, là khâu đột phá. Nhờ vậy
12
cho đến nay nông nghiệp và nông thôn nớc ta đã đạt đợc những thành tựu đáng
kể. Thắng lợi nổi bật nhất là đã giải quyết về cơ bản nhu cầu lơng thực và thực
phẩm cho xã hội và hàng năm đã có thừa gạo để xuất khẩu với khối lợng không
nhỏ. Đã có nhiều tiến bộ trong việc cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp hoá
ở nớc ta.
b) Một số cơ sở vật chất kỹ thuật bớc đầu phát huy tác dụng. Sau nhiều
năm tập trung xây dựng đất nớc, chúng ta đã có một cơ sở vật chất kỹ thuật nhất
định, một số công trình lớn và quan trọng đã đợc đa vào sử dụng nh nhà máy
thuỷ điện Sông Đà, nhà máy thuỷ điện Trị An, nhà máy xi măng Hoàng Thạch,
nhà máy xi măng Bỉm Sơn, nhà máy giấy Bãi Bằng
Trong nông nghiệp cả nớc đã có 654 hồ đập vừa và lớn, hàng vạn hồ chứa
nớc, hàng ngàn cống tới tiêu, hơn 2000 trạm bơm Tất cả những cơ sở vật chất
đó, nếu đợc điều chỉnh và sử dụng có hiệu quả, rõ ràng sẽ là tiền đề đáng kể cho
sự phát triển nông nghiệp và công nghiệp.
c) Sự đổi mới t duy kinh tế của đảng đã thúc đẩy nền kinh tế phát triển khi
chuyển sang cơ chế kinh tế mới cũng là lúc chúng ta không còn đợc Liên Xô
viện trợ, điều này lúc đầu quả thật có gây cho ta nhiều khó khăn song nhờ có sự
đổi mới t duy nhất là đổi mới t duy kinh tế của Đảng, nền kinh tế nớc ta dần dần
đi vào ổn định và ngày càng khởi sắc. Sự giúp đỡ quốc tế đối với nớc ta ngày
càng mở rộng. Nh vậy tiền đề bên ngoài cần cho việc đẩy mạnh CNH phải
chăng cũng đã có? Tất nhiên mọi việc đang còn ở phía trớc, khó khăn còn
nhiều, tất cả phụ thuộc vào sự ổn định và đổi mới hệ thống chính trị, đổi mới
các điều kiện bên trong, để đủ sức sử dụng có hiệu quả điều kiện quốc tế đồng
thời giữ đợc định hớng đã chọn.
d) Thực tiễn nớc ta có những vấn đề nổi cộm mà muốn giải quyết không
thể không đẩy mạnh công nghiệp hoá
Mặc dù có bớc phát triển nhất định nông nghiệp và nông thôn nớc ta cho
đến nay vẫn cha thoát khỏi tình trạng sản xuất nhỏ, cơ sở vật chất - kỹ thuật còn
nhiều mặt yếu kém, công nghệ còn lạc hậu, năng suất lao động và năng suất cây
trồng vật nuôi còn thấp. Nông nghiệp cha thoát khỏi độc canh lúa. Còn giống và
cây giống cha đổi mới kịp nhu cầu của thị trờng. Sản phẩm làm ra khó bán trở
thành nỗi lo của nông dân. Đời sống nhân dân và bộ mặt nông thôn tuy có thay
đổi nhng cha nhiều, năng suất lao động, vật nuôi, cây trồng và ngành nghề tăng
13
chậm, thu nhập và sức mua của nông thôn còn hạn hẹp, nông nghiệp cha trở
thành thị trờng rộng lớn cho sự phát triển công nghiệp trong bối cảnh đó không
thể dừng lại ở sự đổi mới cơ chế kinh tế, mà phải thông qua CNH để biến đổi cơ
cấu kinh tế nông nghiệp nớc ta.
Hệ thống kết cấu hạ tầng, dịch vụ sản xuất kinh doanh và dịch vụ xã hội,
mấy năm gần đây tuy có tiến bộ nhất định song về trình độ còn rất thấp kém so
với các nớc trong khu vực, thực trạng này đã và đang cản trở việc hình thành và
phát triển kinh tế thị trờng trong nớc, cản trở việc mở rộng đầu t kinh doanh của
nớc ngoài. Có thể nói, đã đến lúc không thể giữ mãi tình trạng này, cần thông
qua CNH để giải toả nó, cónh vậy chúng ta mới có thể phát triển mạnh mẽ kinh
tế thị trờng. Thúc đẩy nhanh chóng sự nghiệp CNH bảo đảm hoàn thành về cơ
bản sự cơ bản đó trong vài thập kỷ tới ở nớc ta.
Trong lĩnh vực công nghiệp, trình độ công nghệ còn lạc hậu, công nghệ
truyền thống chậm đợc đổi mới, công nghệ mới hầu nh cha có hoặc chỉ mới bắt
đầu trong điều kiện đó, sản phẩm sản xuất ra khó đứng vững ngay trên thơng tr-
ờng quốc tế. Nền kinh tế vì vậy cũng khó hội nhập với nền kinh tế các nớc trong
khu vực và trên thế giới, lối ra chỉ có thể là ở chỗ đổi mới công nghệ thông qua
chuyển dịch cơ cấu công nghệ, cơ cấu ngành theo hớng CNH-HĐH.
Nớc ta khá thuận lợi so với một số nớc về tài nguyên thiên nhiên, khí hậu
và vị trí địa lý nhng cho đến nay tiềm năng đó mới đợc khai thác ở mức thấp để
tiềm năng này đợc khai thác thoả đáng không thể không đẩy mạnh CNH.
Cuối cùng để thực hiện mục tiêu "dân giàu nớc mạnh xã hội công bằng
văn minh" theo định hớng đã chọn đa nớc ta nhanh chóng vợt qua "nghèo nàn
kém phát triển" trở thành một nớc phát triển, cũng không thể không đẩy mạnh
và hoàn thành về cơ bản sự nghiệp CNH.
Tất cả những dấu hiệu vừa nêu cho ta thấy đã đến lúc chúngta phải chuyển
trọng tâm sang đẩy mạnh công nghiệp hoá. Có nh vậy mới tiếp tục giữ vững và
phát huy đợc những thành tựu làm cho mục tiêu và các quan điểm đổi mới của
đảng ta về kinh tế, chính trị và xã hội nhanh chóng trở thành hiện thực ở nớc ta.
e) Đẩy mạnh công nghiệp hoá theo mô hình công nghệ và cơ cấu kinh tế
đã xác định cần quán triệt các quan điểm kết hợp hài hoà mục tiêu "dần giàu n-
ớc mạnh xã hội công bằng văn minh" với hiệu quả kinh tế - xã hội, đẩy mạnh
công nghiệp hoá gắn với quá trình hình thành và phát triển kinh tế thị trờng.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét