Đồ án Thạc sĩ Khoá: 2006 - 2008
Giá trị dinh dưỡng của thịt phụ thuộc vào tỉ lệ mô cơ/mô mỡ/mô liên
kết. Tỉ lệ này phụ thuộc vào loại gia súc, độ tuổi, chế độ nuôi. Ví dụ như
lợn có chiều dày mỡ lưng ≥ 5 cm thì thịt béo, 4 – 5cm thì thịt trung bình, 2-
3 cm thì thịt ít béo.
I.1.2.1. Cấu trúc của nguyên liệu thịt lợn
[
2
]
.
Cấu trúc của thịt.
Cơ thể động vật được hình thành từ 5 phần:
- Mô cơ.
- Mô xương.
- Mô mỡ.
- Mô liên kết.
- Mô máu.
Cấu trúc, đặc điểm và thành phần của các mô này ảnh hưởng trực
tiếp đến chất lượng, cách sử dụng cũng như giá trị thực phẩm của sản
phẩm thịt. Hơn nữa các loại mô này có biểu hiện khác nhau tuỳ thuộc vào
loài, giới tính, độ tuổi và điện kiện dinh dưỡng của chúng.
Bảng 2: Tỷ lệ các loại mô của động vật tính theo % trên khối lượng tổng
[
2
]
Tên các loại mô Bò Lợn
Mô cơ 57 - 62 39 – 58
Mô mỡ 3 – 16 15 – 45
Mô liên kết 9 – 12 6 – 8
Mô xương 17 – 29 10 – 18
Máu 0,8 -1 0,6 – 0,8
Mô cơ.
Mô cơ là mô có giá trị thực phẩm cao nhất. Khi động vật còn sống
nó thực hiện các chức năng vận động, tuần hoàn, tiêu hoá và chức năng
sinh lí khác. Theo các nghiên cứu về mô, mô cơ được chia làm 3 loại:
- Cơ vân ngang( Cơ xương)
- Cơ tim
- Cơ trơn( Cơ tạo nên các cơ quan bên trong)
Sợi cơ là đơn vị cơ bản của cơ, nó là sợi myofibril được bao bọc
bên ngoài bằng lớp sarcolemma, giữa mỗi sợi myofibril là dung dịch keo
Phí Thị Thanh Mai Ngành: CNTP
5
Đồ án Thạc sĩ Khoá: 2006 - 2008
sarcoplasm, trong thành phần của myofibril có chứa myoglobin màu đỏ
cho cơ.
Mô liên kết.
Mô liên kết được hình thành từ tế bào, thớ sợi và lỗ khí. Mô liên kết
trung bìnhchiếm 10% khối lượng trong cơ thể con vật. Nó là mô bảo vê cơ
thể để tạo ra sự linh hoạt và đàn hồi đủ cho cơ, bao gồm: mô liên kết lỏng
và mô liên kết chặt. Thớ sợi là các polymer của các protein gồm 3 loại:
collagen, sợi elastin và sợi reticulose.
Mô liên kết không phải là proten hoàn chỉnh, rất khó tiêu hoá và hấp
thụ. Vì vậy nó thường được dùng để chế biến thực phẩm dạng đông.
Mô mỡ.
Mô mỡ có sự tác động to lớn trong việc cải thiện chất lượng và
hương vị cho thịt. Lượng lớn mỡ có thể được tìm thấy bằng cách cắt các
mô liên kết lỏng. Giữa các lớp mỡ này có chứa dồi dào các mạch máu để
tiến hành quá trình trao đổi chất dinh dưỡng cho mỡ. Mô mỡ chứa 8%
nước, và 90% chất béo.
Mô xương.
Mô xương bao gồm màng xương, xương và tuỷ.
Tuỷ có 2 loại: Tuỷ đỏ và tuỷ vàng. Tuỷ đỏ chứa các mạch máu và
các tế bào có chức năng tạo máu. Con vật còn nhỏ, khoẻ mạnh có lượng
tuỷ đỏ cao. Tuỷ vàng chủ yếu là mỡ, tìm thấy ở nhiều con vật đã trưởng
thành.
Thành phần hoá học của xương:
- Nước: 40 – 50%
- Collagen: 20 – 30%
- Hợp chất vô cơ: 20%
Hiện nay xương được sử dụng làm phụ gia cho thức ăn gia súc, gia
cầm, sản xuất dầu, keo dưới dạng bột xương. Ngoài ra, bột xương còn
làm hương liệu rất tốt cho sản phẩm thịt, nó còn được thêm vào thực
phẩm để làm tăng cường hàm lượng calcium và photpho.
I.1.2.2. Thành phần hoá học của thịt lợn
[
2
]
.
Phí Thị Thanh Mai Ngành: CNTP
6
Đồ án Thạc sĩ Khoá: 2006 - 2008
Thành phần hoá học của thịt có chứa nước, protein, chất béo, chất
khoáng và đầy đủ các axitamin không thay thế. Đây là nguồn axit amin rất
cần thiết cho cơ thể con người vì cơ thể con người không thể tự tổng hợp
được. Thịt cơ tới 72% là nước trong đó có khoảng 2/3 là nước tồn tại ở
dạng tự do. Phần nước tự do này rất dễ tách ra khỏi thịt khi sấy, hấp, làm
lạnh đông chậm. Hàm lượng protein trong thịt chiếm khoảng 16%. Hàm
lượng chất béo khoảng 15 – 30% tuỳ thuộc vào từng loại thịt. Protein của
thịt có độ đồng hoá cao( 96 – 97%). Protein của thịt có chứa collagen có
giá trị dinh dưỡng thấp nhưng lại có giá trị cao trong công nghệ chế biến.
Collagen khi đun nóng sẽ chuyển thành gelatin tạo cho sản phẩm có dạng
keo nhớt, góp phần tạo nhũ tương cho sản phẩm.
Một vài thông số của thịt lợn.
- Hệ số dẫn nhiệt ở t°>t°
db
là λ=0,45 ÷0,49w/m.K
ở t°<t°
db
là λ=1,17 ÷1,44w/m.K
- Khối lượng riêng: 936 kg/m
3
.
- Nhiệt độ đóng băng: -1,2 ÷ -2
o
C
- Tỉ nhiệt: ở t°>t°
db
: 2,13 kJ/kg.K
ở t°<t°
db
: 1,34kJ/kg.K
- Ẩn nhiệt đóng băng: 129 – 154kJ/ kg.K
Việc lựa chọn và chuẩn bị thịt để sản xuất là một chức năng rất
quan trọng nó giúp cho việc duy trì chất lượng sản phẩm ở mức độ nhất
định, đảm bảo cho các yêu cầu của thịt ở công đoạn phối trộn sau này.
I.2. Nguyên liệu thịt gà.
I.2.1. Các giống gà
[
1
]
.
Ở nước ta chăn nuôi nhiều giống gà như: Gà ri, gà ác, gà tam
hoàng và một số giống gà nhập khẩu từ nước ngoài và được chăn nuôi
theo qui mô công nghiệp nên được coi là gà công nghiệp.
Gà công nghiệp là những giống gà đã được lựa chọn, cải tiến, cho
năng suất cao về trọng lượng và trứng. Người ta không nuôi bằng cách
chăn thả đất mà nuôi bằng cách tập trung theo phương pháp công nghiệp,
Phí Thị Thanh Mai Ngành: CNTP
7
Đồ án Thạc sĩ Khoá: 2006 - 2008
nhốt chuồng có ánh sáng và nhiệt độ phù hợp. Gà công nghiệp được chia
ra làm các nhóm [1]:
Nhóm chuyên dụng trứng: Bao gồm những nhóm cho năng suất
trứng rất cao, khoảng 230 -300 quả trong một năm và trứng to. Những
giống này thường nhẹ cân, tăng trọng chậm.
Nhóm chuyên dụng thịt: Là những giống nuôi mau lớn, tăng trọng
nhanh và nặng cân. Nuôi trong vòng 6 – 7 tuần, gà có thể nặng đến 2 kg.
Tuy nhiên gà mái thịt lại có năng suất trứng thấp, khoảng 140 -180 trứng
trong một năm.
Trong phần này ta sử dụng giống gà chuyên dụng thịt, loại này ở nước
ta hiện nay tất cả đều là giống gà ngoại nhập, gà lai thương phẩm, thích
nghi tốt với môi trường khí hậu nước ta. Đặc điểm của nhóm chuyên dụng
thịt là gà có đầu to, mào đơn hoặc kép, mình to hình chữ nhật hay vuông,
hơi tròn, xương to, chân to,bắp thịt đều và lườn phát triển.
Một số giống gà chuyên dùng thịt:
- Giống Cornish:
Giống gà chuyên dụng thịt, mào nụ, lông trắng, mình to, gà trống nặng
4 -5 kg, gà mái nặng 3,5 – 3,8 kg, ngực rộng và sâu, đùi to, thịt thơm ngon.
Gà lớn nhanh 7 tuần tuổi nặng 2,2 – 2,4 kg, sản lượng trứng trung bình
140 -160 quả/ mái/năm, trứng to 60 -65g, vỏ trứng nâu.
Giống Cornish thường sử dụng làm dòng trống trong công tác giống gà
để lai tạo giống và taọ các tổ hợp lai Broiler nuôi thịt.
- Giống Hybro HV-85:
Giống gà chuyên dụng thịt Hà Lan, lông trắng, mào cờ (đơn) ít phát
triển, mình to, gà trống 4,5 – 5 kg, gà mái 3,5- 4 kg, ngực và đùi tương đối
phát triển. Sản lượng trứng trung bình 170 quả/mái/năm, vỏ trứng nâu
nhạt. Gà thịt Broler bảy tuần tuổi đạt 1,8 -2,2 kg, tiêu tốn thức ăn 2 – 2,2
kg tăng trọng, thịt thơm ngon.
Giống Hybro nhập bốn dòng thuần chủng H,V
1
,V
2
,V
3
vào Việt Nam từ
năm 1985, đã có thời gian khá dài phát triển mạnh ở các vùng trong cả
nước.
Phí Thị Thanh Mai Ngành: CNTP
8
Đồ án Thạc sĩ Khoá: 2006 - 2008
- Giống Plymouth Rock:
Giống gà có dòng màu lông khác nhau, phổ biến là lông trắng và
vằn(trắng đen xanh), mào đơn, ít phát triển, mình to vừa phải, trống 4 –
4,5 kg, mái 2,8 -3,5 kg.
Ban đầu giống gà này được chọn theo hướng thịt trứng, sản lượng
trứng 160 -180 quả/mái/năm, trứng to 60 gam, vỏ nâu. Sau đó chọn giống
theo hướng thịt lấy dòng gà vằn lớn nhanh làm trống cho lai với các dòng
lông trắng cho gà Broiler tăng trọng nhanh, tám tuần tuổi 1,8 kg, thịt thơm
ngon.
Giống gà này nhập 3 dòng thuần chủng TĐ9, TĐ8, TĐ3 từ cuba vào
Việt Nam năm 1974, thích nghi tốt và đã có thời gian dài là giống gà thịt
công nghiệp chủ yếu được nuôi phổ biến rộn rãi ở nước ta.
- Giống Arbor- Acroes – AA.
Giống gà thịt cao sản Mĩ, lông trắng, than hình bầu đẹp, lườn và đùi
phát triển, thịt lườn 16 – 17%, thịt đùi 15 -16% so với than thịt. Gà to, trống
4,5,- 5kg, mái 3,5 -4 kg, lớn nhanh, gà Broiler 49 ngày tuổi trống 2,4 – 2,5
kg, mái 2,3,- 2,4 kg, tiêu tốn thức ăn bình quân 2kg/kg tăng trọng. Giống
gà này đang nuôi chiếm tỉ lệ cao trong đàn gà công nghiệp ở Mĩ và nuôi
phổ biến ở nhiều nước, thịt thơm ngon.
Giống AA đã nhập vào Việt Nam, thích nghi tốt, đang nuôi phổ biến,
được ưa chuộng, có hướng phát triển lớn ở các xí nghiệp và trang trại.
- Giống BE88:
Là giống gà thịt Cuba, lông trắng, thân hình cân đối, lườn và đùi tương
đối phát triển. Dòng gà mái đẻ cao 170 -180 trứng/mái/năm. Giống gà này
nhập vào Việt Nam năm 1993 gồm 4 dòng thuần chủng B
1
, E
1
, B
4
, D
3
.
Dòng B
4
có đặc điểm tốc độ mọc lông nhanh, E
1
mọc lông chậm do gen K
qui định, khi lai B
4
vớiE
1
gà con mới nở chọn trống mái theo tốc độ mọc
lông, con mái mọc lông nhanh chọn làm giống mẹ. Gà thích nghi tốt, gf
Broiler bảy tuần tuổi nặng 2,1- 2,4 kg, tiêu tốn 2,1 – 2,2 kg cho một kg tăng
trọng. Tỉ lệ nuôi sống cao 95-96% thịt thơm ngon, chắc. Hiện đang nuôi
Phí Thị Thanh Mai Ngành: CNTP
9
Đồ án Thạc sĩ Khoá: 2006 - 2008
phổ biến dòng B
4
, E
1
làm tổ hợp dòng mái, dùng trống các giống gà thịt
cao sản AA, ISA lai tạo tổ hợp lại broiler chi năng suất thịt cao hơn.
- Giống ISA- MPK30:
Là giống gà Pháp, lông trắng, than hình gọn, chắc, tỉ lệ thịt xẻ cao,
lườn phẳng, rộng và sâu, đùi to. Thịt lườn 16,5 – 17%, thịt đùi 15 -16% so
với than thịt. Gà Broiler tăng trọng nhanh 49 ngaỳ tuổi, trống 2,75 kg, mái
2,27 kg, tiêu tốn thức ăn 1,96 – 2 kg thức ăn cho một kg tăng trọng. Thịt
ngon, thơm.
- Giống Lohmann meat.
Giống gà thịt cao sản Đức, lông trắng. Sản lượng trứng 40 tuần đẻ 175
– 185 quả/mái/năm. Mái trưởng thành 3,46 – 3,56kg, ngực nở, đùi to. Gà
Broiler 42 ngày tuổi trống 1,85 kg; mái 1,79 kg.
Gà nhập vào Việt Nam thích nghi tốt, đang phát triển ở nhiều vùng
được ưa chuộng.
I.2.2. Tính chất của thịt gà
[
3
]
.
I.2.2.1. Cấu trúc của thịt gà.
Thịt gà bao gồm các mô cơ bản sau: Mô mỡ, mô cơ, mô liên kết, và
mô xương.
- Mô cơ: Đây là phần chủ yếu của thịt gà, nó chiếm khoảng 50 –
60%, phân bố không nhiều, chỗ ít, chỗ nhiều. Mô cơ được chia làm 3
nhóm là cơ xương, cơ trơn và cơ tim. Cơ xương là phần cấu tạo cơ thịt có
giá trị thực phẩm cao, trong cơ thể nó đảm bảo cho mọi cử động. Cơ
xương cấu tạo từ 3 phần: sợi cơ, màng sợi cơ và màng ngăn. Cơ trơn là
cơ của các cơ quan bên trong.
- Mô liên kết: Làm nhiệm vụ gắn các mô thịt khác nhau và các cơ
quan vào nhau. Thịt càng nhiều mô liên kết thì càng cứng. Các mô liên kết
chủ yếu chứa các protit không hoàn hảo. Các mô liên kết là các sợi gân
chứa collagen và elastin. Khi đun nóng một phần collagen chuyển thành
gluten có thể tiêu hoá được.
- Mô mỡ: Là loại mô liên kết biến dạng, chứa nhiều tế bào mỡ. Mô
liên kết có thể chuyển thành mô mỡ ở các bộ phận khác nhau của thịt.
Phí Thị Thanh Mai Ngành: CNTP
10
Đồ án Thạc sĩ Khoá: 2006 - 2008
Thường hiện tượng này xảy ra ở giữa mô máu và mô cơ và xuất hiện ở
mô dưới da. Mô mỡ bao bọc các cơ quan bên trong để bảo vệ. Kích thước
tế bào mỡ rất lớn, đường kính từ 35 - 130µm. Sự thay đổi màu sắc, mùi vị,
độ chặt, nhiệt độ nóng chảy và nhiệt độ đông đặc, chỉ số Iot và các tính
chất khác tuỳ thuộc giống và sự trưởng thành của vật nuôi. Lượng mỡ
trong thịt thay đổi tuỳ vị trí khác nhau của con vật.
- Mô xương: Gồm các sợi keo có thấm các muối Canxi, lớp ngoài
đặc, trong xốp, có nhiều mô mỡ, ở giữa các chất xốp có nhiều chất béo
gọi là tuỷ
I.2.2.2. Thành phần hoá học của thịt gà.
Thành phần hóa học của thịt gà gồm có: nước, protein, lipit, gluxit,
muối khoáng và vitamin. Trong đó protein, lipid chiếm tỉ lệ cao, còn gluxit,
vitamin, các chất vi kim loại, các hợp chất tự nhiên, các kim loại nặng
chiếm tỉ lệ rất nhỏ.
Thành phần hoá học của thịt gà không những phụ thuộc vào loại gà
mà còn phụ thuộc vào cả môi trường phát triển và điều kiện chăn nuôi.
Bảng 3: Hàm lượng các thành phần dinh dưỡng trong 100 gam thịt gà
[
3
]
Thành
phần
Năng
lượng(Kcal)
Nước
Protein
(Gam)
Lipid Tro Gluxid
Thịt gà ta 199 65,6 20,3 13,1 1,0 0,0
Thịt gà tây 218 63,6 20,1 15,3 1,0 0,0
Ngoài ra giá trị thực phẩm của thịt gà được đặc trưng không những ở
mô liên kết mà còn phụ thuộc vào quan hệ của các axit amin không thay
thế: tryptophan, lysin, acginin,…
Bảng 4: Hàm lượng axit amin trong 100g thịt gà
[
3
]
Axit amin Thịt gà ta Thịt gà tây
Lysin 1859 1356
Methionin 653 459
Tryptophan 246 198
Phenylalanin 717 631
Threonin 787 760
Valin 972 810
Leucin 1629 1267
Isoleucin 1293 746
Phí Thị Thanh Mai Ngành: CNTP
11
Đồ án Thạc sĩ Khoá: 2006 - 2008
Arginin 1190 1688
Histidin 432 472
Cystin 288 154
Tyrosin 595 538
Alanin 1088 1042
Aspartic acid 1965 1622
Glutamic acid 2848 2536
Glycin 797 1071
Prolin 925 829
Serin 938 666
Chất khoáng: hàm lượng các chất khoáng vô cơ trong thịt gà không
thua kém thịt các động vật có vú. Đáng chú ý là lượng sắt ở thịt gà gấp 3
lần ở thịt bò.
Bảng 5: Bảng hàm lượng khoáng và vi khoáng trong 100g thịt
[
3
]
Kim loại
Ca P Fe Mg Zn Co Cu Se
mg
Thịt gà ta 12 200 1,5 29 1,5 8,0 - -
Thịt gà tây 24 320 3,2 - - - - -
Vitamin: thịt gà là nguồn vitamin nhóm B quí, nhất là vitamin B
12
, axit
folic và nicotinamit.
Bảng 6: Hàm lượng một số vitamin trong thịt 100g thịt
[
3
]
Vitamin A B1 B2 PP C
Mg
Thịt gà ta 120 0,15 0,20 8,10 4,00
Thịt gà tây 180 0,06 0,08 7,00 -
II.CÔNG NGHỆ CHẾ BIẾN ĐỒ HỘP
II.1. Tình hình sản xuất đồ hộp.
II.1.1. Lịch sử phát triển của đồ hộp thực phẩm
[
4
]
.
Năm 1804, một người Pháp tên là Nicolas Appert đã biết chế biến thực
phẩm đựng trong bao bì thuỷ tinh sản xuất phục vụ trên tàu, du lịch.
Năm 1809 báo chí đã viết về ông và tác phẩm” L′art de fixer les
saisons” và đến năm 1810 đã được dịch qua nhiều thứ tiếng.
Phí Thị Thanh Mai Ngành: CNTP
12
Đồ án Thạc sĩ Khoá: 2006 - 2008
Năm 1810, một người Anh tên là Pertet Durand dùng đồ hộp sắt đựng
thực phẩm thay cho bao bì thuỷ tinh.
Đến năm 1825, việc sản xuất đồ hộp đã hình thành. Hộp sắt đã được
sản xuất nhưng còn bằng phương pháp thủ công.
Năm 1849, người ta đã chế tạo được máy dập nắp hộp.
Trong suốt thời gian này người ta chỉ biết cho rằng nguyên nhân gây
hư hỏng thực phẩm là do không khí, mà chưa có cơ sở khoa học xác định.
Đến năm 1860, nhờ phát minh của Louis Pasteur(người Pháp) về vi
sinh vật và phương pháp thanh trùng, mới thật sự đặt cơ sở khoa học cho
ngành công nghiệp đồ hộp. cũng từ đó ngành công nghiệp đồ hộp phát
triển.
Năm 1861, biết dùng joint cao su là vòng đệm trong nắp hộp.
Năm 1880, chế tạo được nồi thanh trùng đồ hộp.
Năm 1896, đã dùng bột cao su đặc biệt(Pasta) làm vòng đệm ở nắp
khi ghép kín hộp. Nến công nghiệp đồ hộp phát triển mạnh ở nhiều nước
vào cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20. Hiện nay trên thế giới đã có hơn 1000
mặt hàng đồ hộp khác nhau. Các nước sản xuất đồ hộp phát triển như:
Mỹ, Nhật, ý, Hà Lan, Trung Quốc…
Ở nước ta từ thời thượng cổ, tổ tiên ta đã biết chế biến các loại bánh
gói lá, các loại giò chả nấu chin và đã bảo quản được một thời gian ngắn.
Những sản phẩm đó cũng gọi là đồ hộp.
Đến năm 1954, ta được Liên Xô và các nước giúp đỡ xây dựng một số
cơ sở chế biến đồ hộp tại miền Bắc.
Năm 1957, nhà máy cá hộp Hạ Long, Hải Phòng đã được xây dựng
xong.
Năm 1958, tiến hành thí nghiệm sản xuất và sản xuất thử.
Đến năm 1959, bắt đầu sản xuất một số mặt hàng thịt, cá, rau,quả hộp
xuất khẩu và phục vụ chiến trường. Cũng cùng những năm ấy xưởng chế
biến chuối sấy được xây dựng xong tại Hà Nội.
Phí Thị Thanh Mai Ngành: CNTP
13
Đồ án Thạc sĩ Khoá: 2006 - 2008
Năm 1960, nhà máy cá hộp Hạ Long đã sản xuất được với năng suất
gần bằng năng suất thiết kế. Năm 1961, phát triển nhiều mặt hàng rau
quả, thịt cá hộp.
Còn ở miền Nam, mãi đến năm 1970 mới bắt đầu hình thành một số
cơ sở sản xuất đồ hộp, tại thành phố Hồ Chí Minh.
Đến sau năm 1975, ngành công nghiệp đồ hộp ở miền Nam mới được
chú trọng và phát triển, sản xuất được nhiều mặt hàng có giá trị.
Cho đến nay, nước ta đã thí nghiệm nghiên cứu được hàng trăm mặt
hàng và đã đưa vào sản xuất có hiệu quả, đạt chất lượng cao. Trong đó
có các mặt hàng có giá trị xuất khẩu, có giá trị trên thị trường quốc tế như:
dứa, chuối, dưa chuột, nấm rơm đóng hộp…Các vùng có các nhà máy
sản xuất đồ hộp thực phẩm : Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Sơn Tây,
Biên Hoà, Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh, KIên Giang, Cần thơ, Tiền
Giang.
II.1.2.Tình hình sản xuất đồ hộp trong nước.
[
4
]
.
Ở Việt Nam đồ hộp được sử dụng đầu tiên là nhằm cung cấp cho
quân đội trong chiến tranh. Vào năm 1956 nhà máy đồ hộp Hạ Long ở Hải
Phòng ra đời với các thiết bị của Nga năng suất 100000 hộp/ngày.
Hiện nay, nhu cầu các sản phẩm thực phẩm chế biến và đồ hộp
khoảng 200.000 tấn, trong khi đó chỉ có khoảng 20 nhà máy và công ty
tham gia vào thị trường thực phẩm chế biến với tổng sản lượng ước tính
khoảng 120.000 tấn/năm. Thị trường tiêu thụ sản phẩm thực phẩm chế
biến và đồ hộp hiện nay tập trung chủ yếu tại các thành phố lớn, trong đó
Thành phố Hồ Chí Minh chiếm tỉ lệ khoảng 41%, Hà Nội chiếm 13,42%,
phần còn lại chủ yếu tập trung ở các thành phố khác và các khu công
nghiệp. Trên cả nước đã có rất nhiều nhà máy sản xuất đồ hộp với các
sản phẩm phong phú từ đồ hộp rau quả đến đồ hộp thịt cá và các sản
phẩm đồ hộp cũng được người tiêu dùng sử dụng rộng rãi.
Từ trước đến nay, hàng thực phẩm trong nước luôn phải cạnh tranh
gay gắt với hàng thực phẩm nhập khẩu chính thức từ nước khác. Sản
phẩm đồ hộp Việt Nam sẽ phải cạnh tranh với mặt hàng đồng loại có đẳng
Phí Thị Thanh Mai Ngành: CNTP
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét