Thứ Sáu, 7 tháng 3, 2014

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ở huyện Gia Lâm

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nông thôn Huyện Gia Lâm


Các mối quan hệ trong cơ cấu kinh tế nông thôn phản ánh trình độ phát
triển sự phân công lao động trong lãnh thổ, khi sự phân công đạt đến trình độ
cao, thì cơ cấu kinh tế nông thôn càng đa dạng cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.
1.3. Khái niệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn đó là quá trình làm thay đổi cấu
trúc và các mối quan hệ của hệ thống kinh tế nông thôn theo một tỷ lệ và mục
tiêu nhất định, nghĩa là đa hệ thống kinh tế nông thôn đến trạng thái phát triển
tối u, đạt đợc hiệu quả cao. Thông qua các tác động điều khiển có ý thức của
con ngời, trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan.
2. Các nội dung của cơ cấu kinh tế nông thôn
2.1. Cơ cấu ngành:
Trong quá tình phát triển loài ngời đã trải qua 3 lần phân công lao động
xã hội: chăn nuôi tách khỏi trồng trọt; thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp;
dịch vụ lu thông tách khỏi sản xuất.
Nh vậy sự phân công lao động theo ngành là cơ sở hình thành cơ cấu
ngành, sự phân công lao động phát triển ở trình độ cao, càng chặt chẽ thì sự
phân chia ngành càng đa dạng và sâu sắc. Cùng với sự phát triển của lực lợng
sản xuất và tiến bộ của khoa học kỹ thuật, đặc biệt sự phát triển của công
nghiệp hiện đại, cơ cấu kinh tế nông thôn đợc cải tiến nhanh chóng theo hớng
công nghiệp hóa và hiện đại hoá.
Cơ cấu kinh tế nông thôn bao gồm 3 nhóm: nông nghiệp (nông - lâm -
ng nghiệp), công nghiệp nông thôn (bao gồm công nghiệp khai thác, chế biến,
tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp truyền thống) và dịch vụ nông thôn (bao
gồm dịch vụ sản xuất và đời sống). Trong từng nhóm ngành đợc phân theo nhỏ
hơn chẳng hạn nh trong nông nghiệp (theo nghiã hẹp) đợc phân theo nh trồng
trọt, chăn nuôi. Trong ngành trồng trọt đợc chia tiếp thành: cây lơng thực, cây
công nghiệp, cây rau đậu, cây ăn quả, cây dợc liệu
5
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nông thôn Huyện Gia Lâm


Phân công lao động thực hiện càng sâu sắc thì cơ cấu ngành càng đợc
phân chia càng tỉ mỉ và đa dạng.Tiền đề của sự phân công lao động là năng
suất lao động nông nghiệp, chủ yếu là năng suất lao động của khu vực sản xuất
lơng thực, phải đạt ở mức nhất định, đảm bảo số lợng và chất lợng lơng thực
cho xã hội mới tạo nên sự phân công lao động giữa ngời sản xuất lơng thực với
ngời sản xuất nguyên liệu cho công nghiệp, chăn nuôi tạo nên sự phân công
lao động giữa những ngời làm nông nghiệp và những ngời làm ở các ngành
khác Có những quốc gia không thể làm giàu bằng nông nghiệp mà phải làm
giàu bằng công nghiệp và dịch vụ. Nhng muốn làm giàu bằng công nghiệp và
dịch vụ có hiệu quả thì trớc hết phải coi trọng nông nghiệp, Nghĩa là nông
nghiệp phải đảm bảo phát triển đến mức độ nhất định tạo tiền đề và là điều
kiện quan trọng cho sự phát triển công nghiệp và dịch vụ với nhịp độ cao và ổn
định.
2.2. Cơ cấu vùng lãnh thổ:
Sự phân công lao động theo ngành kéo theo sự phân công theo lãnh thổ.
Đó là 2 mặt của một quá trình gắn bó hữu cơ với nhau. Sự phân công lao động
theo ngành bao giờ cũng diễn ra trên vùng lãnh thổ nhất định.Nghĩa là cơ cấu
vùng lãnh thổ là nơi bố trí các ngành sản xuất và dịch vụ theo không gian cụ
thể nhằm khai thác mọi u thế tiềm năng sẵn có. Xu thế chuyển dịch của cơ cấu
vùng lãnh thổ theo hớng đi vào chuyên môn hoá và tập trung hoá sản xuất và
dịch vụ, hình thành những vùng sản xuất hàng hoá lớn, tập trung có hiệu quả
cao, mở rộng các mối quan hệ với các vùng chuyên môn hoá khác, gắn với cơ
cấu kinh tế của từng khu vực với cả nớc. Trong từng vùng lãnh thổ cần coi
trọng chuyên môn hoá kết hợp với phát triển tổng hợp và đa dạng. Theo kinh
nghiệm lịch sử ,để hình thành cơ cấu vùng lãnh thổ hợp lý trớc hết cần hớng
vào các khu vực có lợi thế so sánh. Đó là những khu vực có điều kiện đất đai
khí hậu tốt, vị trí địa lý, giao thông thuận lợi đó là những vùng gắn với các trục
đờng giao thông cửa sông, cửa biển, gần các thành phố, khu công nghiệp lớn
sôi động có điều kiện phát triển và mở rộng giao lu kinh tế với các vùng bên
6
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nông thôn Huyện Gia Lâm


trong và bên ngoài, có khả năng tiếp cận và hoà nhập nhanh chóng vào thị tr-
ờng hàng hoá và dịch vụ. Tuy nhiên so với cơ cấu ngành thì cơ cầu vùng lãnh
thổ có sức ỳ hơn. Vì vậy cần đánh giá và xem xét để quy hoạch sao cho hiệu
quả kinh tế cao nhất.
Cơ cấu kinh tế nông thôn của mỗi vùng thờng có những đặc trng rất
khác nhau và phụ thuộc vào hai nhóm nhân tố chính:
- Thứ nhất: yêu cầu của thị trờng tác động đến cơ cấu vùng.
- Thứ hai: Khả năng điều kiện riêng của từng vùng nhằm tìm kiếm
những lợi thế trong sản xuất kinh doanh để thoả mãn đáp ứng nhu cầu của thị
trờng.
2.3. Cơ cấu thành phần kinh tế.
Cơ cấu thành phần kinh tế là nội dung quan trọng của quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế nông thôn nói riêng ở nớc ta.
Từ Đại hội Đảng lần thứ VI đã khẳng định chuyển nền kinh tế nớc ta từ nền
kinh tế chỉ huy bao cấp sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý Nhà nớc theo
định hớng xã hội chủ nghĩa và rất coi trọng phát triển nhiều thành phần kinh
tế. Từ đó đến nay sự tham gia của các thành phần kinh tế vào nền kinh tế quốc
dân ngày càng đông, trong đó hộ tự chủ là đơn vị sản xuất kinh doanh là lực l-
ọng chủ yếu trực tiếp tạo ra các sản phẩm nông - lâm - thuỷ sản cho toàn xã
hội. Trong kinh tế hộ đã từng bớc giảm số hộ thuần nông tăng tỷ lệ số hộ kiêm
và các hộ chuyên làm thủ công nghiệp, dịch vụ. Để có sản xuất nông nghiệp
hàng hoá lớn chúng ta không dừng lại ở kinh tế hộ mà phát triển lên xây dựng
kinh tế nông trại rồi qui mô liên hộ. Tỷ trọng khu vực quốc doanh trong nông
nghiệp nông thôn có xu thế giảm dần, vì vậy cần rã soát lại sắp xếp lại và củng
cố để các đơn vị kinh tế quốc doanh trong nông nghiệp nông thôn phát triển có
hiệu quả.
Đối với khu vực kinh tế hợp tác chúng ta cần đổi mới các hợp tác xã
kiểu cũ, khuyến khích mở rộng và phát triển các hình thức hợp tác xã kiểu mới
7
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nông thôn Huyện Gia Lâm


và trình độ khác nhau, hợp tác xã và hộ nông dân cùng tồn tại, phát triển trên
cơ sở tự nguyện của các hộ thành viên và đảm bảo lợi ích thiết thực.
2.4. Cơ cấu kỹ thuật:
Cơ cấu kỹ thuật là quan hệ tỉ lệ về lợng giữa các yếu tố của quá tình sản
xuất, theo thời gian và điều kiện môi trờng nhất định.
Cũng nh cơ cấu thành phần kinh tế, trong thời gian dài cơ cấu kỹ thuật
trong nông thôn nớc ta mang nặng tình cổ truyền và nông nghiệp truyền thống
lạc hậu phân tán, manh mún, và bảo thủ. Về kỹ thuật chủ yếu là dựa vào kinh
nghiệm qua các thế hệ của từng hộ nông dân. Vì vậy, sản xuất nông nghiệp
phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên.
Ngày nay dới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và sự
phát triển mạnh mẽ của công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ đã làm
phá vỡ các hình thức, các phơng thức sản xuất cổ truyển. Điều này đã làm cho
cơ cấu kỹ thuật ở nông thôn nớc ta trong những năm qua có những chuyển biến
cha từng có.
3. Đặc trng của cơ cấu kinh tế nông thôn
* Cơ cấu kinh tế nông thôn mang tính khách quan và đợc hình thành do
sự phát triển của lực lợng sản xuất và phân công lao động xã hội chi phối, ở
một trình độ phát triển nhất định sẽ có một cơ cấu kinh tế cụ thể tơng ứng
trong nông thôn. ĐIều này khẳng định rằng việc xác lập cơ cấu kinh tế nông
thôn phải tôn trọng tính khách quan của nó và càng không thể áp đặt một cách
chủ quan duy ý chí.
* Cơ cấu kinh tế nông thôn bao giờ cũng mang tính lịch sự và xã hội
nhất định.
* Cơ cấu kinh tế nông thôn không ngừng vận động biến đổi, phát triển
theo hớng ngày càng hoàn thiện và nó phản ánh quá trình phát triển của các
yêu cầu về lực lợng sản xuất,con ngời càng văn minh, khoa học kỹ thuật ngày
càng hiện đại, tất yếu dẫn đến cơ cấu kinh tế ngày càng hoàn thiện, sự vận
8
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nông thôn Huyện Gia Lâm


động và biến đổi không ngừng của các yếu tố các bộ phận trong nền kinh tế
quốc dân nói chung cũng nh trong nền kinh tế nông thôn nói riêng. Cơ cấu
kinh tế nông thôn vận động, biến đổi và phát triển thông qua sự chuyển hoá
của chính nó, khi đó cơ cấu cũ mất đi và ra đời cơ cấu mới. Cơ cấu mới ra đời
lại tiếp tục vận động và phát triển và lại trở thành lạc hậu, nó lại đợc thay thế
bằng một cơ cấu mới tiến bộ hơn hoàn thiện hơn đó là tất yếu cảu sự phát triển
của nhân loại.
* Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn là một quá trình và cũng không
có một cơ cấu nào hoàn thiện và bất biến. Cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu
kinh tế nông thôn nói riêng sẽ vận động chuyển hoá từ cơ cấu kinh tế cũ sang
cơ cấu kinh tế mới đòi hỏi phải có thời gian và các thang bậc nhất định của sự
phát triển. Đầu tiên là tự chuyển đỗi vễ lợng sau đó mới biến đổi về chất. Đó là
quá trình chuyễn hoá dần sang một cơ cấu kinh tế mới phù hợp và hiệu quả
hơn. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải là một quá trình nhng không phải là
một quá trình tự phát mà phải có sự tác động của con ngời, trên cơ sở nhận
thức đợc đúng đắn các quy luật khách quan đề tác động theo đúng mục tiêu.
Vấn đề quan trọng là phải bắt đầu từ đâu và biện pháp nào mà tác động sao
cho hiệu quả nhất.
4. Sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn nói chung
và kinh tế nông thôn ngoại thành nói riêng.
4.1. Thực trạng về cơ cấu kinh tế nông thôn ở nớc ta hiện nay
Quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn theo đờng lối chính sách
của Đảng và Nhà nớc đã và đang diễn ra khắp các địa phơng trong cả nớc. Tuy
nhiên sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn còn chậm chạp
mang tính tự phát theo từng vùng, từng địa phơng nên cha thống nhất và thiếu
đồng đều, xu hớng chuyển dịch theo hớng tích cực của nền kinh tế hàng hoá
cha bộc lộ rõ nét. Cho tới nay sản phẩm trồng trọt vẫn chiếm tới trên đới 75%
tổng giá trị nông sản. Lực lợng lao động nông nghiệp còn cao, trong đõ 70%
chủ yếu tập trung ở ngành trồng trọt. Số lao động làm công nghiệp và dịch vụ
9
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nông thôn Huyện Gia Lâm


chỉ có khoảng 14 - 15 % lao động làm nghề đánh bắt nuôi trồng thuỷ sản
chiếm khoảng 14%. Nh vậy tỉ trọng sản phẩm trồng trọt cũng nh tỷ trọng lao
động công nghiệp và dịch vụ cũng nh lao động ở hai ngành này tăng lên cha
đáng kể cha đáp ứng kịp thời cho kinh tế nông nghiệp phát triển nhanh. Một
số làng nghề truyền thống cha đợc khôi phục hoặc đã khôi phục nhng cha phát
triển.
Vì thiếu vốn, kỹ thuật, lao động, ngành dịch vụ ở nông thôn cha đợc mở
rộng để đáp ứng nhu cầu phát triển nông nghiệp . Nghề phụ ở nông thôn cha đ-
ợc chú trọng phát triển dẫn đến tình trạng thời gian lao động ở nông thôn cha
đợc sử dụng một cách triệt để.
4.2. cơ cấu kinh tế nông thôn nớc ta còn thể hiện nhiều điểm bất
hợp lý.
Theo quan điểm cũ kinh tế nông thôn luôn đồng nghĩa với kinh
tế nông nghiệp từ đó tạo ra sự cách trở phát triển nông thôn so với thành thị
ngày càng rõ rệt.
- Cơ cấu ngành, cơ cấu vùng còn mang nặng đặc điểm, dấu hiệu của
thời kỳ quản lý tập trung quan liêu bao cấp, không tính đến hiệu quả kinh tế
của ngành.
- Cơ cấu thành phần kinh tế giữa quốc doanh, tập thể và t nhân cha
hợp lý.
- Sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn còn mang nặng tính tự
cấp tự túc manh mún.
4.3. Xuất phát từ yêu cầu của nền kinh tế thị trờng.
- Phải coi trọng thị trờng là yếu tố quyết định trên việc chuyển dịch cơ
cấu. Từ đó chuyển từ sản xuất theo nhu cầu tiêu dùng của ngời sản xuất là
chính sang sản xuất những gì mà thị trờng đòi hỏi.
10
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nông thôn Huyện Gia Lâm


- Thị trờng trong và ngoài nớc hiện nay có những thay đổi rất nhanh
chóng do vậy đòi hỏi sản phẩm nông sản phải phong phú và đa dang.
5. Các chỉ tiêu đánh giá trình độ và hiệu quả
5.1. Các chỉ tiêu đánh giá trình độ cơ cấu kinh tế và quá trình
chuyển dịch cơ cầu kinh tế nông thôn:
- Cơ cấu giá trị loại sản phẩm và dịch vụ
- Cơ cấu về lao động
- Cơ cấu về vốn đầu t
- Cơ cấu về sử dụng đất đai.
Các chỉ tiêu này có thể sử dụng để đánh giá trình độ và quá trình
chuyển dịch kinh tế nông thôn trong cả nớc,trong vùng lãnh thổ và trong phạm
vi thành phần kinh tế. Trong các chỉ tiêu trên chỉ tiêu về cơ cấu lao động biểu
hiện rõ nhất còn cơ cấu giá trị sản phẩm hàng hoá và dịch vụ phản ánh rõ nhất
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
5.2. Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của quá tình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế.
- Các chỉ tiêu kết quả và chỉ tiêu nhân tố bao gồm:
+ Năng suất cây trồng và năng suất vật nuôi
+ Giá trị các loại sản phẩm và dịch vụ
+ Giá trị tổng thu nhập.
+ Vốn đầu t và chi phí vật chât.
+ Năng suất ruộng đất tính theo giá trị.
- Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông thôn bao gồm:
+ Hiệu quả đầu t vốn phát triển nông thôn nói chung và một số ngành
chủ yếu nói riêng.
11
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nông thôn Huyện Gia Lâm


+ Hiệu quả của chi phí vật chất.
+ Năng suất lao động nông thôn
Các chỉ tiêu này sử dụng để tính toàn hiệu quả cuả quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông thôn.
6. Các nhân tố ảnh hởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn.
6.1. Nhóm các nhân tố về điều kiện tự nhiên.
Nhóm này bao gồm: Vị trí địa lý của các vùng lãnh thổ; điều kiện đất
đai của các vùng, điều kiện khí hậu thời tiết; các nguồn tài nguyên khác của
các vùng lãnh thổ nh nguồn nơc, rừng, biển, khoáng sản các nhân tố tự nhiên
trên có tác động một cách trực tiếp tới sự hình thành vận động và biến đổi của
cơ cấu kinh tế nông thôn. Tuy nhiên sự tác động và ảnh hởng của các điều
kiện tự nhiên tới mỗi nội dung của cơ cấu kinh tế nông thôn là không phải nh
nhau. Trong các nội dung của cơ cấu kinh tế cơ cấu vùng và cơ cấu ngành chịu
sự ảnh hởng lớn nhất của điều kiện tự nhiên.
Trong cơ cấu kinh tế nông thôn, nông nghiệp thờng chiếm tỷ trọng lớn
và ảnh hởng mạnh mẽ đến các ngành khác. Trong mỗi quốc gia và vùng lãnh
thổ khác nhau thì có điều kiện khí hậu điều kiện đất đai và các nguồn tài
nguyên khác cho nên về số lợng quy mô phân ngành giữa các vùng thờng
khác nhau. Điều này thể hiện rõ nét trong sự phân biệt về cơ cấu ngành kinh tế
trong nông thôn giữa trung du và miền núi. Ngay giữa các vùng cơ cấu kinh tế
ngành có sự khác nhau khá rõ do tính đa dạng và phong phú của tự nhiên nớc
ta và sự phát triển không đều của nguồn lực. Một số vùng có điều kiện đặc
thiệt thuận lợi để phát triển một số ngành sản xuất, tạo ra các lợi thế so với
những vùng khác của đất nớc. Đây là cơ sở tự nhiên để hình thành các vùng
kinh tế nói chung và các vùng kinh tế nông thôn nói riêng trong mỗi quốc gia.
Ngoài sự tác động và ảnh hởng của điều kiện tự nhiên, cơ cấu kinh tế
vùng lãnh thổ còn chịu ảnh hởng bởi cơ cấu thành phần kinh tế và cơ cấu thành
phần kỹ thuật cuả khu vực kinh tế nông thôn. Vị trí địa lý thuận lợi và các tiềm
12
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nông thôn Huyện Gia Lâm


năng tự nhiên phong phú của mỗi vùng lãnh thổ là nhân tố thuận lợi cho các
thành phần kinh tế phát triển. Thông thờng ở những vùng có điều kiện tự nhiên
thuận lợi các thành phần kinh tế: Quốc doanh tập thể, cá thể, t nhân và kinh tế
hộ phát triển hơn các vùng có điều kiện tự nhiên không thuận lợi.
6.2 Nhóm các nhân tố kinh tế xã hội
Nhóm này luôn có tác động mạnh mẽ tới sự hình thành và biến đổi của
cơ cấu kinh tế nông thôn. Các nhân tố kinh tế xã hội ảnh hởng tới cơ cấu thành
phần kinh tế nông thôn bao gồm: thị trờng (cả thị trờng trong nớc và ngoài n-
ớc), hệ thống các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nớc, , kinh nghiệm tập
quán và truyền thống sản xuất của dân c.
Trong nền kinh tế hàng hoá các quan hệ kinh tế đợc thể hiện thông qua
thị trờng. Thị trờng nông thôn không chỉ thực hiện chức năng tiêu thụ sản
phẩm của các ngành kinh tế nông thôn (đầu ra) mà còn góp phần quan trọng
thu hút các yếu tố (đầu vào) của thị trờng hoạt động sản xuất kinh doanh trong
nông thôn nh: vốn, sức lao động, vật t công nghệ.
Tuy nhiên thị trờng với các quy luật vốn có luôn chứa đựng khả năng tự
phát và dẫn đến những rủi ro cho ngời sản xuất cũng nh gây lãng phí các
nguồn lực xã hội nói chung và khu vực kinh tế nông thôn nói riêng: Để hạn
chế khả năng tự phát cần có sự tác động hợp lý của Nhà nớc ở tầm vĩ vô để
định hớng sự vận động và biến đổi của thị trờng.
Trong điều kiện nền kinh tế mở cần chú trọng sự tác động và ảnh hởng
của thị trờng quốc tế tới cơ cấu kinh tế nông thôn của mỗi nớc. Đây là một
nhân tố hết sức quan trọng ảnh hởng tới quá trình biến đổi cơ cấu kinh tế nói
chung và cơ cấu kinh tế nông thôn nói riêng. Thông qua quá trình tham gia thị
trờng quốc tế mà mỗi quốc gia tăng thêm các cơ hội tìm kiếm công nghệ và kỹ
thuật mới cũng nh vốn đầu t để phát triển kinh tế mỗi nớc.
Trong nền kinh tế thị trờng Nhà nớc cần ban hành các chính sách kinh
tế vĩ mô để tạo ra động lực kinh tế mà cốt lõi là lợi ích kinh tế của ngời sản
13
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nông thôn Huyện Gia Lâm


xuất. Đồng thời các chính sách kinh tế giúp các nhà sản xuất có đợc hành lang
và khuôn khổ để bảo vệ lợi ích của mình. Để thực hiện chức năng kinh tế của
mình nhất thiết Nhà nớc phải có công cụ quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế. Để
chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, đòi hỏi có những điều kiện vật chất nhất
định đặc biệt là nguồn vốn đầu t, vì nó ảnh hởng trực tiếp tới sự hình thành và
phát triển ngành kinh tế, thành phần kinh tế và vùng kinh tế đồng thời cũng tạo
điều kiện ảnh hởng trực tiếp tới sự hình thành và phát triển ngành kinh tế,
thành phần kinh tế và vùng kinh tế nông thôn đòi hỏi phải có những điểu kiện
cho các nhà sản xuất đầu t công nghệ, kỹ thuật trong nông thôn. Cơ sở hạ tầng
nông thôn cũng là một trong các yếu tố quyết định cho sự chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông thôn. Cơ sở hạ tầng nông thôn bao gồm: hạ tầng kỹ thuật và hạ
tầng xã hội phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất, thơng mại, dịch vụ và
sinh hoạt văn hoá xã hội của cộng đồng dân c nông thôn.
Sự phát triển của các khu công nghiệp và đô thị cũng là một nhân tố
quan trọng ảnh hởng tới sự hình thành và phát triển của cơ cấu kinh tế nông
thôn.
6.3. Nhóm nhân tố về kỹ thuật có ảnh hởng tới cơ cấu kinh tế nông
thôn.
Ngày nay khoa học kỹ thuật đang trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp.
Sự phát triển của khoa học kỹ thuật và việc ứng dụng chúng vào sản xuất có
vai trò ngày càng to lớn đối với sự phát triển kinh tế nói chung, kinh tế nông
thôn và cơ cấu kinh tế nông thôn nói riêng. ở đây vai trò của khoa học kỹ thuật
kỹ thuật đợc ứng dụng sản xuất góp phần quyết định hoàn thiện các phơng
thức sản xuất nhằm khai thác sử dụng hợp lý, hiệu quả hơn các nguồn lực của
xã hội và khu vực nông thôn. Đồng thời việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật cũng làm phát triển lực lợng sản xuất trong nông thôn qua đó thúc đẩy sự
phát triển của các ngành sản xuất, các vùng kinh tế trong nông thôn đặc biệt là
các ngành các vùng có nhiều lợi thế.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét