Thứ Bảy, 1 tháng 3, 2014

Sáng kiến kinh nghiệm Tập viết L2

Phần I : Phần mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
Chữ viết là một công cụ dùng để giao tiếp và trao đổi thông tin, là phơng tiện để ghi
chép và tiếp nhận những tri thức văn hoá, khoa học và đời sống Do vậy, ở trờng tiểu học,
việc dạy học sinh biết chữ và từng bớc làm chủ đợc công cụ chữ viết để phục vụ cho học tập và
giao tiếp là yêu cầu quan trọng hàng đầu của môn Tiếng Việt.
Sau khi đã đợc đọc thông, viết thạo các em đợc tiếp bớc lên học lớp hai. Các em còn
nhỉều bỡ ngỡ với thầy cô giáo mới, với những môn học mới. Ngời ta thờng nói: Một trong
những hạnh phúc lớn nhất của trẻ là đợc đến trờng vừa đợc học vừa đợc vui chơi. Kết thúc
năm học trớc học sinh đã đợc đọc thông, viết thạo. Và khi đó sẽ mở ra cho các em một tầm
hiểu biết mới.
Khi học sinh viết đúng theo chữ mẫu cô giáo hớng dẫn thì các em sẽ có điều kiện ghi
chép bài ở các môn khác tốt hơn, nhờ vậy kết quả học tập sẽ cao hơn. Ngợc lại, nếu viết chậm
hoặc viết nhanh nhng xấu thì kết quả học tập cũng bị hạn chế. Nh vậy, chúng ta có thể nói việc
rèn chữ là một việc đặc biệt quan trọng trong quá trình học tập của học sinh tiểu học .
Nét chữ - Nết ng ời đúng theo lời dạy của các cụ xa. Một học sinh đọc tốt, viết
nhanh, làm tính giỏi nhng chữ viết xấu, trình bày bài không sạch sẽ, rõ ràng thì không thể trở
thành một học sinh giỏi toàn diện đợc. Vì vậy việc rèn chữ là một trong những công việc có
tầm quan trọng đặc biệt ở Tiểu học, nhất là học sinh lớp 2, một lớp nối tiếp của lớp đầu cấp
tiểu học .
Ngoài ra, việc rèn chữ còn góp phần tích cực vào việc rèn luyện cho học sinh những
phẩm chất đạo đức tốt nh rèn tính cẩn thận, tinh thần kỉ luật và óc thẩm mĩ.
Chính vì thấy đợc tầm quan trọng của việc rèn chữ, tôi đã đi sâu tìm hiểu, học hỏi và
nghiên cứu tìm ra những yếu tố, biện pháp giúp học sinh viết chữ đẹp, giữ vở sạch sẽ ngay từ
buổi đầu tôi nhận lớp nhằm mục đích mong các em trở thành những con ngời phảt triển toàn
diện và thực sự có ích cho đất nớc sau này .
2. Xác định đối tợng, phạm vi và mục đích nghiên cứu.
a. Đối tợng nghiên cứu.
- Học sinh lớp 2A
1
Trờng tiểu học Nghĩa Đô - Quận Cầu Giấy Thành phố Hà
Nội.
b. Phạm vi nghiên cứu
- Ngay từ đầu năm học, khi tôi nhận lớp, tôi đã chú ý tìm hiểu tình hình của lớp và nhận
thấy chất lợng của việc rèn chữ của học sinh sau ba tháng hè còn yếu. Chính vì thế mà tôi đã
chọn đề tài: Một số kinh nghiệm rèn viết chữ hoa cho học sinh lớp 2.
- Tuy nhiên, trong thực tế học sinh còn có nhiều mặt hạn chế và thiếu sót nhất định so
với yêu cầu chung đã đa ra.
- Hiểu đợc tầm quan trọng của việc rèn chữ và so sánh với thực trạng tình hình chữ viết
của lớp tôi, tôi rất băn khoăn và lo lắng, tìm ra một biện pháp giải quyết kịp thời trớc mắt và
rèn luyện lâu dài để hớng dẫn các em viết đúng, đẹp và giữ vở đợc sạch sẽ .
3. Mục đích nghiên cứu.
Qua đề tài này tôi mong muốn đợc góp một phần nhỏ vào việc nâng cao chất lợng dạy
và học của việc rèn chữ để tìm ra phơng pháp dạy học tốt và học sinh thực hành tốt bài viết
trong phân môn chính tả, tập viết và trong những môn học khác .
Phần II : Thuận lợi và khó khăn
1. Thuận lợi
- Trong những năm trở lại đây việc rèn chữ cho học sinh tiểu học đợc Bộ Giáo dục, Sở
Giáo dục, Phòng Giáo dục, đặc biệt là Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và các bậc phụ huynh
rất quan tâm. Chính vì thế mục tiêu rèn chữ cho học sinh lớp 2 đã đợc đặt lên hàng đầu .
- Mỗi giáo viên đã đợc trang bị bộ chữ dạy tập viết (chữ viết thờng, chữ viết nghiêng và
chữ viết hoa )
- Giáo viên đợc tham dự những chuyên đề về phân môn Tập Viết, phân môn Chính Tả
và các cuộc thi: Viết chữ đẹp, Triển lãm vở sạch chữ đẹp để học hỏi và trao đổi kinh
nghiệm .
- Hàng ngày, các em đều đợc luyện chữ trên bảng con, bảng lớp, vở ô ly, vở tập viết in

2. Khó khăn
- Chữ viết của học sinh không đồng đều, học sinh mắc những lỗi khác nhau.
- Thiếu sự quan tâm của cha mẹ học sinh .
Phần III: Biện pháp thực hiện
Nhiều năm dạy lớp 2, việc rèn cho học sinh viết cẩn thận, đúng và đẹp là điều mà tôi
luôn băn khoăn. Vì thế tôi đã suy nghĩ, học hỏi đồng nghiệp để đa ra những biện pháp giúp
học sinh viết chữ đẹp. Sau đây là một số những suy nghĩ và những việc mà tôi đã làm :
1. Những điều kiện về cơ sở vật chất:
- ánh sáng phòng học, bảng lớp, bàn ghế học sinh : ánh sáng đầy đủ, có bảng chống
loá, bàn ghế đúng kích cỡ, tiêu chuẩn đối với học sinh lớp 2.
- Đồ dùng học tập của học sinh : yêu cầu các em phải có bút chì để tô chữ mẫu của cô,
viết bút mực nét hoa của hãng Hỗng Hà.
Rồi cách chọn vở, cách chọn bảng và phấn viết cũng đợc tôi quan tâm đến. Tôi đã hớng
dẫn phụ huynh tìm mua những quyển vở có đờng kẻ in đều, rõ ràng và khi viết không bị nhoè
mực. Vở tập viết, vở chính tả có nhãn vở , có tờ lót tay khi viết để lau mồ hôi trong mùa hè,
mùa thu.
Trong buổi họp phụ huynh đầu năm tôi đã đa ra mẫu quyển vở, bút chì, bút mực để
phụ huynh tham khảo. Riêng bảng con, vở chính tả tôi thống nhất toàn lớp để tránh hiện tợng
bảng em này có ô to, bảng em kia có ô nhỏ hay vở chính tả thì có em viết vở 4 li, có em lại
viết vở 5 li sẽ gây khó khăn khi rèn chữ viết .

2. T thế ngồi và cách cầm bút:
- Để giúp học sinh viết đợc những nét chữ đúng mẫu, đẹp tôi đã hớng dẫn cả lớp t thế
ngồi viết.
+ Học sinh cần ngồi viết với t thế lng thẳng, không tì ngực vào bàn, đầu hơi cúi, mắt cách vở
khoảng 25 30 cm.
+ Nên cầm bút tay phải, tay trái tì nhẹ lên mép vở để trang viết không bị xê dịch.
+ Hai chân để song song, thoải mái.
- T thế ngồi viết không ngay ngắn sẽ ảnh hởng rất lớn đến chữ viết. Ngồi nghiêng, vẹo
sẽ dẫn đến chữ viết không thẳng, bị lệch dòng. Không những thế còn có hại cho sức khoẻ: Sẽ
bị cận thị nếu cúi sát vở, vẹo cột sống, gù lng, phổi bị ảnh hởng. Nếu ngồi viết không ngay
ngắn. Vì trẻ nhỏ t duy trực quan là chủ yếu nên để các em nhớ kĩ t thế ngồi viết và cách cầm
bút tôi đã treo ở lớp bức tranh Hớng dẫn t thế ngồi viết, đợc phóng to từ vở tập viết in và đ-
ợc tô màu để hấp dẫn các em .
- Một việc hết sức quan trọng là cách cầm bút.
+ Cầm bút bằng ba đầu ngón tay (ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa) với độ chắc vừa phải
(không cầm bút chặt quá hay lỏng quá).
+ Khi viết dùng ba ngón tay di chuyển bút nhẹ nhàng từ trái sang phải (Chú ý không nhấn
mạnh đầu bút xuống mặt giấy).
+ Cán bút nghiêng về bên phải, cổ tay, khuỷu tay và cánh tay cử động mềm mại và thoải mái.
Tôi lu ý các em cách cầm bút vừa phải.
- Còn vở viết cũng nên đặt hơi nghiêng sang phải để viết đợc dễ dàng và thuận lợi hơn.
Trớc khi viết bài tôi cũng luôn hỏi các em t thế ngồi viết, cách cầm bút và cách đặt vở. Những
yếu tố tởng chừng nh không quan trọng ấy nhng thực chất đã góp phần tích cực vào việc rèn
chữ cho học sinh .
3. Rèn kĩ năng viết cho học sinh
a/ Trớc tiên trong phân môn tập viết giáo viên cần hớng dẫn học sinh nhớ các đờng kẻ trong
bảng con và trong vở tập viết.
- Đờng kẻ ngang thứ 6.
- Đờng kẻ ngang thứ 5.
- Đờng kẻ ngang thứ 4.
- Đờng kẻ ngang thứ 3.
- Đờng kẻ ngang thứ 2.
- Đờng kẻ ngang thứ 1.
* Vở tập viết (vở in và vở ô li)
- Học sinh lớp 2 đợc viết toàn bộ bảng chữ cái gồm 29 chữ cái kiểu 1 và 5 chữ cái kiểu 2, cụ
thể :
+ 26 chữ cái viết hoa (kiểu 1 và 2) đợc dạy trong 26 tuần.
+ 8 chữ cái viết hoa (kiểu 1), mỗi tuần 1 tiết, mỗi tiết dạy 2 chữ cái viết hoa có hình dạng gần
giống nhau.
Ví dụ :
+ Cuối năm học (tuần 34) có 1 tiết ôn tập các chữ hoa kiểu 2. Riêng 4 tuần ôn tập. SGK không
ấn định nội dung tiết dạy tập viết trên lớp nhng nội dung tiết ôn tập vẫn có để cho học sinh có
cơ hội rèn kĩ năng viết chữ.
b/ Giúp học sinh nắm chắc cách viết các nét chữ cơ bản trong các chữ hoa (ở lớp 2 chủ yếu
là học viết chữ hoa)
* Viết hoa là một nội dung chính tả rất quan trọng của chữ viết Tiếng Việt. Viết hoa cần
tuân theo những quy tắc hiện hành chứ không thể tuỳ tiện.
- Chiều cao của các chữ cái viết hoa là 2,5 đơn vị, riêng 2 chữ cái viết hoa Y, G đợc viết với
chiều cao 4 đơn vị. Ngoài 29 chữ hoa kiểu 1 còn có 5 chữ hoa kiểu 2 để sau khi học các em có
quyền lựa chọn và sử dụng.
- Mỗi chữ cái viết hoa thờng có những nét cong, nét lợn, tạo dáng thẩm mĩ của chữ cái, đảm
bảo cách viết liền nét và hạn chế số lần nhấc bút. Vì vậy, so với chữ cái viết thờng, các nét cơ
bản của chữ cái viết hoa thờng có biến điệu.
Ví dụ :
+ Chữ cái O đợc viết bởi nét cong kín nhng phần cuối nét lại lợn vào trong (biến điệu)
+ Nét thẳng ngang ở các chữ cái A, Ă, Â khi viết phải tạo ra biến điệu lợn hai đầu
giống nh làn sóng
- Mẫu chữ cái viết hoa có nhiều nét cong, nét lợn tạo dáng thẩm mĩ của hình chữ cái. Do vậy,
các nét cơ bản ở chữ cái viết hoa thờng có biến điệu, không thuần tuý nh các chữ cái viết th-
ờng.
- Nét cơ bản trong bảng chữ cái viết hoa chỉ có 4 loại (không có nét hất) : nét thẳng, nét cong,
nét móc, nét khuyết.
- Đối với một số nét phụ (ghi dấu phụ của con chữ) cách gọi tơng tự nh ở chữ cái viết thờng :
+ Nét gẫy (trên đầu các chữ cái hoa Â, Ê, Ô) tạo bởi 2 nét thẳng xiên ngắn (trái phải)
dấu mũ.
+ Nét cong dới nhỏ (đầu chữ cái Ă hoa) dấu á.
+ Nét râu (ở các chữ cái hoa Ơ, Ư) dấu ơ, dấu .
* Khi dạy viết ứng dụng các chữ ghi tiếng có chữ cái viết đứng đầu (tên riêng, chữ viết hoa
đầu câu) GV cần hớng dẫn học sinh cách viết tạo sự liên kết (bằng nối nét hoặc để khoảng
cách hợp lí) giữa chữ cái viết hoa và chữ cái viết thờng trong chữ ghi tiếng (chữ viết hoa) cụ
thể :
- 17 chữ cái viết hoa A, Ă, Â, G, H, K, L, M, Q, R, U, Ư, Y (kiểu 1) A, M, N, Q (kiểu 2)
có điểm dừng bút hớng tới chữ cái viết thờng kế tiếp, khi viết cần tạo sự liên kết bằng cách
thực hiện việc nối nét. Ví dụ :
- 17 chữ cái viết hoa B, C, D, Đ, E, Ê, I, N, O, Ô, Ơ, P, S, T, V, X (kiểu 1), V (kiểu 2) có
điểm dừng bút không hớng tới chữ cái viết thờng kế tiếp, khi viết cần căn cứ vào trờng hợp cụ
thể để tạo sự liên kết bằng cách viết chạm nét đầu của chữ cái viết thờng vào nét chữ cái viết
hoa đứng trớc, hoặc để khoảng cách ngắn (bằng 1/2 khoảng cách giữa hai chữ cái viết thờng)
giữa chữ cái viết thờng với chữ cái viết hoa. Ví dụ :
- Trong thực tế viết chữ, khi gặp các chữ cái viết hoa không có điểm dừng bút hớng tới chữ cái
viết thờng kế tiếp, ta có thể tạo thêm nét phụ(nét hất) để nấp khoảng cách, liên kết chữ và tạo
đà lia bút.
Ví dụ :
Hoặc điều chỉnh nét cơ bản của chữ cái sao cho phù hợp với sự liên kết và thực hiện đợc việc
nối chữ. Ví dụ : (điều chỉnh nét thẳng xiên ở chữ cái r)
* Dựa vào li trong vở tập viết để mô tả độ cao của chữ cái :
- Mô tả độ cao của chữ A cỡ vừa cao 5 li (cỡ nhỏ 2,5 li). Chữ G cỡ vừa cao 8 li (cỡ nhỏ 4 li)
- Nhận xét độ cao các chữ cái trong câu ứng dụng Bạn bè sum họp : Các chữ B (hoa), b (th-
ờng), h cao mấy li? Chữ p cao mấy li? Chữ cái nào viết cao hơn 1 li một chút? Những chữ còn
lại a, n, e, u, m, o cao mấy li?
* Dựa vào dòng kẻ để mô tả quy trình chữ viết:
Ví dụ : Viết chữ K (hoa): Trớc hết cho học sinh so sánh chữ I và chữ K sau đó mới mô tả.
- Nét 1 : Đặt bút trên ĐK5, viết nét cong trái rồi lợn ngang (giống nét đầu của chữ I)
- Nét 2 : Từ điểm dừng bút của nét 1, hơi lợn xuống để viết nét móc ngợc trái, khi chạm ĐK1
thì lợn cong lên rồi uốn vào trong, dừng bút trên ĐK2 giống nét móc của chữ I (hoa) những
chân móc hẹp hơn (bằng độ rộng của nét 1).
- Nét 3 : Từ điểm dừng bút của nét 2, lia bút lên ĐK5 để viết nét móc xuôi phải, đến khoảng
giữa thân chữ thì lợn vào trong và tạo vòng xoắn nhỏ lồng vào thân nét móc (nét 2) rồi viết
tiếp nét ngợc phải, dừng bút ở ĐK2.
* Rê bút và lia bút:
- Rê bút : Nhấc nhẹ đầu bút nhng vẫn chạm vào mặt giấy theo đờng nét viết trớc hoặc tạo ra
vệt mờ để sau đó có nét viết khác đè lên. (Ví dụ : Từ chữ M sang chữ i trong từ ứng dụng :
Miệng nói tay làm)
- Lia bút : Chuyển dich đầu bút từ điểm dừng này sang điểm đặt bút khác, không chạm vào
mặt giấy.
Ví dụ :
Từ chữ L sang chữ a trong từ ứng dụng Lá lành đùm lá rách hoặc từ chữ Đ sang chữ e
trong từ Đẹp trờng đẹp lớp
+ Ví dụ : Hớng dẫn viết chữ Q (hoa) :
- Nét 1 : Đặt bút trên ĐK6, đa bút sang trái viết nét cong kín, phần cuối lợn vào trong bụng
chữ, đến ĐK4 thì lợn lên một chút rồi dừng bút nh chữ O (hoa).
- Nét 2: Từ điểm dừng bút của nét 1, lia bút xuống gần ĐK2 trong chữ O, viết nét lợn ngang từ
trong lòng chữ ra ngoài, dừng bút trên ĐK2.
c/ Phân loại chữ hoa theo nhóm.
- Để thuận tiện cho việc giảng dạy và học sinh dễ dàng hơn trong việc tập viết, tôi đã h-
ớng dẫn học sinh phân loại các chữ hoa theo các nhóm. Muốn làm đợc vậy thì khi dạy một
chữ mới tôi thờng phân tích cấu tạo, cách viết của các chữ hoa . Sau đó, yêu cầu học sinh xem
có giống nét nào của chữ hoa đã học.
Ví dụ :
Khi học chữ G(hoa) yêu cầu học sinh so sánh chữ C(hoa) và chữ G(hoa); Khi học chữ
Q(hoa) yêu cầu học sinh so sánh chữ O(hoa) và chữ Q(hoa); Khi học chữ K(hoa) yêu cầu học
sinh so sánh chữ I(hoa) và chữ K(hoa); xem có những nét nào giống nhau từ đó đa ra cách viết
chữ hoa mới .
- Tôi đã phân loại các chữ hoa theo các nhóm sau :
* Nhóm 1 : Gồm các chữ : U, Ư, Y, V (kiểu2), X, N (kiểu2), M (kiểu 2)
Khi viết các chữ hoa ở nhóm 1, cần tập trung luyện kĩ nét móc hai đầu (có biến điệu ở
các chữ X, N (kiểu2), M (kiểu 2)), điều khiển nét bút ở phần cong sao cho mềm mại, đúng
hình dạng của chữ mẫu.
* Nhóm 2 : Gồm các chữ : A, Ă, Â, N, M
Trọng tâm rèn luyện là nét móc ngợc (Có biến điệu ở chữ N, M). Chú ý đa bút đúng
quy trình (nét 1 viết từ dới lên), độ nghiêng hoặc lợn ở đầu nét móc và phần cong cuối nét móc
sao cho vừa phải, đúng mẫu.
* Nhóm 3 : Gồm các chữ : C, G, E, Ê, T
Các chữ hoa ở nhóm này chủ yếu đợc tạo bởi những nét cong và sự phối hợp hay biến
điệu của những nét cong. Vì vậy cần luyện cách điều khiển đầu bút để tạo đợc những nét cong
cho đúng mẫu. Trong nhóm này, hai chữ cái C, E tơng đối khó viết, cần đợc luyện tập nhiều
cho thành thạo, tạo đợc dáng chữ mềm mại và đẹp.
* Nhóm 4 : Gồm các chữ : P, R, B, D, Đ, I, K, H, S, L, V
Hầu hết các chữ này đều có nét cơ bản đợc biến điệu hoặc có sự kết hợp hài hoà các nét
cơ bản trong một nét viết. Ví dụ : Chữ H hoa cỡ vừa cao 5 li đợc viết bởi 3 nét:
- Nét 1: Kết hợp của 2 nét cơ bản cong trái và lợn ngang.
- Nét 2 : Kết hợp của 3 nét cơ bản nét khuyết ngợc, khuyết xuôi và móc ngợc phải.
- Nét 3: Nét thẳng đứng (giữa đoạn nối của 2 nét khuyết)
Việc luyện tập có thể từ nét thẳng đứng sang nét móc ngợc trái có biến điệu (giống nh
nét 1 ở chữ hoa P, R, B) Các nét cong có biến điệu hoặc sự kết hợp các nét cơ bản trong một
nét viết sẽ đợc luyện tập ở từng chữ hoa cụ thể. Ví dụ : nét 2 ở chữ P và chữ H

* Nhóm 5 : Gồm các chữ : O, Ô, Ơ, Q, A (kiểu 2), Q (kiểu2)
Các chữ này đợc viết bởi 1 hoặc 2 nét nhng có nét đòi hỏi viết liền mạch và điều khiển
bút theo nhiều hớng. Cũng nh luyện chữ o thờng, chữ O hoa cần đợc luyện nhiều để tạo dáng
đều đặn, cân đối, đúng mẫu. Viết đẹp chữ O hoa sẽ dễ dàng viết đẹp các chữ cái còn lại trong
nhóm.
d/ Đối với việc giữ vở:
- Học sinh lớp 2, khi mới viết vở chữ viết và vở rất bẩn chính vì vậy giáo viên cần kết
hợp với phụ huynh để làm những việc sau :
+ Muốn giữ vở không bị quăn mép giáo viên có thể chuẩn bị cho học sinh những tấm
bìa lót để kê tay và kê vở .
+ Không cầm bút quá gần vào ngòi bút .
+ Khi viết xong tránh chạm tay vào chữ sẽ gây nhoè vở.
+ Bơm mực xong phải lau sạch bút.
e/ Chấm và chữa bài tập viết :
Việc chấm bài của học sinh trong vở Tập Viết thờng phải căn cứ vào mục đích, yêu cầu
đặt ra cho từng bài học theo chơng trình quy định. Qua việc chấm bài, GV cần giúp cho học
sinh tự nhận thức đợc u điểm để phát huy, thấy rõ những thiếu sót để khắc phục, sửa chữa, kịp
thời động viên đợc những cố gắng, nỗ lực của từng học sinh khi viết.
Cách chấm bài Tập Viết của học sinh về cơ bản tơng tự nh chấm bài chính tả. Điểm
khác là :Sau khi gạch dới những chữ học sinh viết sai hoặc không đúng mẫu, GV có thể viết
mẫu chữ đó ra lề vở cho học sinh đối chiếu, so sánh, tự rút ra những chỗ cha đợc để khắc
phục.
Bên cạnh việc ghi điểm, GV cũng cần ghi lời nhận xét ngắn gọn thể hiện sự biểu dơng
hay góp ý, yêu cầu về chữ viết đối với học sinh.
f/ Đối với giáo viên :
- Trong quá trình dạy giáo viên phải luôn luôn luyện chữ.
+ Giáo viên có thể sử dụng vở ô li để luyện viết. Nên dùng vở kẻ ô vuông để xác định
chiều cao và bề rộng của chữ cái cho đúng tỉ lệ. Giáo viên có thể thực hiện luyện viết từ dễ đến
khó theo từng nhóm chữ.
+ Sử dụng vở luyện viết chữ đẹp có in sẵn các chữ mẫu nh : Viết nét thanh, nét đậm,
viết chữ thẳng nét đều, chữ nghiêngđể luyện viết cho đúng và đẹp. Thực hiện từng thao tác
cơ bản đã hớng dẫn trong vở giúp giáo viên nắm chắc đợc hình dạng, quy trình viết chữ hoa
theo mẫu, kĩ năng viết chữ sẽ ngày càng trở nên thành thạo, góp phần nâng cao chất lợng dạy
học phân môn Tập Viết cho học sinh.
+ Luyện viết bảng GV cần chú ý đến cách cầm phấn và cách điều khiển viên phấn cho
phù hợp .
- Đòi hỏi đầu tiên đối với ngời giáo viên theo tôi đó là sự tận tâm, nhiệt tình và yêu th-
ơng học sinh .
- Thờng xuyên rèn luyện để có chữ viết mẫu chuẩn, đẹp (vì t duy của trẻ chủ yếu là trực
quan và rất thích bắt chớc theo cô giáo của mình)
- Chuẩn bị đồ dùng dạy học một cách cẩn thận có chọn lọc và sáng tạo.
- Giáo viên cần kết hợp việc giảng giải, phân tích, viết mẫu với việc luyện chữ viết và
giữ vở cho học sinh. Dạy xong nội dung của bài cho học sinh luyện viết ngay và có thể luyện
thêm với một nội dung tơng ứng (vào những tiết hớng dẫn học (luyện viết) hay những tiết
luyện chữ vào buổi chiều).
Ví dụ khi dạy xong tiết Tập Viết tuần 14, 15 bài chữ M, N (hoa) xong giáo viên có thể
viết mẫu bài: Mùa thu ở vùng cao của nhà văn Tô Hoài cho các em tô chữ mẫu chuẩn của
giáo viên. Sau đó giáo viên nhắc lại cách viết của con chữ hoa M, N khi viết vào vở ô li để cho
các em luyện chữ viết vào các giờ hớng dẫn học và tiết cuối buổi chiều.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét