là ngời cho vay. Với chức năng này ngân hàng đã mang lại lợi ích cho
tất cả các thành phần tham gia, đó là ngời gửi tiền thu đợc lợi từ vốn
tạm thời nhàn rỗi của mình thông qua khoản lãi tiền gửi; ngời đi vay sẽ
thoả mãn đợc nhu cầu vốn về kinh doanh, chi tiêu, thanh toán mà
không phải mất quá nhiều chi phí vào việc tìm kiếm nơi cung ứng vốn;
bản thân NHTM sẽ tìm kiềm đợc lợi nhuận từ chênh lệch giữa lãi suất
cho vay và lãi suất tiền gửi hoặc hoa hồng môi giới. Lợi nhuận này
chính là cơ sở để tồn tại và phát triển của NHTM ; đối với nền kinh tế
chức năng này có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trởng
kinh tế vì nó đáp ứng đợc nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình tái sản
xuất và mở rộng quy mô sản xuất. Với chức năng này ngân hàng đã
biến vốn nhàn rỗi không hoạt động thành vốn hoạt động, kích thích
quá trình luân chuyển vốn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh .
1.2.2. Chức năng làm trung gian thanh toán.
Ngân hàng là trung gian thanh toán khi nó thực hiện thanh toán
theo yêu cầu của khách hàng hoặc trích tiền từ tài khoản trung gian
của họ để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản
trung gian của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác
theo lệnh của họ.
Chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa quan trọng đối với
hoạt động kinh tế, nó đảm bảo thanh toán an toàn và góp phần tăng
nhanh tốc độ lu thông hàng hoá, tốc độ luân chuyển vốn và hiệu quả
của quá trình tái sản xuất xã hội. Đồng thời việc cung ứng một dịch vụ
thanh toán không dùng tiền mặt có chất lợng làm tăng uy tín cho ngân
hàng, do đó tạo điều kiện để thu hút nguồn vốn trung gian và nâng
cao vai trò của ngân hàng hơn với t cách là ngời thủ quỹ của xã hội.
1.2.3. chức năng làm thủ quỹ cho xã hội .
5
Thực hiện chức năng này NHTM nhận tiền gửi của công chúng,
các doanh nghiệp và các tổ chức, giữ tiền cho khách hàng của mình,
đáp ứng nhu cầu rút tiền và chi tiền của họ.
Chức năng này đã có ngay từ thời kỳ sơ khai của hoạt động
ngân hàng, chức năng này mang lại lợi ích cho cả khách hàng và ngân
hàng. Đối với khách hàng thông qua việc gửi tiền vào ngân hàng họ
không những đợc đảm bảo an toàn về tài sản mà còn thu đợc khoản
lợi tức từ ngân hàng. Đối với ngân hàng, chức năng này là cơ sở để
ngân hàng thực hiện chức năng trung gian thanh toán, đồng thời tạo
ra nguồn vốn chủ yếu cho NHTM để thực hiện chức năng trung gian
tín dụng.
2. Vốn- tầm quan trọng của vốn huy động đối với hoạt
động kinh doanh của NHTM .
2.1. Vốn của NHTM .
Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động
và tạo lập đợc để phục vụ cho hoạt động kinh doanh sinh lời của
mình.
Vốn của NHTM có những vai trò quan trọng. Đó là phòng chống
những rủi ro thanh khoản. Nếu vốn lớn nó quy định dự trữ sơ cấp (TM,
TGNH khác), dự trữ thứ cấp (tín phiếu, trái phiếu) giúp tăng khả năng
vay vốn của các NHTM khác. Và khi vốn càng lớn càng đợc sự hỗ trợ
của cơ quan quản lý của NHNN,
Vốn của NHTM mang tính sinh lợi. Vốn càng lớn thì càng thuận
lợi trong công việc đầu t đó là hiệu quả kinh tế nhờ quy mô. Quy mô
lớn thì chi phí giảm và làm cho lợi nhuận tăng lên đồng thời có thể mở
rộng chi nhánh ở nhiều nơi, tránh đợc rủi ro chu kỳ kinh tế. Ngân hàng
nào có vốn lớn có thể đầu t vào tài sản cố định, nâng cao cơ sở vật
chất kỹ thuật.
6
Ngoài những vai trò quan trọng trên vốn của ngân hàng còn
quyết định đến khả năng cạnh tranh của NHTM. nó ảnh hởng đến chi
phí, khi vốn nhiều thì ngân hàng có thể cho vay nhiều làm cho chi phí
giảm dẫn đến lãi suất giảm, ngân hàng có thể phát triển đa dạng
những hình thức cho vay nên có thể giảm rủi ro. Chất lợng dịch vụ của
mỗi ngân hàng cũng phụ thuộc rất nhiều vào vốn của ngân hàng đó.
Vốn của ngân hàng đợc thể hiện dới các dạng: vốn huy động;
vốn uỷ thác; nguồn vốn chủ sở hữu.
2.1.1. Nguồn vốn chủ sở hữu:
Vốn chủ sở hữu ( vốn tự có ) của NHTM là những giá trị tiền tệ
mà ngân hàng tạo lập đợc nhng thuộc sở hữu của NHTM. Vốn tự có
gồm có những thành phần sau:
- Vốn góp của chủ sở hữu để thành lập hoặc mở rộng doanh
nghiệp
- Lợi nhuận tạo ra từ hoạt động kinh doanh cha sử dụng .
- Các quỹ dự trữ hình thành trong quá trình hoạt động kinh
doanh của ngân hàng (quỹ đầu t phát triển, quỹ dự phòng tài chính, )
- Các khoản nợ đợc coi nh vốn.
Khoản vốn này chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn
của NHTM song nó có vai trò tạo lập và đáp ứng các yêu cầu của cơ
quan quản lý pháp luật đảm bảo có khoản tiền tạo lập trớc khi huy
động và thực hiện cho vay lần đầu tiên. Vốn tự có là tấm đệm tự vệ
cho ngân hàng. Ngân hàng trung ơng quy định mức vốn tự có cho
NHTM lớn hơn hoặc bằng 8% trên tổng tái sản có rủi ro quy đổi, điều
này muốn nói lên rằng chức năng chủ yếu của khối lợng giới hạn vốn
chủ sở hữu đợc xem nh là tài sản bảo vệ cho những ngời gửi tiền. Nó
đảm bảo thanh toán cho ngời gửi tiền khi ngân hàng vỡ nợ, khi ngân
hàng tổn thất tín dụng phải khấu trừ từ vốn tự có. Ngoài việc làm nền
7
tảng cho các hoạt động và để bảo vệ ngời gửi tiền vốn tự có còn có
chức năng điều chỉnh mọi hoạt động kinh doanh sinh lời của ngân
hàng. Dựa trên mức vốn tự có của ngân hàng, các cơ quan quản lý
xác định, điều chỉnh hoạt động cho ngân hàng ví dụ nh NHTM chỉ có
thể cho vay lớn nhất đối với một khách hàng không quá 15% vốn tự có
của ngân hàng, nếu cho vay quá sẽ ảnh hởng đến hoạt động của toàn
ngân hàng. Vốn tự có tạo niềm tin với những ngời gửi tiền và cho ngân
hàng vay (tính tơng hợp của vốn ), nó tạo điều kiện cho ngân hàng
đầu t vào các tái sản để tạo ra lợi nhuận, đầu t vào tài sản cố định với
điều kiện : tổng tài sản cố định nhỏ hơn hoặc bằng 50% vốn tự có.
2.1.2. Nguồn vốn huy động.
Đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong ngân hàng. Nó
là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động đợc từ các tổ chức
kinh tế và các cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện các
nghiệp vụ ký thác, các nghiệp vụ khác và đợc dùng làm vốn để kinh
doanh.
Bản chất của vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác
nhau, ngân hàng chỉ có quyền mà không có quyền sở hữu và có trách
nhiệm hoàn trả đúng hạn cả gốc lẫn lãi khi đến kỳ hạn (nếu là tiền gửi
có kỳ hạn) hoặc khi khách hàng có nhu cầu rút vốn ( nếu là tiền gửi
không kỳ hạn). Vốn huy động đóng vai trò quan trọng đối với hoạt
động kinh doanh của ngân hàng. NHTM huy động vốn dới các hình
thức: nhận tiền gửi ( tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi
tiết kiệm); phát hành các công cụ nợ (tín phiếu, trái phiếu); và nguồn
vốn đi vay. Ngoài ra vốn của ngân hàng còn đợc hình thành thông qua
việc làm uỷ thác, đại lý cho các tổ chức trong và ngoài nớc hoặc cung
cấp các phơng tiện thanh toán nh thẻ rút tiền tự động từ máy ATM
8
Nhìn chung nguồn vốn của ngân hàng đợc hình thành từ nhiều
nguồn khác nhau nhng trong đó nguồn vốn huy động từ tiền gửi chiếm
tỷ trọng lớn nhất, chiếm khoảng từ 70-80% và nó có tính biến động
nhất là đối với loại tiền gửi không kỳ hạn và vốn ngắn hạn, hơn nữa
vốn huy động chịu tác động lớn của thị trờng và môi trờng kinh doanh
trên địa bàn hoạt động. Vì vậy NHTM cần phải đi sâu tìm hiểu, phân
tích nguồn hình thành vốn này, dự đoán trớc tình hình cung cầu vốn để
có đối sách phù hợp.
2.2. Vốn huy động và vai trò của nó đối với NHTM .
Vai trò đầu tiên của vốn huy động là nó quyết định quy mô hoạt
động và quy mô tín dụng của ngân hàng. Thông thờng nếu so với các
ngân hàng lớn thì các ngân hàng nhỏ có khoản mục đầu t và cho vay
kém đa dạng hơn, phạm vi và khối lợng cho vay của các ngân hàng
này cũng nhỏ hơn. Trong khi các ngân hàng lớn cho vay đợc ở thị tr-
ờng trong nớc và nớc ngoài thì các ngân hàng nhỏ lại bị giới hạn trong
phạm vi hẹp, mà chủ yếu trong cộng đồng. Mặt khác do khả năng vốn
hạn hẹp nên ngân hàng nhỏ không có phản ứng nhạy bén đợc với sự
biến động về chính sách, gây ảnh hởng đến khả năng thu hút vốn đầu
t từ các tầng lớp dân c và các thành phần kinh tế .
Thứ hai là vốn huy động quyết định đến khả năng thanh toán và
đảm bảo uy tín của các ngân hàng trên thị trờng trong nền kinh tế. Để
tồn tại và ngày càng mở rộng quy mô hoạt động, đòi hỏi ngân hàng
phải có uy tín trên thị trờng là điều trọng yếu. Uy tín đó trớc hết phải đ-
ợc thể hiện ở khả năng sẵn sàng thanh toán chi trả cho khách hàng.
Khả năng thanh toán của ngân hàng càng cao thì vốn khả dụng của
ngân hàng càng lớn, đồng thời nó tạo cho hoạt động kinh doanh của
ngân hàng với quy mô lớn, tiến hành các hoạt động cạnh tranh có
9
hiệu quả, đảm bảo uy tín, nâng cao thanh thế của ngân hàng trên thị
trờng.
2.3. Các hình thức huy động vốn của NHTM
2.3.1. Huy động vốn từ tài khoản tiền gửi.
Tiền gửi không kỳ hạn: là khoản tiền mà khách hàng gửi vào và có
quyền rút ra bất cứ lúc nào và ngân hàng có trách nhiệm đáp ứng nhu
cầu đó.
Khoản tiền này ngân hàng không chủ động sử dụng và ngân
hàng phải dự trữ một số tiền nhất định để đảm bảo thanh toán ngay
khi khách hàng có nhu cầu.
Tiền gửi thanh toán : Đây là khoản tiền khách hàng gửi vào để
thực hiện các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng và họ có thể rút ra
bất kỳ lúc nào thông qua các công cụ thanh toán hoặc séc, thẻ thanh
toán, uỷ nhiệm chi, nhng ngân hàng vẫn có thể tận dụng nguồn vốn
này do có sự chênh lệch từ số rút ra và số gửi vào.
Tiền gửi có kỳ hạn :
Là tiền gửi của khách hàng gửi vào ngân hàng trong đó có sự
thoả thuận giữa ngân hàng và khách hàng về thời gian rút tiền. Khách
hàng đợc phép rút tiền trớc hạn, trên thực tế có thể rút trớc hạn nhng
sẽ tính lãi suất không kỳ hạn.
Đây là khoản tiền mang tính ổn định cao do đó ngân hàng có
thể chủ động sử dụng số tiền gửi đó vào mục đích của mình. Cũng
chính vì thế mà lãi suất của loại tiền gửi này cao hơn lãi suất của loại
tiền gửi không kỳ hạn.
Có nhiều kỳ hạn gửi tiền cho khách hàng lựa chọn, loại thời hạn
từ 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng
Tiền gửi tiết kiệm.
10
Là loại tiền gửi mà khách hàng gửi vào ngân hàng nhằm hởng
lãi. Khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng cấp cho khách
hàng một cuốn sổ, khách hàng phải quản lý và mang theo mỗi khi đến
ngân hàng giao dịch.
Xét về bản chất, tài khoản gửi tiết kiệm là một phần thu nhập
của cá nhân ngời lao động mà họ cha đa vào tiêu dùng, và là một
dạng đặc biệt để tích luỹ tiền tệ thay cho hình thức cất giữ vàng, hàng
hoá.
Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: là khoản tiền có thể rút ra bất cứ
lúc nào, song không đợc sử dụng các công cụ thanh toán để chi trả
cho ngời khác. Số d tiền gửi này không lớn, nhng ít biến động, vì vậy
đối với loại tiền gửi này các NHTM thờng trả lãi suất cao hơn với tiền
gửi thanh toán.
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: là khoản tiền gửi có sự thoả thuận về
thời gian gửi và rút tiền, có mức lãi suất cao hơn so với tiền gửi không
kỳ hạn. Loại hình tiết kiệm này khá quen thuộc ở Việt nam, các NHTM
Việt nam thờng huy động vốn tiết kiệm có thời hạn phong phú từ 3
tháng đến 1 năm.
2.3.2 Huy động vốn bằng phát hành giấy tờ có giá.
Giấy tờ có giá mà NHTM dùng để huy động vốn thực chất là
các giấy tờ nhận nợ mà ngân hàng trao cho những ngời cho ngân
hàng vay tiền xác nhận quyền đòi nợ quyền đòi nợ của khách hàng
đối với ngân hàng ở một mức lãi suất và ngày hoàn trả nhất định.
Việc phát hành giấy tờ có giá của ngân hàng để hình thành vốn
sử dụng có tính ổn định cao, đồng thời nhằm giải quyết các khoản vốn
thiếu hụt có tính tình thế do khả năng thu hút bằng nguồn tiết kiệm
hạn chế. Ngân hàng thờng sử dụng các loại giấy tờ có giá dới các hình
thức:
11
a. Phát hành trái phiếu:
Là một cam kết xác định nghĩa vụ trả nợ ( cả gốc lẫn lãi ) của
ngân hàng phát hành đối với ngời chủ sở hữu trái phiếu. Mục đích của
ngân hàng khi phát hành trái phiếu là nhằm huy động vốn trung gian
và dài hạn. Việc phát hành trái phiếu, các NHTM chịu sự quản lý của
ngân hàng trung ơng, của các cơ quan quản lý trên thị trờng chứng
khoán và có thể bị chi phối bởi uy tín của ngân hàng.
b. Phát hành chứng chỉ tiền gửi :
Nó là những giấy tờ xác nhận tiền gửi định kỳ ở một ngân hàng.
Ngời sở hữu giấy này sẽ đợc thanh toán tiền lãi theo kỳ và nhận đủ
vốn khi đến hạn. Chứng chỉ sau khi phát hành đợc lu thông trên thị tr-
ờng tiền tệ.
c. Phát hành kỳ phiếu:
Đây là loại giấy tờ có giá ngắn hạn ( trong 1 năm ). Nó có đặc
điểm giống nh trái phiếu nhng có thời hạn đáo hạn ngắn hơn trái phiếu
vì vậy nó đợc sử dụng cho mục đích huy động vốn ngắn hạn của ngân
hàng.
3. Nội dung cơ bản của nghiệp vụ kế toán huy động vốn
3.1 Vai trò của kế toán ngân hàng và nghiệp vụ kế toán huy động
vốn.
Với bản chất, chức năng của mình thì ở bất cứ nền sản xuất nào
kế toán cũng là một công cụ quan trọng để ghi chép, phản ánh, đo l-
ờng, thông tin và kiểm tra quá trình sản xuất và tái sản xuất trong toàn
xã hội.
Đối với ngân hàng, kế toán là một công cụ quan trọng để quản
lý kinh tế tài chính ở mỗi đơn vị ngân hàng. Nội dung công việc của kế
toán ngân hàng là ghi chép, phân loại, tổng hợp và xử lý các nghiệp
vụ có liên quan đến hoạt động kinh tế, tài chính của ngân hàng nhằm
12
cung cấp thông tin kế toán nhằm phục vụ yêu cầu kiểm tra điều hành
và quản lý kinh doanh, đánh giá hoạt động của ngân hàng.
Là bộ phận cấu thành trong hệ thống kế toán của nền kinh tế
quốc dân, kế toán ngân hàng cũng phát huy đầy đủ vai trò kế toán nói
chung; đồng thời phát huy vai trò trong việc phục vụ lãnh đạo, chỉ đạo
điều hành hoạt động ngân hàng :
Thứ nhất: cung cấp thông tin về hoạt động tiền tệ tín dụng,
thanh toán, kết quả tài chính phục vụ chỉ đạo điều hành quản trị điều
hành các mặt hoạt động nghiệp vụ đạt hiệu quả cao và phục vụ các
bên quan tâm đến hoạt động ngân hàng.
Thứ hai: bảo vệ an toàn tài sản tại đơn vị. Do tổ chức ghi chép
một cách khoa học, đầy đủ, chính xác toàn bộ tài sản hiện có cũng
nh sự vận động của chúng nên kế toán đã giúp cho các chủ ngân
hàng quản lý chặt chẽ tài sản của mình nhằm tránh thiếu hụt về mặt
số lợng và nâng cao hiệu quả trong quá trình sử dụng tài sản.
Thứ ba: quản lý hoạt động tài chính ngân hàng. Công tác kế
toán phản ánh đợc đầy đủ, chính xác các khoản thu nhập, chi phí, kết
quả kinh doanh ở từng đơn vị cũng nh toàn hệ thống ngân hàng, từ đó
giúp quản lý chặt chẽ hoạt động tài chính, tăng thu nhập, tiết kiệm chi
phí, kinh doanh có lãi, nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển cho mỗi
ngân hàng .
Thứ t: đáp ứng nhu cầu công tác thanh tra, kiểm soát, phân tích
hoạt động kinh doanh ngân hàng. Với chức năng tổ chức hạch toán
ban đầu và tạo nguồn thông tin nên kế toán ngân hàng là nới cung
cấp thông tin đầy đủ nhất, chính xác nhất phục vụ các loại hạch toán
khác, công tác thanh tra, kiểm soát, kiểm toán, phân tích hoạt động
kinh doanh ngân hàng.
13
Một trong các bộ phận của nghiệp vụ kế toán ngân hàng là kế
toán huy động vốn, kế toán huy động vốn cũng có những vai trò giống
nh của kế toán ngân hàng, nó đóng vai trò quan trọng trong hoạt động
kinh doanh của ngân hàng. Do đó kế toán huy động vốn là một công
cụ không thể thiếu trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp thơng mại.
3.2 Kế toán huy động vốn từ tài khoản tiền gửi.
3.2.1 Tài khoản sử dụng
3.2.1.1 Tài khoản tiền gửi của kho bạc Nhà n ớc.
Các tài khoản dùng để hạch toán các khoản tiền gửi của kho
bạc Nhà nớc tại NHTM quốc doanh gồm:
TK 401: tiền gửi của kho bạc Nhà nớc bằng VNĐ
TK 402: tiền gửi của kho bạc Nhà nớc bằng ngoại tệ.
Hai TK này chỉ sử dụng tại NHTM quốc doanh ( đợc NHNN chỉ
định) dùng để phản ánh tiền gửi bằng VNĐ và ngoại tệ của kho bạc
Nhà nớc. Nội dung hạch toán:
Bên Có ghi: số tiền kho bạc Nhà nớc gửi vào bằng VNĐ (ngoại
tệ).
Bên Nợ ghi: số tiền kho bạc Nhà nớc lấy ra bằng VNĐ (ngoại tệ)
Số d Có: phản ánh số tiền kho bạc Nhà nớc đang gửi tại TCTD.
Và hạch toán chi tiết: NHTM mở tài khoản theo từng đơn vị Nhà nớc
gửi tiền.
Đối với các khoản lãi của số tiền kho bạc Nhà nớc gửi tại NHTM
quốc doanh đợc hạch toán vào tài khoản 407 ( tiền lãi cộng dồn trên
các khoản nợ).TK này phản ánh số lãi cộng dồn ( dự trả) tính trên số
tiền gửi của kho bạc Nhà nớc mà NHTM phải trả.
Về hạch toán TK 407 phải đợc thực hiện theo quy định sau: việc
hạch toán trên TK tiền lãi cộng dồn ( dồn tích) NHTM dự trả tính trên
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét