Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

257068

nguyên tắc của Hồ Chí Minh. Không duy trì và phát triển được khối thống nhất
đó thì không thể có độc lập dân tộc, càng không thể nói đến việc tạo cơ sở tiền
đề để tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Để tiến lên chủ nghĩa xã hội đòi hỏi độc lập dân tộc phải đi đôi với tự
do hạnh phúc của nhân dân. Theo Hồ Chí Minh "nếu nước được độc lập mà
người dân không được hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập chẳng có ý nghĩa
gì".
1.2.2) Chủ nghĩa xã hội là con đường bảo vệ và phát triển thành quả của độc
lập dân tộc:
Độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội thể hiện mối quan hệ giữa
mục tiêu trước mắt và mục tiêu lâu dài. Theo lôgíc của sự phát triển, hai mục
tiêu ấy quan hệ chặt chẽ với nhau. Không thể đi đến mục tiêu cuối cùng nếu
không thực hiện được mục tiêu trước mắt. Chỉ thực hiện được mục tiêu cuối
cùng mới bảo vệ và phát triển được những thành quả của mục tiêu trước
mắt. Vì vậy, nếu độc lập dân tộc tạo cơ sở, tiền đề để đi lên chủ nghĩa xã hội
là con đường tốt nhất để giữ vững và phát triển lên một tầm cao mới - thành
quả của độc lập dân tộc.
Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hội là làm cho dân giàu, nước mạnh,
ai cũng có công ăn, việc làm, được ăn no, mặc ấm, được học hành, các dân
tộc trong nước bình đẳng đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau. Về mặt phân phối sản
phẩm lao động thì chủ nghĩa xã hội là ai làm nhiều hưởng nhiều, ai làm ít
hưởng ít, ai có sức lao động mà không làm thì không hưởng, những người già,
đau yếu, tàn tật và trẻ em thì xã hội và cộng đồng có trách nhiệm chăm sóc nuôi
dưỡng. Trong chủ nghĩa xã hội, văn hóa, khoa học kỹ thuật, chính trị và kinh tế,
đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được quan tâm và ngày một nâng
cao. Về mặt đối ngoại, chủ nghĩa xã hội là hòa bình, hữu nghị, làm bạn với tất
cả các nước. Chủ nghĩa xã hội với những đặc trưng đó không chỉ bảo vệ những
thành quả của độc lập dân tộc mà cơ bản tạo nên sự phát triển mới vế chất. Hồ
Chí Minh khẳng định chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới bảo
đảm cho một nền độc lập dân tộc chân chính, mới giải phóng các dân tộc
một cách thực sự, hoàn toàn.
Hồ Chí Minh cho rằng cách mạng, cả cách mạng giải phóng dân tộc
và cách mạng xã hội chủ nghĩa là việc khó, là cuộc đấu tranh gay go, ác liệt,
lâu dài. Giành độc lập dân tộc đã khó, xây dựng chủ nghĩa xã hội còn khó
khăn hơn. Hồ Chí Minh so sánh: thắng đế quốc phong kiến là tương đối dễ,
thắng bần cùng lạc hậu khó khăn hơn. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: "Đánh đổ
giai cấp địch đã khó, đấu tranh xây dựng chủ nghĩa xã hội còn gian khổ, khó
khăn hơn nhiều". Từ những khó khăn gian khổ ấy, Hồ Chí Minh luôn đòi hỏi
Đảng, Nhà nước và mỗi người dân phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội.
1.3) Sự thể hiện trên thực tế tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn
liền với chủ nghĩa xã hội:
Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã
hội xuất hiện từ năm 1920, khi Người bắt gặp chủ nghĩa Mác-Lênin, và nó
được thể hiện rõ nét từ năm 1930. Sự thể hiện tư tưởng của Người về độc lập
dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội có thể phân thành 3 thời kỳ chủ yếu.
+ Thời kỳ 1930 – 1945:
Tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí
Minh thời kỳ này thể hiện rõ trong những Văn kiện do Hồ Chí Minh soạn
thảo được Hội nghị hợp nhất thông qua. Chánh cương vắn tắt của Đảng chỉ
rõ Đảng chủ trương "làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng
để đi tới xã hội xã hội cộng sản". Hồ Chí Minh khẳng định sự nghiệp giải
phóng dân tộc ở Việt Nam được thực hiện bằng con đường cách mạng vô
sản: "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác
con đường cách mạng vô sản". Theo tư tưởng Hồ Chí Minh điều đó có ý
nghĩa là:
Đối tượng của cuộc đấu tranh là thực dân đế quốc và bọn tay sai
chống lại độc lập dân tộc.
Ở trong nước lực lượng cách mạng bao gồm công nông là gốc và tất
cả những ai có lòng yêu nước, thương nòi.
Về lực lượng cách mạng ngoài nước trong thời kỳ này, Hồ Chí Minh
nhấn mạnh sự ủng hộ của Quốc tế Cộng sản, Liên bang cộng hòa xã hội chủ
nghĩa xô viết, giai cấp công nhân và nhân dân lao động chính quốc, các dân
tộc thuộc địa và phụ thuộc.
Nhân tố quyết định thắng lợi của cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc
là sự lãnh đạo của Đảng theo chủ nghĩa Mác-Lênin.
+ Thời kỳ 1945 – 1954:
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở thời kỳ này được thể
hiện ở những chủ trương, đường lối chiến lược do Hồ Chí Minh khởi xướng
"vừa kháng chiến, vừa kiến quốc", "kháng chiến đi đôi với kiến quốc",
"kháng chiến hóa văn hóa, văn hóa hóa kháng chiến".
Kháng chiến tức là bảo vệ nền độc lập dân tộc, chống sự xâm lược lần thứ
hai của thực dân Pháp theo phương châm trường kỳ kháng chiến nhất định thắng
lợi.
Kiến quốc theo Hồ Chí Minh là xây dựng, củng cố Nhà nước dân chủ
nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, xây dựng đời sống mới, xây dựng những
cơ sở đầu tiên của chủ nghĩa xã hội.
+ Thời kỳ 1954 – 1969:
Ở thời kỳ này độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong tư
tưởng Hồ Chí Minh thể hiện qua chủ trương: một Đảng Cộng sản lãnh đạo
thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược ở hai miền: xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở miền Bắc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, tiến
tới thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đây là một
sáng tạo lý luận của Hồ Chí Minh.
Ngày 2-9-1969, Hồ Chí Minh qua đời. Theo chỉ dẫn của Người, nhân
dân ta đã đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào. Với chiến dịch lịch sử
mang tên Hồ Chí Minh, mục tiêu của thời kỳ này được hoàn thành vào ngày
30-4-1975.
1.4) Những điều kiện bảo đảm cho độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa
xã hội của cách mạng Việt Nam:
Thứ nhất, trong suốt quá trình cách mạng, sự lãnh đạo của Đảng phải
được giữ vững, củng cố và tăng cường. Xuất phát từ quan điểm xây dựng
chủ nghĩa xã hội là một nhiệm vụ khó khăn hơn đánh đổ đế quốc, phong
kiến, Hồ Chí Minh khẳng định trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội
Đảng phải mạnh hơn bao giờ hết.
Thứ hai, khối đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh công - nông -
trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng phải được củng cố và mở rộng. Hồ Chí
Minh luôn đòi hỏi Đảng, Nhà nước và mỗi người dân cần nêu cao trách
nhiệm trong việc làm cho "rừng cây đại đoàn kết ấy đã nở hoa kết trái và gốc
rễ nó đang ăn sâu lan rộng khắp toàn dân, và nó có một cái tương lai 'trường
xuân bất lão'".
Thứ ba, sự ủng hộ giúp đỡ của các lực lượng cách mạng, hòa bình,
dân chủ và tiến bộ trên thế giới được giữ vững và phát triển. Để làm được
việc đó, ngay từ 1947, Hồ Chí Minh đã nêu cao chủ trương: "Làm bạn với
tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai".
Ba nhân tố trên luôn được giữ vững và tăng cường, tác động qua lại, liên
quan chặt chẽ với nhau là điều kiện bảo đảm cho sự thắng lợi của mục tiêu độc
lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
1.5) Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và Chủ nghĩa Xã hội trong thời kỳ
đổi mới:
Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết thực hiện CNXH và CNXH là
cơ sở đảm bảo vững chắc cho độc lập dân tộc. Không giành được độc lập
dân tộc thì không có điều kiện để xây dựng CNXH. Độc lập dân tộc thật sự
đòi hỏi xóa bỏ áp bức, nô dịch của dân tộc này với dân tộc khác, gắn liền
độc lập dân tộc với tự do, bình đẳng, hạnh phúc của nhân dân, do đó chỉ có
thể gắn liền với sự phát triển xã hội XHCN. Chính nhờ sự kiên định nội
dung tư tưởng đó mà Đảng ta đã lãnh đạo dân tộc đi từ thắng lợi này đến
thắng lợi khác, viết nên một lịch sử Việt Nam anh hùng với những mốc son
chói lọi: Cách mạng Tháng 8 năm 1945, chiến thắng Điện Biên Phủ năm
1954, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước và đi lên xây dựng CNXH.
Tư tưởng đúng đắn, hợp quy luật, hợp lòng dân đó đã được Đảng quán triệt
xuyên suốt trong cả tiến trình cách mạng, đặc biệt là trong quá trình đổi mới.
Đại hội lần thứ VI (12-1986) của Đảng mở đầu thời kỳ đổi mới đất
nước đã khẳng định: "Toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đoàn kết một lòng,
quyết tâm đem hết tinh thần và lực lượng tiếp tục thực hiện 2 nhiệm vụ
chiến lược, xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt
Nam XHCN". Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
CNXH được thông qua tại Đại hội Đảng lần thứ VII tiếp tục nhấn mạnh:
"Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH. Đó là bài học xuyên suốt
quá trình cách mạng nước ta".
Tiếp tục dòng chảy xuyên suốt và thống nhất đó, Báo cáo chính trị
được thông qua tại Đại hội Đảng lần thứ VIII xác định bài học quan trọng
đầu tiên đối với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới là: "Giữ vững mục
tiêu độc lập dân tộc và CNXH trong quá trình đổi mới; nắm vững hai nhiệm
vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin
và Tư tưởng Hồ Chí Minh".
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (4-2001) - Đại hội đầu tiên của thế
kỷ XXI, đại hội của dân chủ, trí tuệ, đoàn kết và đổi mới đã tiếp tục khẳng
định: "Trong quá trình đổi mới, phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và
CNXH trên nền tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí
Minh". Như vậy, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH trên thực tế
đã trở thành dòng chủ lưu, là tư tưởng xuyên suốt, được quán triệt và đề cao
trong sự nghiệp đổi mới mà toàn dân ta đang tiến hành.
Chính nhờ sự kiên định đầy quyết tâm đó cùng với sự lãnh đạo tài tình
của Đảng mà nhân dân ta đã đứng vững và tiếp tục kiên trì mục tiêu CNXH
trong khi Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu đã lâm vào thoái trào, tan
rã; tạo cơ sở khẳng định vị thế và sức mạnh của cách mạng Việt Nam trên
trường quốc tế. Niềm tin đối với Đảng trong lòng nhân dân ngày càng được
củng cố, tăng cường, tạo đà cho sự phát triển mạnh hơn, cao hơn, triệt để
hơn của thời kỳ CNH-HĐH.
Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, trước tình trạng nhiều vấn đề xã
hội bức xúc và gay gắt chưa được giải quyết tốt như nạn thiếu việc làm, sự
phát triển của tệ nạn xã hội, sự khó khăn về đời sống của một bộ phận nhân
dân, bốn nguy cơ mà Đảng ta đã cảnh báo là nguy cơ chệch hướng XHCN,
tụt hậu xa hơn về kinh tế, "diễn biến hòa bình" và tệ quan liêu tham nhũng
của một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức vẫn tồn tại và diễn biến phức
tạp thì việc giữ vững định hướng, mục tiêu XHCN càng trở nên quan trọng
hơn bao giờ hết.
Suốt 80 năm chiến đấu và trưởng thành, Đảng ta đã hoàn thành được
một phần sứ mệnh lịch sử: đất nước độc lập, thống nhất, đi lên CNXH. Song
con đường phía trước không hoàn toàn bằng phẳng, trơn tru. Sự đan xen sâu
sắc giữa những thời cơ và thách thức mà thời đại đặt ra, buộc dân tộc ta,
Đảng ta và bản thân mỗi người dân Việt Nam chúng ta phải "lớn" hơn ngày
hôm qua. Trên bệ phóng của những thành công rực rỡ mà cha ông đã xây
dựng, thế hệ trẻ Việt Nam khát khao được là người kế nghiệp xứng đáng. Để
khát khao ấy được thắp sáng, điểm xuất phát trước hết phải là sự trung thành
đối với Tổ quốc, với lý tưởng của Đảng và của nhân dân, kiên định lập
trường cách mạng, thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí
Minh trong điều kiện mới, đặc biệt là nhất quyết thực hiện sứ mệnh: bảo vệ
vững chắc độc lập, chủ quyền, xây dựng thành công CNXH.
2) Tư tưởng Hồ Chí Minh về tinh thần độc lập tự chủ, tự lực tự cường:
Lời kêu gọi trong dịp 1000 ngày kháng chiến 10/6/1948, Hồ Chủ tịch
căn dặn “Mỗi một người dân phải hiểu, có tự lập mới độc lập, có tự cường
mới tự do”. Như vậy muốn độc lập tự do phải tự lực tự cường. Tư tưởng tự
lực tự cường đã được thể hiện trong suốt quá trình hoạt động cách mạng của
Người. Từ việc ra đi tìm đường cứu nước, đến việc chọn con đường giải
phóng dân tộc, từ trong kháng chiến cũng như trong xây dựng chủ nghĩa xã
hội.
Thật vậy, trước tình cảnh đất nước bị ngoại xâm dày xéo, nhiều phong
trào yêu nước xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Phong trào Cần
Vương do Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết phát động, và sau đó là cuộc khởi
nghĩa Ba Đình của Phan Bành và Đinh Công Tráng; Bãi Sậy của Nguyễn
Thiện Thuật; Hương Khê của Phan Đình Phùng; cuộc khởi nghĩa nông dân
Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo… Tất cả đều bị thất bại, chứng tỏ sự
bất lực của hệ tư tưởng phong kiến trong việc giải quyết nhiệm vụ giành độc
lập dân tộc do lịch sử đặt ra. Đến Phan Bội Châu chủ trương dựa vào sự giúp
đỡ bên ngoài để đánh Pháp giành độc lập dân tộc, thiết lập một nhà nước
theo mô hình quân chủ lập hiến của Nhật. Với Hội Duy Tân, phong trào
Đông Du Phan Bội Châu chủ trương dựa vào Nhật để chống thực dân Pháp.
Phan Chu Trinh chủ trương dùng những cải cách văn hóa, mở mang dân trí,
phát triển kinh tế theo hướng tư bản chủ nghĩa trong khuôn khổ luật pháp,
làm cho dân giàu, nước mạnh từ đó buộc thực dân Pháp trao trả độc lập…
Do những hạn chế về lịch sử, về giai cấp nên các ông cũng như các sĩ phu
cấp tiến khác không thể tìm được phương hướng phù hợp để giải quyết
nhiệm vụ đấu tranh giải phóng dân tộc, nên sau một thời kỳ phát triển đã bị
kẻ thù dập tắt.
Hồ Chí Minh không đi theo con đường mòn của các bậc tiền bối.
Người đã chọn con đường sang các nước phương Tây, nơi có khoa học – kỹ
thuật phát triển và những tư tưởng dân chủ tự do, xem họ làm như thế nào để
trở về nước giúp đồng bào giài phóng dân tộc.
Từ thực tiễn gầm 10 năm bôn ba vạn dặm tìm đường cứu nước, Hồ
Chủ tịch đã tìm thấy trong Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc
địa của Lênin (7/1920) lời giải đáp đầy thuyết phục cho những câu hỏi của
mình, đó là giải phóng dân tộc bằng con đường cách mạng vô sản, gắn việc
giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp vô sản. Như vậy, Hồ Chủ tịch đã
tìm được con đường giải phóng dân tộc và phong trào yêu nước theo khuynh
hướng vô sản. Người nói “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có
con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.
Theo Lênin, cần phải có sự kết hợp cách mạng vô sản ở chính quốc
với phong trào giải phóng dân tộc ở thuộc địa. Tuy nhiên, Lênin cũng như
những người lãnh đạo Quốc tế Cộng sản lúc đó cho rằng cách mạng thuộc
địa phụ thuộc vào cách mạng chính quốc, là “hậu bị quân” của cách mạng
chính quốc và cách mạng thuộc địa chỉ có thể nổ ra và thắng lợi khi cách
mạng vô sản chính quốc thành công. Là người cộng sản hoạt động tích cực
trong phong trào giải phóng dân tộc thế giới, Hồ Chí Minh sáng tạo ra luận
điểm khả năng cách mạng thuộc địa nổ ra và thắng lợi trước cách mạng
chính quốc. Theo Hồ Chí Minh, cách mạng thuộc địa và cách mạng chính
quốc có mối quan hệ mật thiết với nhau trong đấu tranh chống chủ nghĩa đế
quốc, nhưng trong đấu tranh đó, nhân dân các dân tộc thuộc địa có thể tự
đứng lên giải phóng. Các dân tộc thuộc địa không nên trông chờ, ỷ lại vào
cách mạng chính quốc mà phải chủ động đứng lên tự giải phóng khỏi ách
thống trị của chủ nghĩa đế quốc, qua đó góp phần tích cực vào cách mạng
thế giới nói chung, cách mạng chính quốc nói riêng.
Trong Tuyên ngôn của Hội Liên hiệp thuộc địa, Người viết “Hỡi anh
em ở các thuộc địa! Anh em phải làm thế nào để được giải phóng? Vận
dụng công thức của Cac Mac, chúng tôi xin nói với anh em rằng, công cuộc
giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng cách nỗ lực của bản thân
anh em”. Vào những năm 1920, Hồ Chí Minh đã dự đoán cách mạng thuộc
địa có thể thành công trước cách mạng chính quốc, cách mạng Việt Nam có
thể thành công trước cách mạng Pháp. Nghĩa là Hổ Chủ tịch thấy rõ được
tính chủ động lịch sử của các dân tộc thuộc địa trong việc lật đổ chủ nghĩa
thực dân để tự giải phóng, không nhất thiết phải chờ đến khi giai cấp công
nhân chính quốc giành chính quyền. Hồ Chủ tịch đã vạch ra con đường giải
phóng dân tộc trước hết bằng sự nổ lực và sức mạnh của chính mình, tranh
thủ thời cơ và sự giúp đỡ quốc tế, cả dân tộc vùng lên tự giải phóng cho
mình chứ không phải là làm cách mạng thế giới rồi nhờ sự giúp đỡ của thế
giới để giải phóng Việt Nam.
Khi phân tích tình hình trong nước, Hồ Chí Minh cho rằng Việt Nam
là nước thuộc địa, nửa phong kiến, mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với
chủ nghĩa đế quốc và tay sai nổi trội hơn mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân
với giai cấp địa chủ phong kiến, giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản.
Vì thế, không phải chỉ giải quyết vấn đề giai cấp rồi mới giải quyết vấn đề
dân tộc, mà chỉ có thể giải phóng dân tộc mới giải phóng được giai cấp, vì
giải phóng dân tộc đã bao hàm một phần giải phóng giai cấp và tạo tiền đề
để giải phóng giai cấp. Quyền lợi dân tộc và quyền lợi giai cấp là thống nhất,
quyền lợi dân tộc không còn thì quyền lợi của mỗi giai cấp, mỗi bộ phận
trong dân tộc cũng không thực hiện được. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã
khẳng định những luận điểm trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh là đúng đắn.
Trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, Hồ Chí Minh đòi hỏi phải
có tinh thần tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính, tự giải phóng cho
ta. Chỉ có chúng ta mới giải quyết được số phận của chúng ta. Trong xây
dựng chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đòi hỏi “Trước đây, nhân dân ta đã nêu
cao tinh thần tự lực cánh sinh, trường kỳ kháng chiến,thì ngày nay chúng ta
cần phải nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, cần kiệm xây dựng nước nhà” .
Đường lối độc lập tự chủ, tự lực tự cường đã giúp Hồ Chủ tịch lái con
thuyền Việt Nam đi giữa hai ngọn sóng Xô – Trung trong thập kỷ 60, thời
kỳ mà giữa hai nước Liên Xô, Trung Quốc có những bất đồng lớn. Thắng lợi
của cách mạng Việt Nam luôn cần đến sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế,
nhưng Người chỉ rõ sự nghiệp cách mạng Việt Nam phải do nhân dân Việt
Nam quyết định. Vì chúng ta có thế, có lực thì bên ngoài mới ủng hộ, giúp
đỡ và sự ủng hộ giúp đỡ đó mới mang lại hiệu quả. Người cho rằng muốn
người ta giúp cho thì trước hết phải tự cứu mình đã; chúng ta lo tìm bạn bè
nhưng trước hết phải tổ chức lực lượng của chính mình.
Theo Hồ Chí Minh, độc lập không có nghĩa là biệt lập đứng riêng một
mình mà để có thể hợp tác bình đẳng với tất cả các nước thì cần phải độc lập
tự chủ. Vì vậy, độc lập tự chủ, tự lực tự cường là biểu hiện của tinh thần yêu
nước chân chính, gắn bó mật thiết với tinh thần quốc tế trong sáng. Những
người có tư tưởng dân tộc hẹp hòi và ỷ lại, không tự lực tự cường đều bị Hồ
Chí Minh phê phán.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập tự chủ, tự lực tự cường có mối
quan hệ chặt chẽ với mở rộng hợp tác quốc tế. Người đã từng nói “Nhờ Liên
Xô thắng lợi mà những nước thuộc địa như Trung Quốc và những nước
thuộc địa như Triểu Tiên, Việt Nam đã đánh được hoặc đang đánh đuổi bọn
đế quốc xâm lăng trả lại tự do, độc lập”. Trên báo L’Humanité ngày
2/8/1919, Người viết “xét về nguyên tắc, tiến bộ chung phụ thuộc vào việc
phát triển chủ nghĩa quốc tế; và văn minh chỉ có lợi khi các quan hệ quốc tế
được mở rộng và tăng cường”.
Khi được Standley Harrison, phóng viên báo Telepress, vào tháng
3/1949 hỏi: khi ngoại thương Việt Nam đã khôi phục thì Việt Nam sẽ giao
dịch với những nước dân chủ nhân dân những gì? Người trả lời “Việt Nam
sẽ giao dịch với tất cả các nước nào trên thế giới muốn giao dịch với Việt
Nam một cách thật thà”.
Hồ Chí Minh cho rằng thắng lợi của cách mạng Việt Nam cần đến sự
ủng hộ, giúp đỡ quốc tế, nhưng không được trông chờ ỷ lại, mà phải tự lực
cách sinh dựa vào sức mình là chính phải trông ở thực lực. Thực lực mạnh,
ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng.
Chiêng có to thì tiếng mới lớn”, “một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ
ngồi chờ dân tộc khác đến giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập. Sự
giúp đỡ của bạn bè là quý báu, chúng ta phải biết ơn sự giúp đở đó, nhưng
chớ vì bạn giúp ta nhiều mà trông chờ ỷ lại, mà phải đem sức ta mà giải
phóng cho ta.
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh về mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế
không chỉ nhằm mục đích nhận được sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế, mà
thông qua sự giúp đỡ đó có điều kiện phát huy những tiềm năng của Việt
Nam. Muốn vậy phải sử dụng có hiệu quả nguồn lực từ bên ngoài để phát
triển kinh tế xã hội. Người nhắc nhở, các nước bạn giúp ta cũng như thêm
vốn cho ta. Ta phải khéo dùng các vốn ấy để bồi bổ lực lượng, phát triển khả
năng của ta, tức là có thêm điều kiện để tự lực cánh sinh. Bởi vậy, chính phủ
phải có kế hoạch để sự dụng hợp lý sự giúp đỡ ấy. Cán bộ ta phải ra sức
công tác, phải làm việc tốt với các chuyên gia bạn, học tập kinh nghiệm tiên
tiến của các nước bạn, phải bảo quản và sử dụng tốt những máy móc và vật
liệu các nước bạn đã giúp ta, phải nghiêm khắc chống bệnh quan liêu, lãng
phí, tham ô.
Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập tự chủ, tự lực tự cường,
Đại hội X đã xác định: “Trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh”, “phát huy cao độ nội lực, đồng thời ra sức tranh thủ tối
đa ngoại lực, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều
kiện mới”, “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa
bình, hợp tác và phát triển… Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy của các
nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc
tế và khu vực”.
Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cần quán triệt
tư tưởng độc lập tự chủ, tự lực tự cường của Hồ Chủ tịch. Chúng ta phải chủ
động, tích cực hội nhập kinh tế, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại đi đôi
với xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, phát huy tối đa nội lực, tranh thủ
hợp tác quốc tế bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa.
3) Tư tưởng Hồ Chí Minh về đổi mới sáng tạo:
Nhìn vào quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta sẽ thấy
rất rõ đó là một quá trình đổi mới sáng tạo liên tục trong nhận thức tư tưởng,
cũng như trong hoạt động thực tiễn của Người. Có thể nói, Hồ Chí Minh là
con người đổi mới, là một người đổi mới bẩm sinh, một thiên tài đổi mới.
Ngay từ năm 1927, trong Đường cách mệnh, Người đã viết: "Cách mệnh là
phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tất". Danh từ "đổi mới" là
danh từ của Hồ Chí Minh, là danh từ mà Người đã nêu ra từ năm 1949 trong
bài Dân vận bất hủ: "Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân".
Bốn năm sau, trong bài nói chuyện trong buổi khai mạc lớp chỉnh huấn cán
bộ Đảng, dân, chính ở cơ quan trung ương, ngày 6/2/1953, Người đã đưa ra
luận điểm bất diệt:
“Xã hội bây giờ ngày mót phát triển. Tư tưởng hành động cũng phát
triển. Nên cứ giữ lấy cái kẹp giấy cũ không thay đổi là không đi đến đâu cả”.
Và, nhiệm vụ đổi mới căn bản và toàn diện, "chống lại những gì cũ
kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ tốt tươi" là nhiệm vụ mà Hồ Chí
Minh đã xác định trong Di chúc của Người. Có thể nói, đổi mới chính là linh
hồn của tư tưởng Hồ Chí Minh. Kết luận này được rút ra từ những sự kiện
lịch sử.
Ngay từ lúc mới 13 tuổi, khi lần đầu được tiếp xúc với những từ Tự do
- Bình đẳng - Bác ái trong tiếng Pháp, Người nảy ra ý nghĩ mới lạ, ý nghĩ mà
lịch sử về sau đã chứng minh tính chất phi thường của nó - "muốn làm quen
với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những từ
ấy". Ý nghĩ này thể hiện tính ham hiểu biết, muốn tìm hiểu sự vật đến nơi
đến chốn của Hồ Chí Minh. Đến khi 15 tuổi, Người đã nuôi chí đánh đuổi
thực dân Pháp, giải phóng đồng bào. Người tham gia công tác bí mật, làm
liên lạc. Người khâm phục những nhà yêu nước tiền bối Phan Đình Phùng,
Hoàng Hoa Thám, Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu, nhưng thấy rằng phải
có cách làm khác với cách làm của các cụ. Trong khi các trí thức và thanh
niên có tinh thần yêu nước đua nhau theo phái Đông du sang Nhật thì Người
lại chọn con đường sang nước Pháp và các nước khác để xem họ làm như
thế nào rồi trở về giúp đồng bào.
Trước khi đi theo Quốc tế cộng sản, Người chưa biết chiến lược, sách
lược là gì, không rõ CHXH và chủ nghĩa cộng sản khác nhau thế nào, cũng
chưa đọc một tác phẩm nào của Lênin, vậy mà khi cần phải có quyết định
trong việc lựa chọn giữa Quốc tế II và Quốc tế III, Người đã nhạy bén chỉ

Xem chi tiết: 257068


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét