Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ sang thị trường Nhật Bản của Công ty xuất nhập khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Artexport

Chuyên đề thực tập
xuất khẩu chủ lực của mặt hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam, chiếm tới 29%
tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của cả nước. Tuy nhiên, con số này vẫn
chưa xứng với tiềm năng sẵn có ở trong nước và chưa đáp ứng hết nhu cầu của
người tiêu dùng Nhật Bản do khả năng tiếp cận thị trường của các công ty Việt
Nam còn hạn chế, thiếu thông tin về thị trường, mặt hàng và những bất cập
trong cơ chế, chính sách. Hiện nay cả nước có hơn 2.000 làng nghề thủ công
mỹ nghệ, thu hút trên 13 triệu lao động; 1,4 triệu hộ gia đình và khoảng 1.000
công ty tham gia vào hoạt động sản xuất-xuất khẩu sản phẩm này. Với nguồn
nguyên liệu sẵn có trong nước, nguyên phụ liệu nhập khẩu chỉ chiếm từ 3-5%
giá trị xuất khẩu nên tiềm năng về xuất khẩu mặt hàng này là rất lớn, đặc biệt là
thị trường Nhật Bản.
2.1.1.Tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là con đường tất yếu để khắc phục tình trạng
nghèo nàn và chậm phát triển ở nước ta. Để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước trong một thời gian ngắn đòi hỏi phải có vốn lớn để nhập khẩu máy móc,
thiết bị, kỹ thuật công nghệ tiên tiến của các nước phát triển. Thực tế trong mấy
năm qua kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ luôn đứng trong 10 nhóm
sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam. Tuy nhiên, do đặc điểm đây là
nhóm hàng có tỷ lệ dùng nguyên liêu trong nước là chủ yếu (nguyên liệu nhập
khẩu chỉ chiếm 3-5%), vì vậy tỷ lệ thực thu ngoại tệ sau xuất khẩu của hàng thủ
công mỹ nghệ rất cao (theo tính toán của các chuyên gia, tỷ lệ thu trên 95% so
với tổng kim ngạch xuất khẩu, trong khi đó nhóm hàng dệt may chỉ khoảng
25%). Với kim ngạch xuất khẩu trên dưới 300 triệu USD/năm, hàng năm xuất
khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đã góp phần không nhỏ trong việc tăng thu ngoại
tệ cho đất nước, gia tăng tích lũy, tái sản xuất mở rộng phát triển nền kinh tế và
dự trữ quốc gia.
2.1.2. Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nông thôn
5
Chuyên đề thực tập
Chuyển dịch cơ cấu nông thôn là hoạt động phát triển kinh tế nông thôn làm
thay đổi cơ cấu sản xuất, cơ cấu lao động, cơ cấu việc làm, cơ cấu giá trị sản
lượng và cơ cấu thu nhập của dân cư nông thôn bằng các nguồn lợi thu được từ
lĩnh vực nông nghiệp và phi nông nghiệp. Việc phát triển các làng nghề truyền
thống đã có vai trò tích cực trong việc góp phần tăng tỷ trọng công nghiệp, tiểu
thủ công nghiệp và dịch vụ, thu hẹp tỷ trọng nông nghiệp, chuyển từ lao động
sản xuất nông nghiệp thu nhập thấp sang ngành nghề công nông nghiệp có thu
nhập cao hơn. Ngay từ khi nghề thủ công xuất hiện thì kinh tế nông thôn không
chỉ có ngành nông nghiệp thuần nhất mà bên cạnh còn có các ngành thủ công
nghiệp, thương mại và dịch vụ cùng tồn tại phát triển.
Mặt khác có thể thấy kết quả sản xuất ở các làng nghề cho thu nhập và giá
trị sản lượng cao hơn hẳn so với sản xuất nông nghiệp thuần nhất. Do từng
bước tiếp cận với nền kinh tế thị trường, năng lực thị trường được nâng lên,
người lao động nhanh chóng chuyển sang đầu tư cho các ngành nghề phi nông
nghiệp, đặc biệt là những sản phẩm có khả năng tiêu thụ mạnh ở thị trường
trong và ngoài nước. Khi đó khu vực sản xuất nông nghiệp sẽ bị thu hẹp, khu
vực sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp được tăng lên.
Làng nghề truyền thống phát triển tạo cơ hội cho ngành dịch vụ ở nông thôn
mở rộng địa bàn hoạt động thu hút nhiều lao động. Khác với sản xuất nông
nghiệp, sản xuất trong các làng nghề là một quá trình liên tục, đòi hỏi sự cung
cấp thường xuyên trong việc cung ứng vật liệu và tiêu thu sản phẩm. Do dó dịch
vụ nông thôn phát triển mạnh mẽ với nhiều hình thức đa dạng phong phú, đem
lại thu nhập cao cho người lao động.
Như vậy sự phát triển làng nghề truyền thống có tác dụng rõ rệt đối với quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo yêu cầu của sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Sự phát triển lan tỏa của làng nghề truyền thống đã
mở rộng quy mô và địa bàn sản xuất, thu hút thêm lao động. Cho đến nay cơ
6
Chuyên đề thực tập
cấu kinh tế ở nhiều làng nghề đạt khoảng 60-80% cho công nghiệp và dịch vụ
và 20-40% cho nông nghiệp.
2.1.3.Tạo việc làm và nâng cao đời sống
Trên phương diện xã hội, đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đã
kích thích việc phát triển các làng nghề truyền thống. Hiện nay, trong các làng
nghề truyền thống, bình quân mỗi cơ sở chuyên làm nghề đã tạo việc làm ổn
định cho gần 30 lao động thường xuyên và từ 8 - 10 lao động thời vụ, mỗi hộ
chuyên làm nghề thì tạo được 4 - 6 lao động thường xuyên và 2 - 5 lao động
thời vụ. Đặc biệt nghề dệt, thêu ren, mây tre đan, mỗi cơ sở có thể thu hút 200 -
250 lao động. Nhiều làng nghề không những thu hút lực lượng lao động lớn ở
địa phương mà còn tạo việc làm cho nhiều lao động ở các địa phương khác.
Làng gốm Bát Tràng ngoài việc giải quyết việc làm cho gần 2430 lao động của
xã, còn giải quyết thêm việc làm cho khoảng 5000 - 6000 lao động của các khu
vực lân cận đến làm thuê.
Mặt khác, sự phát triển của các làng nghề truyền thống đã kéo theo sự phát
triển và hình thành của nhiều nghề khác, nhiều hoạt động dịch vụ liên quan xuất
hiện, tạo thêm nhiều việc làm mới, thu hút nhiều lao động. Ngoài các hoạt động
dịch vụ phục vụ sản xuất trực tiếp còn có các dịch vụ khác như tín dụng ngân
hàng. Từ thực tiễn cho thấy cứ xuất khẩu 1 triệu USD hàng thủ công mỹ nghệ
thì tạo được việc làm và thu nhập cho khoảng 3000 - 4000 lao động chủ yếu tại
các làng nghề nông thôn, trong đó có lao động nông nhàn tại chỗ và các vùng
lân cận.
Bên cạnh đó xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ còn góp phần tăng thu nhập
và cải hiện đời sống cho người lao động ở nông thôn. Nơi nào có làng nghề phát
triển thì ở đó thu nhập và mức sống cao hơn các vùng thuần nông. Nếu so sánh
với mức thu nhập lao động nông nghiệp thì thu nhập của lao động ngành nghề
cao hơn khoảng 2 đến 4 lần, đặc biệt là so với chi phí lao động và diện tích sử
dụng đất thấp hơn nhiều so với sản xuất nông nghiệp. Bình quân thu nhập của lao
7
Chuyên đề thực tập
động trong hộ chuyên ngành nghề phi nông nghệp là 430.000đ\tháng, ở hộ kiêm
nghề từ 190.000-241.000đ\tháng, trong khi đó ở hộ lao động thuần nông chỉ có
khoảng 70.000-100.000đ\ng\tháng. Có những làng nghề có thu nhập cao như
làng gốm Bát Tràng: mức thu nhập của các hộ thấp nhất cũng đạt từ 10 – 20
triệu\năm. Thu nhập từ nghề gốm sứ Bát Tràng chiếm tới 86% tổng thu nhập của
toàn xã. Vì vậy thu nhập của các làng nghề truyền thống đã tạo ra sự thay đổi
khá lớn trong cơ cấy thu nhập của hộ gia đình và của địa phương.
2.1.4.Góp phần mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại
Xuất khẩu là một hoạt động của kinh tế đối ngoại. Đẩy mạnh xuất khẩu nhằm
khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế và nội lực của đất nước để phát triển kinh tế.
Có thể nói, đẩy mạnh xuất khẩu nói chung và đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu
hàng thủ công mỹ nghệ nói riêng có vai trò thúc đầy các hoạt động kinh tế đối
ngoại khác. Vì khi hoạt động xuất khẩu phát triển sẽ kéo theo sự phát triển của
các hoạt động quốc tế trong lĩnh vực khác như: tài chính – tín dụng, bảo hiểm,
vận tải, đầu tư, chuyển giao công nghệ… Ngược lại, các hoạt động kinh tế đối
ngoại phát triển sẽ có tác dụng thúc đẩy, mở rộng hoạt động xuất khẩu như: tiếp
nhận nguồn vốn, công nghệ, trình độ quản lý để mở rộng sản xuất nâng cao chất
lượng hàng xuất khẩu. Việc ký kết các hiệp định thượng mại song phương, đa
phương và gia nhập WTO sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thâm nhập và mở
rộng thị trường xuất khẩu của hàng hóa nói chung và hàng thủ công mỹ nghệ nói
riêng.
2.2.5.Gìn giữ các giá trị văn hóa và ngành nghề truyền thống của dân tộc
Lịch sử phát triển của các làng nghề truyền thống luôn gắn liền với lịch sử
phát triển văn hóa của dân tộc, nó tạo nên nền văn hóa đó, đồng thời là sự biểu
hiện tập trung nhất bản sắc của dân tộc.
Sản phẩm thủ công mỹ nghệ là sự kết tinh của lao động vật chất và lao động
tinh thần, nó được tạo nên bởi bàn tay tài hoa và trí óc sáng tạo vủa người thợ
thủ công. Vì vậy, mỗi sản phẩm là một tác phẩm nghệ thuật chứa đựng nét đặc
8
Chuyên đề thực tập
sắc dân tộc, đồng thời thể hiện những sắc thái riêng, đặc tính riêng của mỗi làng
nghề và mang dấu ấn của mỗi thời kỳ. Tìm hiểu lịch sử của mỗi làng nghề ta
thấy kỹ thuật chế tác ra các sản phẩm có từ rất xa xưa và được truyền lại đến
ngày nay. Kỹ thuật đúc dồng và hợp kim đồng thau đã có từ thời văn hóa Đông
Sơn – một nền văn hóa với những thành tựu rực rỡ, đặc biệt là trống đồng Ngọc
Lũ gắn liền với lịch sử của Hùng Vương dựng nước. Ngày nay các sản phẩm thủ
công mỹ nghệ với tính độc đáo và độ tinh xảo của nó vẫn có ý nghĩa rất lớn với
nhu cầu đời sống của con người. Những sản phẩm này là sự kết tinh, bảo tồn các
giá trị văn hóa lâu đời của dân tộc, là sự bảo lưu văn hóa nghệ thuật và kỹ thuật
truyền từ đời này sang đời khác tạo nên những thế hệ nghệ nhân tài ba. Chính vì
vây, xuất khẩu thủ công mỹ nghệ không những góp phần bảo tồn và phát triển
các giá tị văn hóa của dân tộc Việt Nam mà còn nhằm quảng bá chúng trên khắp
thế giới.
2.2 Đặc điểm hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam
2.21. Tính văn hóa
Hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam đã có từ lâu đời, nó tồn tại và phát
triển trong các làng nghề truyền thống, được làm ra bởi các nghệ nhân, thợ thủ
công. Mỗi sản phẩm thủ công mỹ nghệ đều được tạo ra ở một làng nghề riêng,
mang sắc thái, đặc trưng văn hóa của một khu vực địa lý và cộng đồng dân cư
nhất định như gốm sứ Bát Tràng, lụa Hà Đông, …. Qua sử dụng các sản phẩm
thủ công mỹ nghệ người tiêu dùng cảm nhận được giá trị nghệ thuật từ sự sáng
tạo trong tạo dáng, đến sự tinh xảo và điêu luyện của người thợ và hơn cả là sự
kết tinh những nét văn hóa của dân tộc được truyền vào từng sản phẩm.
2.1.2. Tính mỹ thuật
Mỗi sản phẩm thủ công mỹ nghệ là một tác phẩm nghệ thuật vừa có giá trị
sử dụng vừa có giá trị thẩm mỹ cao, chúng là sự hòa trộn giữa phương pháp thủ
công tinh xảo với sự sáng tạo nghệ thuật. Khác với các sản phẩm công nghiệp
được sản xuất hàng loạt bằng máy móc công nghiệp, hàng thủ công mỹ nghệ để
9
Chuyên đề thực tập
có giá trị cao về nghệ thuật thì chỉ được sản xuất thủ công, chủ yếu dựa vào đôi
bàn tay khéo léo của người thợ. Nhiều loại sản phẩm vừa là đồ dùng sinh hoạt,
vừa là vật trang trí. Chính những đặc điểm này đã đem lại sự khác biệt cho hàng
thủ công mỹ nghệ. Nhờ đó, tại các hội chợ quốc tế như EXPO, hội chợ ở New
York, Italia… hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam đã gây sự chú ý của khách
hàng bởi tính tinh xảo trong đường nét hoa văn trạm trổ trên các sản phẩm, hay
những kiểu dáng mẫu mã độc đáo, mặc dù nguyên liệu rất đơn giản, qua bàn tay
tài hoa của các nghệ nhân đã trở thành các tác phẩm nghệ thuật có giá trị cao.
2.1.3. Tính đơn chiếc
Mỗi loại hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống đều mang tính cá biệt và có
sắc thái riêng của mỗi làng nghề. Cùng là đồ gốm sứ nhưng nhờ các hoa văn,
màu men, họa tiết trên đó người ta vẫn có thể phân biệt được đâu là gốm Bát
Tràng, Thổ Hà, Phù Lãng… . Bên cạnh đó tính đơn chiếc có được là do hàng
thủ công mỹ nghệ Việt Nam mang hồn của dân tộc Việt Nam, mang nét văn hóa
và bản sắc của dân tộc Việt Nam. Chính vì vậy, hàng của Trung Quốc hay của
Nhật Bản cho dù có phong phú, đa dạng cũng không có được nét đặc trưng đó,
cho dù kiểu dáng có giống nhưng không mang được hồn dân tộc Việt Nam.
Cùng với đặc trưng về văn hóa, tính riêng biệt đã mang lại ưu thế tuyệt đối cho
hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam trong xuất khẩu, thúc đẩy giao lưu văn
hóa, quảng bá hình ảnh Việt Nam ra khắp thế giới.
2.1.4. Tính đa dạng
Tính đa dạng của sản phẩm được thể hiện trên 2 khía cạnh:
- Văn hóa: Sản phẩm thủ công mỹ nghệ mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc,
từ những con rồng trạm trổ ở các đình chùa, hoa văn trên trống đồng, màu men,
họa tiết trên các đồ gốm sứ, tất cả đều mang vóc dáng, đặc trưng dân tộc, quê
hương và chứa đựng trong nó những hình ảnh văn hóa tinh thần, quan niệm
nhân văn, tín ngưỡng tôn giáo của dân tộc. Những nét riêng về phong tục của
mỗi địa phương, các địa danh được thể hiện trên sản phẩm thủ công mỹ nghệ
10
Chuyên đề thực tập
đều làm tăng giá trị cho sản phẩm, gây cho khách hàng một sự thích thú, như
một sự khám phá khi thấy sản phẩm.
- Nguyên liệu: Sự phong phú của nguyên liệu sử dụng đã tạo nên các sản
phẩm độc đáo. Từ mây, tre, nứa thậm chí có thể dùng cả rơm khô, sọ dừa, xơ
dừa, cói, đay… tất cả các nguyên liệu đều rất sẵn có trong thiên nhiên.
2.1.5. Tính thủ công
Hàng thủ công mỹ nghệ dễ dàng được cảm nhận ngay tính thủ công với tên
gọi của nó. Tính thủ công được thể hiện ở công nghệ sản xuất đều là sự kết giao
giữa các phương pháp thủ công tinh xảo và sự sáng tạo nghệ thuật. Ngày nay,
với sự hỗ trợ của máy móc công nghiệp nhưng sản xuất chính vẫn cần có những
bàn tay điêu nghệ của các nghệ nhân. Bởi chính các nghệ nhân mới là người tạo
ra cái hồn, sự đặc trưng cho từng sản phẩm và nó phản ảnh rõ nét tinh hoa văn
hóa dân tộc. Chính đặc tính này tạo nên sự khác biệt giữa sản phẩm thủ công
mỹ nghệ và những sản phẩm công nghiệp hiện đại được sản xuất hàng loạt và
ngày nay cho dù không sánh kịp tính ứng dụng của các sản phẩm công nghiệp
nhưng sản phẩm thủ công mỹ nghệ luôn gây được sự yêu thích của người tiêu
dùng.
3.Các nhân tố ảnh hưởng tới xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam
vào thị trường Nhật Bản
3.1.Lao động
Việt Nam vốn là nước có nguồn lao động trẻ, dồi dào, có khả năng tiếp thu
nhanh, cần cù, sáng tạo và có tính cộng đồng cao. Mặt khác, trong các làng
nghề sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ lại có những nghệ nhân, thợ giỏi, có tâm
huyết với nghề, có ý thức và tinh thần trách nhiệm đào tạo nghề cho các thế hệ
trẻ. Đó là những tiềm năng rất lớn trong phát triển sản xuất hàng thủ công mỹ
nghệ ở hiện tại và tương lai.
3.2.Nguồn nguyên liệu
11
Chuyên đề thực tập
Nguyên liệu để sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ như: mây, cói tre,
đất… vốn là những nguyên liệu có sẵn trong tự nhiên. Việt Nam là nước có khí
hậu nhiệt đới rất phù hợp để trồng và phát triển các loại nguyên liệu này. Do đó,
nguyên vật liệu để cung cấp cho sản xuất vô cùng phong phú và đa dạng. Hơn
thế nữa, nhu cầu nguyên liệu, phụ liệu nhập khẩu để sản xuất hàng thủ công mỹ
nghệ chiếm tỷ lệ rất nhỏ, thường chỉ khoảng từ 3-5%. Đây là một thuận lợi lớn
để hạ giá thành sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh của hàng thủ công mỹ nghệ
Việt Nam trên thị trường thế giới.
3.3.Tiềm năng sản xuất và tính bền vững
Các mặt hàng thủ công mỹ nghệ khi đạt tới trình độ cao đều có thể đứng
vững trong nền kinh tế thị trường, một số mặt hàng còn có thể mở rộng quy mô
do sự phát triển của thị trường. Điều đó đã được khẳng định trong thực tế đặc
biệt là từ những năm sau “đổi mới”, khi mọi cơ sở sản xuất kinh doanh được
phát huy quyền tự chủ, khi mọi sản phẩm được cạnh tranh. Qua một thời kỳ
phát triển, các hình thức sản xuất kiểu mới, các quan hệ liên kết kinh tế mới đã
xuất hiện và tỏ ra phù hợp với quy luật vận động. Từ thực tế đó cho thấy tiềm
năng tồn tại và phát triển của hàng thủ công mỹ nghệ. Bản thân mặt hàng này
tồn tại với lý do sâu xa (đã được lịch sử thừa nhận) và đứng vững trong điều
kiện mới khi thu nhập từ sản xuất những mặt hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu
gấp nhiều lần so với sản xuất nông nghiệp và sự phát triển của chúng rất phù
hợp với quy luật phát triển kinh tế tiến bộ.
Lợi ích của việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ như đã được
phân tích ở trên. Đó là một trong những nhân tố rất quan trọng góp phần thực
hiện thành công quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa của đất nước.
Như vậy, đề ra các giải pháp để thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng thủ
công mỹ nghệ là việc làm rất cần thiết, đòi hỏi có sự quan tâm thiết thực của
Chính phủ, các ban ngành liên quan. Đặc biệt là quan tâm đầu tư đúng hướng
12
Chuyên đề thực tập
của các công ty tham gia vào hoạt động sản xuất, xuất khẩu hàng thủ công mỹ
nghệ.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ
NGHỆ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU THỦ CÔNG MỸ
NGHỆ ARTEXPORT SANG THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN
1.Khái quát chung về công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ
Artexport
1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Artexport
Ngày 23/12/1964, theo Quyết định số 617/BNgT-TCCB của Bộ Ngoại
Thương (nay là Bộ Công Thương) Công ty xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ
(nay là Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ Việt Nam) được
thành lập.
Trước năm 1975, khi đất nước còn chiến tranh ác liệt, Mỹ và các nước tư
bản thực hiện cấm vận kinh tế Việt Nam nên việc xuất khẩu gặp rất nhiều khó
khăn, đặc biệt là hàng thủ công mỹ nghệ. Tuy nghiên, với sự nỗ lực cố gắng
của mình, Artexport vẫn duy trì được hoạt động xuất khẩu, hoàn thành nhiệm
vụ mà Nhà nước giao phó.
Từ năm 1976 đến trước năm 1990 , tuy đã là thời kỳ hòa bình thống nhất
đất nước nhưng Artexport chủ yếu xuất khẩu trả nợ và xuất khẩu theo nghị định
thư với các nước xã hội chủ nghĩa. Mặc dù gặp nhiều khó khăn, công ty vẫn tổ
chức tốt việc triển khai sản xuất và tổ chức sản xuất ở địa phương nên kim
ngạch xuất khẩu hàng năm vẫn tăng đều, năm sau tăng hơn năm trước mà đỉnh
cao là năm 1988, Artexport xuất khẩu được gần 100 triệu Rúp , đồng thời xây
dựng và mở rộng thị trường ra một số nước tư bản phát triển như : Đức , Pháp,
Tây Ban Nha, Nhật Bản…v v
Năm 1991 đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng của Artexport từ cơ
chế bao cấp sang cơ chế hạch toán kinh doanh. Việc xuất khẩu theo nghị định
13
Chuyên đề thực tập
thư và độc quyền không còn nữa. Công ty gặp rất nhiều khó khăn do cơ chế cũ
để lại, cả về con người lẫn cơ sở vật chất và công nợ. Tuy nhiên, dưới sự lãnh
đạo sáng suốt của các lãnh đạo Artexport và sự chỉ đạo của Bộ Thương Mại
(nay là Bộ Công Thương), Artexport đã dần đẩy mạnh xuất khẩu với kim ngạch
hàng năm khoảng 30 triệu Đôla Mỹ.
Thời kỳ từ năm 2000 đến nay, chứng kiến cuộc khủng hoảng kinh tế thế
giới và Đông Nam Á, sự cạnh tranh gay gắt giữa những người sản xuất hàng thủ
công mỹ nghệ, song Artexport đã biết kết hợp giữa sản xuất, xuất khẩu và
quảng bá thương hiệu của mình. Trên con đường hội nhập và phát triển, việc
kinh doanh và quản lý có hiệu quả, tạo lợi nhuận và mở rộng sản xuất, mở rộng
thị trường xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đóng vai trò quyết định. Do đó,
Artexport cam kết xây dựng một thương hiệu vững chắc, khẳng định bước tiến
của mình trên con đường hội nhập và trở thành địa chỉ tin cậy cho các bạn hàng
trong nước và quốc tế.
Ngày nay, khi nhắc tới Artexport, bạn bè trong nước và nước ngoài còn
được biết thêm một lĩnh vực hoạt động mới nhưng đã rất thành công đó là kinh
doanh bất động sản, cho thuê văn phòng, nhà xưởng, kho bãi. Với lợi thế có
sẵn, công ty đã và đang tiến hành xây dựng một số nhà tầng có tiêu chuẩn chất
lượng cao phục vụ công tác kinh doanh cho thuê văn phòng tại Hà Nội. Ngoài
ra, công ty cũng rất chú trọng tới việc mở rộng thì trường xuất nhập khẩu, phát
triển các mặt hàng mới, đồng thời liên doanh sản xuất với các đối tác để tạo ra
một nguồn hàng ổn định, chất lượng cao dành cho xuất khẩu.
Artexport đã mang đến cho thị trường quốc tế những mặt hàng thủ công
tinh hoa, được sản xuất từ bàn tay khéo léo của những người thợ Việt Nam.
Những nỗ lực trên của công ty đã được ghi nhận bằng những giải thưởng như
giải thưởng công ty xuất khẩu xuất sắc do thương vụ Việt Nam tại các nước
bình chọn, giải thưởng Sao Vàng Đất Việt dành cho thương hiệu nổi tiếng và
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét