60,5% tổng số vốn. Các công ty này kết hợp với nhau thàng các tập đoàn tạo
ra sức mạnh to lớn chi phối nền kinh tế.
3/Về phân bố :
Từ năm 1955 , việc phát triển với tốc độ cao đã đợc chú ý tới.Theo kế
hoạch tăng gấp đôi thu nhập sản xuất công nghiệp đợc bố trí dọc hai tuyến
Tokai và Sanyo . Các xí nghiệp nằm chủ yếu trên khu vực vành đai nhng hạn
chế những khu vực đã công nghiệp hoá. Cũng do kế hoạch này sự chênh lệch
thu nhập giữa các vùng ngày càng tăng nên Nhật Bản đã đề ra những kế
hoạch phát triển trọng điểm nhằm hạn chế tình trạng trên . Đó là những quy
định về thành phố công nghiệp mới, những vùng công nghiệp hoá đặc biệt.
Các thành phố công nghiệp mới cũng rất khác nhau tuỳ theo từng khu
vực.Vùng Okayama-Mitzushima có nhiều nhà máy đi vào hoạt động. Ngợc
lại, vùng Hyuga- Nobeoka lại không có mấy xí nghiệp hoạt động.
II. Về nông nghiệp:
Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, Nhật Bản đã có nhiều chính sách để
phục hồi nền nông nghiệp. So với sự phát triển nh vũ bão của công nghiệp thì
nông nghiệp cũng đã có sự phát triển nhng còn một khoảng cách khá xa. Tuy
vây, nếu so với trớc đây, nông nghiệp của Nhật Bản đã đạt đợc tốc độ phát
triển cha từng có. Tổng sản lợng vẫn tăng trong điều kiện có sự ra đi của lực
lợng lao động. Điều này chứng tỏ năng suất lao động đã tăng đáng kể. Từ
năm 1952đến năm 1972, tổng số thời gian lao động giảm 61% và năng suất
lao động tăng4,22%. Bên cạnh đó, cơ cấu sản phẩm nông nghiệp cũng có sự
thay đổi: Chăn nuôi tăng mạnh, hoa quả và rau màu tăng đáng kể, gạo tăng
ổn định, nuôi tằm giảm sút, các loại ngũ cốc khác và khoai giảm mạnh.Từ đó
đã làm ảnh hởng ít nhiều đến quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp: năng
suất và sản lợng lúa gạo tăng làm cho gạo d thừa, dẫn tới phải điều chỉnh sản
xuất gạo; Việc sản xuất các loại ngũ cốc không phải gạo, nhất là lúa mạch có
xu hớng giảm mạnh.Sản xuất ngũ cốc bị thu hẹp và phơng thức sản xuất kinh
doanh nhỏ nên ngành chăn nuôi dựa vào thức ăn nhập khẩu, không dựa vào
5
sản phẩm của đất đai, đã buộc trở thành ngành dản xuất mang tính gia công.
Từ ba đặc điểm trên, chúng ta sự mất cân đối và đầy mâu thuẫn, có ngành dôi
thừa, có ngành suy thoái, có ngành chăn nuôi không dựa vào cơ sở trong nớc
lại phát triển mạnh.
Xét toàn bộ sản xuất nông nghiệp, có thể nói mặc dù sản lợng và năng
suất lên cao nhng tự túc lơng thực giảm đi rõ rệt. Chẳng hạn, năm 1960 mức
tự túc đạt 90% đến năm 1972 chỉ còn 73%.
Về tình hình sản xuất nông nghiệp :
+ Về đất đai :diện tích canh tác bình quân cho một hộ thay đổi không đáng
kể. Từ năm 1960 số hộ nông dân đã giảm 14.6% nên diện tích đất canh tác
bình quân nông hộ tăng từ 100a lên 110a, tức 10%. Nhng tỉ lệ đất canh tác lại
giảm mạnh nên qui mô kinh doanh của nông hộ đã thu nhỏ
+ Về sự biến đổi trong đầu t vật t và công cụ : lợng phân bón không giảm nh-
ng vị trí của nó giảm rõ rệt trong đầu t, công cụ. Tỉ trọng của thức ăn gia súc
và máy công nghiệp đã vợt chi phí cho phân bón.
Sự thay đổi cơ cấu trong chi phí kinh doanh nông nghiệp sau chiến
tranh có thể nói là do sự phát triển của cơ giới hoá nông nghiệp và sự gia tăng
nhập khẩu thức ăn gia súc. Sự cơ giới hoá nông nghiệp có ý nghĩa quan trọng
trong việc thúc đẩy sản xuất nông nghiệp. Năm 1955 có hai triệu máy tuốt
hạt. Máy làm đất năm 1955 có 90.000 đến năm 1960 lên 520.000 năm 1965
vọt lên 2.520.000 Đến năm 1970 đã hoàn thiện kỹ thuật cơ giới hoá toàn
bộ việc trồng và thu hoạch lúa.
Nhng khi quá trình cơ giới hoá bớc vào giai đoạn qui mô lớn, rồi đến
đồng bộ hoá, thì kiểu kinh doanh tiểu nông đã không còn thích ứng nữa, việc
cơ giới hoá đã tiết kiệm đợc lao động và làm tăng sản lợng trong điều kiện
có sự ra đi của lực lợng lao động, nhng chính nó cũng gây ra những khó khăn
to lớn trong phơng thức kinh doanh tiểu nông. Nó chèn ép kinh tế tiểu nông
và giảm tỉ xuất thu nhập nông nghiệp.Riêng về mặt sản xuất, nó phá hoại hợp
6
lý của kỹ thuật tiểu nông lám đảo lộn trật tự môi trờng giữ tự nhiên và sản
xuất nông nghiệp.
+ Về cơ cấu nông nghiệp : Cơ cấu nông nghiệp không có gì thay đổi mặc dù
có sự biến đổi ghê gớm của phơng thức kinh doanh nông nghiệp cũng nh của
kinh tế nông nghiệp nói chung.
+ Về tình hình kinh doanh nông nghiệp sau chiến tranh: đã có sự biến đổi.
Sản xuất hàng hoá tăng từ 57,9% năm 1951 lên 85,6% năm 1971. Có hai xu
hớngtrong các lĩnh vực sản xuất là lúa gạo và sản xuất rau, hoa quả, chăn
nuôi. Trong thời gian từ năm 1965 đến năm 1970 các lĩnh vực này đã có sự
chuyên môn hoá.
Sự phát triển của ngành nông nghiệp đã kéo theo nhiều sự biến đổi
trong xã hội. Đó là sự xuất hiện của nhiều loại ngời mới trong quá trình sản
xuất nông nghiệp, sự ra đời của nhiều kiểu tổ chức sản xuất trên cơ sở kết
hợp giữa các nông dân. Các tổ chức này rất đa dạng về hình thức do chúng ra
đời ở các thời kỳ khác nhau.
Năm 1972 có sự biến động lớn trong tình hình cung cấp lơng thực thế
giới, giá ngũ cốc tăng vọt. Điều này đã làm cho nền sản xuất lơng thực trong
nớc đã đợc chú ý nhiều hơn.
III. Về giao thông vận tải:
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế nhu cầu về giao
thông vận tải cũng tăng nhanh. Các phơng tiện vận chuyển trong thời kỳ này
cũng phát triển nhanh về số lợng. Đặc biệt, do Nhật Bản là một quần đảo lớn
nên giao thông đờng biển rất phát triển. Đến những năm 70, Nhật Bản đứng
đầu các nớc t bản về vận tải đờng biển.
IV.Về ngoại thơng:
Đây đợc coi là nhịp thở của nền kinh tế Nhật Bản. Từ năm 1950 đén
năm 1971, kim ngạch ngoại thơng tăng 25 lần từ 1,7 tỉ USDlên 43,6 tỉ USD.
Trong đó xuất khẩu tăng lên 30 lần, nhập khẩu tăng 21 lần. Khối lợng xuất
khẩu của ngành công nghiệp nặng và hoá chất tăng thêm 10% từ 62,4% năm
7
1965 lên 73% năm 1970.Đặc biệt là sự tăng nhanh của phân ngành cơ khí.
Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu(bảng 2)
1/Về thanh toán quốc tế:
Trải qua nhiều bớc thăng trầm, đó là những biến đổi có tính chất chu
kỳ. Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, thanh toán quốc tế đã trở thành vấn đề
quan trọng đối với nhiều nớc và đặc biệt nó đã trở thành nguyên nhân quan
trọng ảnh hởng đến tăng trởngkinh tế Nhật Bản.
Năm 1952, khi chiến tranh Trièu Tiên kết thúc, cuộc chạy đua vũ trang
chậm lại. Vì thế, xuất khẩu của Nhật Bản giảm sút cả về chất lợng và giá cả.
Còn nhập khẩu thì vẫn tăng do đầu t và tiêu dùng không giảm. Cán cân ngoại
thơng thâm hụt lớn. Chính phủ buộc phải trở lại chính sách thắt chặt tiền tệ
vào tháng 10/1953. Đến năm 1954, nhập khẩu đã giảm, xuất khẩu đợc mở
mộng, cán cân thanh toán d thừa. Đên snhững năm 1956-1960, xuất khẩu
tăng liên tục làm cho dự trữ ngoại tệ tăng lên, đạt 1,8 tỷ USD năm 1960. Từ
đó sản xuất và tiêu dùng cũng đợc đẩy mạnh. Bớc vào năm 1961, nhờ chính
sách tăng trởng kinh tế cao độ, hoạt động đầu t trở nên sôi nổi. Vì thế, nhập
khẩu tăng , bên cạnh đó xuất khẩu gặp khó khăn, cán cân thơng mại lại thâm
hụt lớn Qua nhiều lần biến đổi đên snăm 1969bắt đầu có xu hớng d thừa ổn
định. Từ năm 1970, hoat đọng xuất khẩu đựơc đẩy mạnh, đặc biệt là sang Mỹ
đạt tốc độ trên 20%. Đồng Yên đợc tăng giá từ chỗ 1USD=360Yên đến
1USD=308Yên. Tuy nhiên, sự tăng giá này không đem lại nhiều hiệu quả.
2/Về đầu t ra nớc ngoài;
Khoảng năm 1953-1954,Nhật Bản đã phục hồi nền kinh tế, đạt mức tr-
ớc chiến tranh. Cũng từ đó đến khoảng đầu thập kỷ 60, kinh tế Nhật Bản luôn
phải đơng đầu với nạn thâm hụt kinh niên trong cán cân buôn bán, thất
nghiệp, lạm phát cao. Do đó, không có tiền để đầu t ra nớc ngoài. Bớc vào
thập kỷ 60, đầu t ra nớc ngoài liên tục phát triển, từ bình quân hàng năm 130
triệu đôla(1963-1965), 90triệu đôla năm 1970đã tăng lên 3,5 tỉ đôla năm
1973.
8
Về thị trơng đầu t cũng có sự thay đổi. Trớc đây, Nhật Bản chỉ chú
trọng đầu t vào Mỹ nhng về sau đã chú trọng hơn đến các thị trờng khác nh
Châu á. Trong tổng số tiền đàu t giai doạn 1951-1960, khu vực Bắc Mỹ
chiếm 40%, khu vực Trung nam Mỹ 37%, Châu á 21%, Châu Âu 1,5% và
châu Đại Dơng chiếm 0,9% Trong thời kỳ 1961-1965, đầu t ra nớc ngoài của
Nhật Bản vào khu vức Trung Nam Mỹvà châu á tăng nhanh chiếm 28%, Mỹ
chiếm 26% vad chau Âu chiếm 4%
Tóm lại, thời kỳ 1952-1973là thời kỳ phát triển rất nhanh của nền kinh
tế Nhật Bản. Tuy nhiên, sự phát triển này cũng gặp khó khăn và biên động.
T năm 1951 đến năm 1973 đã có tất cả 7 thời kỳ ổn địnhvà 8 lần suy thoái.
Sự tăng trởng cao độ luôn đi liền với lạm phát kéo dài. Nhng dù sao đay cũng
là giai đoạn Nhật Bản phát triển thần kỳ với tốc độ cha từng có. Nó đã góp
phần khôi phục kinh tế sau chiến tranh và đa Nhật Bản trở thành một cờng
quốc kinh tế trên thế giới.
9
Bảng I
Sản phẩm quốc dân thuần tuý của từng ngành sản xuất
(thể hiện qua chi phí của các yếu tố)
Đơn vị:Tỷ Yên
Tỷ trọng cấu thành: %
(Nguồn Niên báo thống kê thu nhập quốc dân của Cục Kế hoạch kinh tế Nhật Bản)
Bảng II : Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu
Phân loại 1960 1965 1969 1972
Tổng loại 100 100 100 100
Thực phẩm 6.3 4.1 3.6 2.3
Nguyên nhiên
liệu
2.1 1.5 1.1 0.9
Hàng công
nghiệp nhẹ
47.0 31.8 25.5 18.8
Hàng công
nghiệp
nặng,hoá chất
44.0 62.0 69.2 77.1
Các loại khác 0.4 0.6 0.6 0.9
(Nguồn Tình hình ngoại thơng nớc ta của Bộ Tài chính Nhật Bản )
Nguyên nhân dẫn đến sự phát triển thần kỳ của
nền kinh tế nhật bản
Ngành
1952 1960 1968
Kin ngạch Tỉ trọng Kim ngạch Tỉ trọng Kim ngạch Tỉ trọng
Nông Lâm Ng
nghiệp
1170 22.6 1941 14.6 4167 9.9
Khai mỏ 158 3.1 213 1.6 291 0.7
Công gnhiệp
chế tạo
1258 24.3 3891 29.3 12832 30.3
Xây dựng 201 3.9 733 5.5 2330 7.6
Điện lực,hơi
đốt,cấp nớc, vận
tải,bu điện
454 8.8 1224 9.2 3509 8.3
Thơng nghiệp 844 16.3 2151 16.2 7413 17.5
Dịch vụ 1008 21.0 3141 23.6 10877 25.7
Tổng cộng 5173 100 13293 100 12299 100
10
I. Phát huy vai trò nhân tố con ngời:
Trớc hết, chế độ giáo dục ở Nhật bản khá phát triển và hoàn thiện. Kế
thừa nền giáo dục của thời kỳ trớc, từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật
Bản đã khổ cập giáo dục hệ 9 năm. Trên cơ sở trình đọ văn hoá chung khã
cao đó, ngời Nhật rất chú trọng đào tạo đội ngũ công nhân lành nghề, có đủ
khả năng nắm bắt và sử dụng những kỹ thuật, công nghệ mới. Công nhân đợc
đào tạo không chỉ trong các trờng dạy nghề mà có thể đào tạo ngay trong các
xí nghiệp.
Đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật của Nhật Bản khá đong đảo, chất
lợng coa đã góp phần đấc lực vào sự phát triển nhảy vọt về kinh tế và công
nghệ của đất nớc. Giới quản lý và kinh doanh của Nhật đợc đánh giá là
những ngời sắc xảo, nhạy bén trong việc nẵm bắt thị trờng, đổi mới phơng
pháp kinh doanh, đem lại thắng lợi cho các công ty Nhật Bản trên thị trờng
quốc tế.
Từ lâu, ngời Nhật đợc giáo dục theo đạo lý của dạo Khổng. Trong thời
kỳ hiện đại, những đức tính cần kiệm, kiên trì, trung thành, tính phục
tùng vẫn dợc đề cao. Nghiên cứu tính cách Nhật Bản, các nhà nghiên cứu
phơng Tây đánh giáđây là một nhân tố chủ yếu dẫn đến sự thành công trong
sự phát triển kinh tế của Nhật Bản.
1/ Tính truyền thống:
Truyền thống Nhật Bản luôn luôn đợc kế thừa và phát triển cả trong
nếp nghĩ, hành vi của mỗ công dân. Họ trân trọng những di sản tinh thần đợc
gìn giữ từ ngàn xa. Truyền thống đã hình thành, ổn định và càng củng cố trên
cơ sởthừa kế vad không ngừng phát triển. Trân trọng các di sản văn hoá của
quá khứ, ngời Nhật Bản bảo lu những tinh hoa của mình đã bám rễ trong
cuộc sống. Các truyền thống mang tính chất gia tộc vẫn đợc bảo lu và có ảnh
hởng hết sức sâu sắc cho đên stận ngày nay.
2/ Tinh thần cộng đồng:
11
Tinh thần cộng đòng ở Nhật Bản có đặc điểm là nó tạo ra một trật tự
thứ bậc. ý thức tôn trọng thứ bậc có lẽ đã có từ lâu trong đời sống ngời Nhật,
bằng chứng là sử liệu Trung Quốc, dựa trên sự quan sát của các sứ thần đã
từng viếng thăm Nhật, biên soạn vào cuối thế kỷ thứ III sau công nguyên có
nói : ở nớc này khi cấp trên đi qua thì dân chúng quì xuống hai bên vệ đờng
. Sự phụ thuộc vào thủ lĩnh , lòng kính trọng các bậc cao niên gần nh một
biểu tợng tôn giáo.
Tâm lý cộng đồng đợc nuôi dỡng qua nhiều thế hệ và đợc thể hiện nh
một triết lý của con ngời trong lao động và trong sinh hoạt. Tập thể đóng vai
trò quan trọng trong đời sống ngời Nhật. Để đạt đến sự nhất trí trong công
việc ngời Nhật thờng gạt bỏ cái tôi lại để đề cao cái chung, tìm sự hoà hợp
giữa mình và những thành viên khác trong một tập thể. Tinh thần cộng đồng
còn đợc thể hiện ở sự bình đẳng, chan hoà giữa những ngời quản lý và các
nhân viên công ty.Tinh thần cộng đồng đã và đang là tiềm năng to lớn của
dân tộc Nhật Bản.
3/ Lòng trung thành:
Ngời Nhật Bản luôn đề cao tuyệt đối lòng trung thành. Đó là một
phẩm chất tâm lý truyền thống của họ. Trong quá trình sản xuất, lòng trung
thành đã phát huy tác dụng mạnh mẽ, góp phần không nhỏ vào sự phát triển
kỳ diệu của nền kinh tế Nhật Bản ngày nay.
Lòng trung thành đợc thể hiện ở các mặt sau:
+ Thái độ làm việc: Ngơig Nhật Bản có quyết tâm làm việc cao hơn ngời ph-
ơng Tây. Nếu ngời Nhật Bản không làm tốt công việc của mình thì họ sẽ
không thấy hài lòng. Mọi ngời dốc sức dốc lòng, nghiên cứu lao động để đạt
đợc kết quả cao nhất. Họ luôn lấy mục tiêu phát triển kinh tế của đất nớc đặt
lên hàng đầu
+ Tính nhẫn nại: Nếu cá nhân không có tính nhẫn nại thì ngời đó buộc phải
nhìn nhận sự thất bại của mình trong bất cứ công việc nào đợc giao. Mặc dù
tính nhẫn nại không phải của riêng nhân dân Nhật Bản song dờng nh nó đã
12
ăn sâu vào tiềm thức của mỗi con ngời nơi đây. Ngời ta cho rằng khả năng
học tập và quyết tâm làm việc của ngời Nhật là do đặc tính này.
+ Tính tiết kiệm: Đầu những năm 60, khi thu nhập theo đầu ngời ở Nhật Bản
còn thấp, họ đã có ý thức tiết kiệm dù là những cái nhỏ nhất trong đời sống
để tăng thêm phần tiết kiệm cho đất nớc.
+Ngời lao động luôn sẵn sàng gắn bó cả cuộc đời với công việc, với xí
nghiệp. Ngời Nhật nổi tiếng làm việc cần mẫn, xem công ty nh gia đình của
mình. Họ chia sẻ những khó khăn, những thăng trầm của nó dù ở đó họ chỉ là
ngời làm thuê.
4/ Tính hiếu học:
Đặc tính này đợc tạo lập trên cơ sở của các thói quen đã hình thành
vững chắc từ lâu. Nhật Bản luôn đầu t tối đa cho giáo dục. Số lợng sinh viên,
các nhà khoa học của Nhật đợc cử ra nớc ngoài học tập và nghiên cứu cao
nhất nhì thế giới.Con ngời Nhật học với phơng châm: học hỏi phơng tây,
bắt kịp phơng tây và vợt phơng tây. Có thể nói không có dân tộc nào nhạy
bén về văn hoá nớc ngoài bằng Nhật. Họ không ngừng theo dõi những biến
đổi ở bên ngoài, đánh giá và cân nhắc những ảnh hởng của các trào lu và xu
hớng chính đang diễn ra với Nhật Bản. Khi họ biết trào lu nào đang thắng thế
thì họ có khuynh hớng sẵn sàng chấp nhận học hỏi, nghiên cứu bắt kịp trào l-
u, không để mất thời cơ. Chính vì vậy, Nhật Bản luôn tìm đợc những hớng đi
đúng đắn.
5/ Tính sáng tạo:
Tính sáng tạo là một phẩm chất gắn liền với lòng ham mê lao động của
ngời Nhật Bản. Đức tính này đòi hỏi một cách t duy tích cực, một óc tởng t-
ợng phong phú. ở nhật Bản, các nhà quản lý luôn tôn trọng ý kiến của công
nhân. Hỗu nh các nhà kinh tế nớc ngoài đến Nhật Bản đều ngạc nhiên là các
công nhân đều tích cực đề xuất sáng kiến để nâng cao năng suất lao động.
Tuy vậy, họ không đợc khuyến khích để làm việc trên cơ sở cá nhân mà phải
thuộc về một nhóm. Đây là nét khác biệt của Nhật Bản với các nớc phơng
tây. Chính với quan niệm nh vậy, nên tuy Nhật không có những phát minh
13
lớn về mặt lý thuyết khoa học nhng lại là một nớc vận dụng triệt để những
sáng tạo của nhân dân và những tri thức tiếp thu đợc từ bên ngoài vào thực
tiễn sản xuất. Ngay cả những ngành sản xuất ra đời sau và phát triển chậm,
Nhật Bản cũng nhanh chóng vợt hẳn các nớc có truyền thống để chiếm lĩnh
vị trí hàng đầu thế giới cả về số lợng và chất lợng.
6/ Lòng ham mê lao động:
ở Nhật Bản, tinh thần tự giác, hăng say lao động luôn đợc đề cao. Lao
động thực sự vừa là nghĩa vụ vừa là quyền lợi, không ai có thể thoái thác. Ng-
ời Nhật đã ý thức sâu sắc rằng nhờ lao động mà con ngời và xã hội mới tồn
tại và phát triển. Bởi vậy, lao động đợc coi là một tính cách cơ bản của mỗi
con ngời chân chính và để đạt đợc điều ấy là một điều hết sức khó khăn, phức
tạp.Họ luôn làm viiệc hết mình, vì công việc quên lợi ích cá nhân, tất cả phục
vụ sự phát triển kinh tế của đất nớc. Với lòng ham mê nh thế, ngời Nhật đã
làm cho nền kinh tế phát triển tới mức cả thế giới phảikhâm phục và học hỏi.
II. Duy trì mức tích luỹ cao thờng xuyên, sử dụng vốn có
hiệu quả:
Với nền kinh tế Nhật Bản thì việc tích luỹ và sử dụng vốn sao cho có
hiệu quả là một nguyên nhân quan trọng và gần nh quyết định đến tăng trởng
kinh tế.
1/ Xét quá trình tích luỹ vốn:
a) Vốn trong nớc:
Những giải pháp tốt, chính sách đúng đắnđể duy trì mức tích luỹ cao của
Nhật Bản là:
Tận dung triệt để nguồn lao động trong nớc,áp dụng chế độ tiền lơng thấp,
tiền thởng.Tiền lơng của công nhân Nhật Bản trong những năm 50-60 rất
thấp so với các nớc t bản phát triển. Trong các xí nghiệp lớn thì tiền lơng
công nhân Nhật Bản chỉ bbằng 1/3 tiền lơng của công nnhân Anh và Bằng
1/7 của Mỹ. Mặt khác, chế độ tiền lơng và tiền thởng cũng đợc vận dụng hết
sức linh hoạt dới nhiều mức lơng và chênh lệch tiền lơng tơng đối khác nhau.
Hình thức này đã động viên khuyến khích ngời lao động đông thời tiết kiệm
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét