Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Một số giải pháp chủ yếu đẩy mạnh phát triển kinh tế quận Cầu Giấy từ các xã - thị trấn trong quá trình đô thị hoá

Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KTNN & PTNT
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÔ THỊ HOÁ VÀ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ TỪ CÁC XÃ - THỊ TRẤN THÀNH QUẬN NỘI THÀNH
1.1. KHÁI NIỆM, VAI TRÒ, ĐẶC TRƯNG ĐÔ THỊ HOÁ
1.1.1. Khái niệm, đặc trưng, phân loại đô thị
1.1.1.1. Khái niệm đô thị
Chúng ta có rất nhiều cách định nghĩa về đô thị hoá và các định nghĩa đó
đứng trên những quan điểm khác nhau và nó tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu
của từng lĩnh vực, chúng ta có thể hiểu đô thị theo một số các sau và chúng có
mối liên quan tới mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Một là, theo từ biển Bách khoa toàn thư Việt Nam thì đô thị là một không
gian cư trú của cộng động người sống tập trung và hoạt động trong những khu
vực kinh tế phi nông nghiệp.
Hai là, đô thị là nơi tập trung dân cư chủ yếu là là lao động phi nông
nghiệp, sống và làm việc theo kiểu đô thị hoá.
Ba là, đô thị là nơi có mật độ dân cư cao, chủ yếu là lao động phi nông
nghiệp, có cơ sở hạ tầng phát triển, là trung tâm văn hoá hay chính trị của các
cấp, ngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển của đất nước, tỉnh (thành phố), huyện
(quận).
Nói chung tất cả các khái niệm về đô thị chỉ mang tính chất tương đối do
sự khác nhau về trình độ phát triển của kinh tế - xã hội và điều kiện tự nhiên.
Song chúng đều thống nhất trên hai tiêu chuẩn đê phân biệt đô thị và nông thôn
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Tuấn Chung – Lớp KTNN 45
5
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KTNN & PTNT
đó là đô thị là những thành phố, thị xã, thị trấn có dân số trên 2000 người và
trong đó trên 60% là sản xuất phi nông nghiệp.
1.1.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội của đô thị
1/ Đô thị là nơi tập trung nhiều vấn đề và nó có tính chất toàn cầu:
− Vấn đề môi trường: cùng với tốc độ gia tăng nhanh chóng về công
nghiệp hoá và đô thị hoá là tốc độ gia tăng phá vỡ môi trường sinh thái
tại đô thị. Quá trình đô thị hoá càng nhanh thì tốc độ phá huỷ môi
trường sinh thái càng nhanh, điều này gây nên hiện tượng ô nhiễm môi
trường sống cho khu vực dân cư … vấn đề này đang đặt ra bài toán cho
việc tính toán phát triển đô thị sao cho vừa nhanh vừa phải đảm bảo
môi trường không bị ô nhiễm, tất cả các đô thị đã và đang hình thành,
phát triển hiện nay đều gặp phải vấn đề ô nhiễm môi trường mà thường
ngày càng nặng nề hơn. Nguyên nhân chủ yếu của vấn nạn này đó laf
khi tốc độ cnh nhanh thì lượng chất thải thải ra môi trờng càng lớn và
trong điều kiện khi bắt đầu tiến hành đô thị hoá thì khả năng tào chính
và kinh nghiệm còn hạn chế nên khó có thể tiến hành áp và thực hiện
những chính sách về bảo vệ môi trường sinh thái hoặc có áp dụng cũng
còn rất hạn chế.
− Vấn đề dân số cũng là vấn đề lớn cần phải giải quyết của quá trình đô
thị hoá. Ở những khu vực đô thị hoá thì việc tăng dân số là không thể
tránh khỏi. Việc tăng dân số này có nguồn gốc là tăng dân số tự nhiên
và tăng dân số cơ học, song tại đô thị thì tăng dân số cơ học là chính.
Quá trình đô thị hoá đã tạo ra sức hút mạnh mẽ đối với lực lượng lao
động đông đảo từ các khu vực lân cận tới đây để sinh cơ lập nghiệp.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Tuấn Chung – Lớp KTNN 45
6
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KTNN & PTNT
Đô thị là một địa bàn hẹp nên với lượng dân cư đông đảo đã làm gia
tăng thêm mật độ dân cư, mật độ dân cư do đó đã tăng nhanh chóng và
có tác động xấu tới môi trường sinh thái và xã hội. Việc tăng dân số
nhanh và mạnh như vậy vừa có những tác động tích cực vừa có tác
động tiêu cực, tiêu cực như trên đã trình bày. Yếu tố tích cực ở đây là
nó thu hút nhiều lao động có trình độ chuyên môn hoặc có sức khoẻ tốt
đáp ứng nhu cầu lao động cho quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá.
− Vấn đề tổ chức không gian và môi trường sống: do dân số quá đông lại
sống và sinh hoạt trên một địa bàn chật hẹp đã gây ra tình trạng mật độ
dân cư quá đông khiến việc bố trí không gian xinh hoạt cho người dân
và bố trí những địa điểm văn hoá, thể thao gặp nhiều khó khăn.
2/ Thành thị và nông thôn luôn có mối quan hệ và mối quan hệ này ngày
càng trở nên quan trọng hơn:
Quá trình đô thị hoá dù thực hiện theo hình thức đô thị phân tán hay tập
trung đều gây ra những ảnh hưởng tới môi trường sinh thái song đo thị hoá phân
tán thì vấn đề đó dó giảm hơn nhiều so với đô thị hoá tập trung và chúng ta có
thể giải quyết các vấn đề xã hội và môi trường nhanh chóng và hiệu quả hơn.
Thành thị và nông thôn có mối quan hệ với nhau, mối quan hệ này tương đối
khăng khít tuy rằng ở hai nơi có điều kiện sống và sinh hoạt khác nhau vì chủ
yếu dân cư ở thành thị là từ khu vực nông thôn chuyển ra. Ở đầu quá trình đô thị
hoá thì nông thôn là tiền đề về cơ sở vật chất kỹ thuật và điều kiện kinh tế cho
quá trình phát triển đó, ngược lại trong quá trình đô thị hoá thì thành thị lại là
điều kiện thúc đẩy nông thôn phát triển theo. Đặc biệt với quá trình đô thị hoá
phân tán thì khả năng thúc đẩy phát triển kinh tế và điều kiện sống tạo vùng
nông thôn nhanh và mạnh hơn.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Tuấn Chung – Lớp KTNN 45
7
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KTNN & PTNT
3/ Đô thị hoá mang tính kế thừa của nhiều thế hệ cả về cơ sở vật chất kỹ
thuật, kinh tế và xã hội. Đó có nghĩa là đô thị hoá được hình thành theo quá trình
lịch sử chứ không phải một chốc, một lát là có, nó là quá trình kế thừa những
thành tựu của những thế hệ đi trước khai phá nên những điều kiện ban đầu cho
quá trình phát triển của đô thị từ nông thôn lên.
4/ Đô thị so với nông thông thì có một số những đặc trưng riêng có, cụ thể
đó là những đặc trưng sau:
− Dân cư đô thị có nhu cầu trao đổi, thông thương buôn bán do ở đây dó
trình độ tập trung và chuyên môn hoá cao nên lượng sản phẩm làm ra
ngày càng nhiều và chủ yếu cac sản phẩm đó là sản phẩm công nghiệp
chứ không thể sản xuất ra những sản phẩm thiết yếu nuôi sông con
người. Nên người dân đô thị có nhu cầu trao đổi lương thực, thực phẩm
với những nông dân hay những thương nhân. Bên cạnh đó tạo những
đô thị còn có những thì đất, lao động, dịch vụ, thị trường tài chính ngân
hàng…
− Số lượng vốn được đầu tư vào các ngành luôn cao hơn nhiều lần so với
lượng vốn được đầu tư vào các ngành tại khu vực nông thôn, do đó, hạ
tầng, kỹ thuật và điều kiện sống về vật chất ở đây cao hơn hẳn so với
khu vực nông thôn. Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng của đô thị
như hệ thống đường giao thông, hệ thống bệnh viện và trạm y tế…
tương đối hoàn thiện và đồng bộ do yêu cầu khách quan của quá trình
đô thị hoá. Điều đó bắt nguồn từ yêu cầu khách quan của quá trình đô
thị hoá, đó là điều kiện thúc đẩy quá trình đô thị hoá phát triển nhanh
và mạnh.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Tuấn Chung – Lớp KTNN 45
8
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KTNN & PTNT
− Đô thị có nền an ninh trật tự khó đảm bảo so với nông thôn song nó
luôn được duy trì tốt. Tính không ổn định của nó là do đô thị là nơi tập
trung của rất nhiều thành phần vởi đủ các tầng lớp dân cư và dân số ở
đây chủ yếu là từ các nơi khác chuyển đến với phong tục tập quán khác
nhau song lại chung mục đích là làm kinh tế nên có thể va chạm với
nhau gây nên sự mất ổn định cho xã hội. Để duy trì sự ổn định cho đô
thị chúng ta luôn phải bỏ ra một khoản chi phí của về vật chất và con
người lớn hơn rất nhiều so với khu vực nông thôn.
1.1.1.2. Phân loại đô thị
Chúng ta có nhiều cách tiếp cận để tìm hiểu về khái niệm đô thị trên cơ sở
đó chúng ta có nhiều cách đề phân laọi đô thị. Có thể chúng ta phân loại đô thị
theo tiêu chí sau:
− Phân loại đô thị theo quy mô dân số.
− Phân loại theo tính chất hành chính.
− Phân loại theo chức năng hoạt động.
− Phân loại theo cơ cấu lao động.
− Phân loại theo mức độ hoàn thiện cơ sở hạ tầng.
Song chúng ta chủ yếu phân loại theo hai cách đó là phân loạ theo tính
chất hành chính và phân loại theo quy mô dân số. Ở đây chúng ta chỉ nghiên cứu
cách phân loại theo quy mô dân số:
Phân loại theo quy mô dân số thì có các loại đô thị sau:
− Đô thị loại 1: đô thị có quy mô rất lớn: là những trung tâm kinh tế,
chính trị, văn hoá, khoa học - kỹ thuật, giao lưư quốc tế có vai trò thúc
đẩy phát triển kinh tế của cả nước; đây là đô thị có quy mô dân số trên
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Tuấn Chung – Lớp KTNN 45
9
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KTNN & PTNT
1triệu dân, mật độ dân cư là 15000người/km2. Lao động phi nông
nghiệp chiếm trên 90%; cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng đồng bộ và
hoàn thiện.
− Đô thị loại 2: đô thị có quy mô lớn là những trung tâm kinh tế chính trị,
văn hoá, khoa học - kỹ thuật, du lịch, giao lưu quốc tế, có vai trò thúc
đẩy phát triển kinh tế của một vùng lãnh thổ; dân số trên 35 vạn người,
mật độ dân cư là 12000 người/km2, lao động phi nông nghiệp trên
90%, cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối hoàn chỉnh và tiến tới hoàn
thiện.
− Đô thị loại 3: đô thị có quy mô trung bình: là những trung tâm kinh tế -
chính trị, văn hoá, nơi sản xuất tiểu thủ công nghiệp, thương mại; dân
số từ 10 – 35 vạn người, mật độ dân số 10 000 người/km2; lao động
phi nông nghiệp trên 80%; cơ sở kỹ thuật hạ tầng được đầu tư xây
dựng từng phần.
− Đô thị loại 4: đô thị có quy mô trung bình nhỏ: là những trung tâm kinh
tế, chính trị, văn hoá hoặc là nơi chuyên sản xuất tiểu thủ công nghiệp,
thương nghiệp có vai trò thúc đẩy kinh tế của tỉnh hoặc một vùng trong
tỉnh. Dân số đô thị: 3- 10 vạn người, mật độ dân cư: 8 000người/km2;
lao động phi nông nghiệp trên 70%, đã và đang đầu tư xây dựng kỹ
thuật hạ tầng và các công trình công cộng từng phần.
− Đô thị loại 5: đô thị có quy mô nhỏ: là những trung tâm tổng hợp của
huyện hay một vùng trong huyện có vai trò thúc đẩy kinh tế của vùng
và có quy mô dân số dưới 3 vạn người, mật độ dân số 6000người/km2.
Lao động phi nông nghiệp chiếm trên 60%. Bước đầu xây dựng một số
công trình công cộng và kỹ thuật hạ tầng.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Tuấn Chung – Lớp KTNN 45
10
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KTNN & PTNT
1.1.2. Khái niệm, đặc trưng và tính tất yếu của đô thị hoá
1.1.2.1. Khái niệm về đô thị hoá
Trên quan điểm đô thị trên chúng ta có thể đưa ra khái niệm về đô thị hoá
như sau:
− Trên quan điểm của một vùng: đô thị hoá là quá trình hình thành và
phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị.
− Trên quan điểm của nền kinh tế quốc dân: đô thị hoá là quá trình biến
đổi về sự phân bố các yếu tố nguồn lực sản xuất, bố trí dân cư những
vùng không phải đô thị thành đô thị.
Hay chúng ta có thể hiểu một cách nôm na, đô thị là chúng ta đã đạt được
những chỉ tiêu để đánh giá là đô thị và những chỉ tiêu đó là những chỉ tiêu đã
được các cơ quan có thẩm quyền dựa vào trình độ phát triển và văn minh đô thị
để đề ra có sự tham khảo các chỉ tiêu của các quốc gia trên thế giới. Đô thị là
những vùng có trình độ phát triển cao về kinh tế và xã hội.
Còn quá trình đô thị hoá là quá trình chuyển đổi khu vực sản xuất nông
nghiệp với những đặc trưng cơ bản về kinh tế, văn hoá, xã hội của vùng nông
thôn lên những đặc trưng kinh tế, xã hội theo kiểu đô thị, ở đấy sản xuất không
còn mang nặng tính nông nghiệp nữa mà sản xuất công nghiệp và dịch vụ là chủ
yếu. Hay đây chính là thời kỳ quá độ từ nông thôn lên thành thị.
Đô thị hoá là quá trình tất yếu trong qúa trình công nghiệp hoá và hiện đại
hoá đất nước và chúng ta càng đẩy nhanh tốc độ đô thị hoá thì đời sống dân cư sẽ
ngày càng tăng nhanh hay chất lượng cuộc sống của con người ngày một được
nâng cao. Quá trình đô thị hoá là quá trình mang tính lịch sử song có sự tác động
rất lớn của con người, con người tác động tích cực hay tiêu cực đều có ảnh
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Tuấn Chung – Lớp KTNN 45
11
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KTNN & PTNT
hưởng lớn tới quá trình đô thị hoá. Khi chúng ta có cách thức tiến hành đô thị
hoá phù hợp thì quá trình đô thị hoá sẽ được đẩy nhanh và như thế đô thị sẽ được
hình thành nhanh chóng và cóp hiệu quả.
Theo kinh nghiệm của các nước trên thế giới và thực tế ở nước ta thì quá
trình đô thị hoá được chia thành hai xu hướng khá rõ nét đó là đô thị hoá tập
trung và đô thị hoá phân tán.
Đô thị hoá tập trung là hình thức mà toàn bộ công nghiệp và dịch vụ công
cộng được tập trung phát triển vào các thành phố lớn và xung quanh tạo nên
thành phố công nghiệp, tạo nên sự đối lập lớn giữa thành thị và nông thôn. Xu
hướng đô thị hoá này gây ra nhiều vấn đề mà các quá trình sau đó phải tiến hành
khắc phục và giải quyết các vấn đề về môi trường sinh thái và vấn đề xã hội.
Đô thị hoá phân tán hay còn gọi là quá trình hình thành đô thị vệ tinh, hình
thức đô thị này đã giải quyết các vấn đề khó khăn và trở ngại của đô thị hoá tập
trung. Đô thị hoá phân tán là hình thức hình thành các mạng lưới điểm dân cư có
trình độ phát triển hợp lý giữa công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ.
Đô thị hoá phân tán đảm bảo tính cân bằng sinh thái, tạo điều kiện cho con
người sống và làm việc tốt hơn. Quá trình đô thị hoá phân tán khi hoàn thành sẽ
tạo ra sự biến đổi sâu sắc về kinh tế, văn hoá, xã hội và đặc biệt là hệ thống cơ sở
vật chất kỹ thuật.
Chúng ta thấy rằng đô thị hoá tập trung sẽ có nhiều vấn đề xã hội đặt ra vì
đó là quá trình dân cư tập trung quá đông vào một khu vực khhiến cho các vấn
đề nảy sinh như: nhà ở, y tế, môi trường… khó có thể giải quyết được và quá
trình đô thị hoá như thế này sẽ khiến quá trình đô thị hoá không bền vững và
phải giải quyết những vấn đề nặng nề.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Tuấn Chung – Lớp KTNN 45
12
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KTNN & PTNT
Thực tế chững minh rằng, khi đô thị hoá phân tán sẽ phải mật nhiều thời
gian hơn đô thị hoá tập trung song tính tổng thể nền kinh tế quốc dân thì nhanh
hơn khi chúng ta phải tiến hành trên toàn bộ khu vực lãnh thổ của nước ta và khi
hoàn thành đô thị hoá phân tán thì chúng ta không phải giải quyết những vấn đề
xã hội sâu sắc như đô thị hoá tập trung.
Ngày nay, quá trình đô thị hoá được tiến hành nhanh và có hiệu qủa hơn
trước do tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại, đặc biệt ngày nay còn
có sự tác động đắc lực của công nghệ thông tin vào quá trình đô thị hoá. Đây là
những tiền đề cho phép chúng ta tiến hành đô thị hoá nhanh hơn và có hiệu quả
hơn. Đô thị hoá tập trung sẽ được tiến hành nhanh và tương đối có hiệu quả nếu
chỉ tính trong ngắn hạn vì chúng ta chỉ mất thời gian ngắn có thể hình thành các
đô thị có trình độ phát triển cao, mà điển hình là ở các nước phát triển thì việc đô
thị hoá tập trung là chủ yếu và ngày nay phải đối mặt với chênh lệch giữa thành
thị và nông thôn đồng thời phải giải quyết vấn đề dân cư và xã hội. Dân cư ở các
thành phố này tập trung rất đông, khiến các vấn đề xã hội này sinh ngày một lớn
và để giải quyết phải bỏ ra một khoản chi phí khổng lồ.
Tóm lại, chúng ta là một nước thực hiện đô thị hoá sau các nước trên thế
giới nên cần phải xem xét các mô hình đô thị hoá trên thế giới đồng thời phải căn
cứ vào tình hình cụ thể của từng địa phương mà chúng ta có thể áp dụng hình
thức đô thị hoá phân tán hoặc kết hợp giữa hai hình thức đó. Song chúng ta vẫn
tập trung ưu tiên cho phát triển đô thị theo hướng đô thị hoá phân tán hay còn gọi
là phát triển đô thị vệ tinh bao quanh các đô thị lớn để giảm sức ép về xã hội cho
các đô thị lớn.
1.1.2.2. Đặc điểm của đô thị hoá
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Tuấn Chung – Lớp KTNN 45
13
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KTNN & PTNT
− Đô thị hoá mang tính lịch sử và xã hội: ở đây đô thị hoá mang tính xã
hội vì quá trình đô thị hoá là quá trình tăng lên nhanh chóng của dân cư
và lao động mà chủ yếu là tăng dân số do biến động cơ học. Đi đôi với
nó là các vấn đề xã hội nảy sinh đó là các vần đề về nhà ở, khu vực
phục vụ sinh hoạt cộng đồng, giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao… qúa
trình đô thị hoá phát triển từ thấp tới cao tức là quá trình đó trước hết là
hình thành và phát triển những khu đô thị với quy mô nhỏ cùng trình
độ thấp về các mặt đồng thời mang nặng tính nông thôn và dần dần
thay đổi. Việc thay đổi này sớm hay muôn là do sự tác động của con
người là chủ yếu. Trong quá trình hình thành và phát triển thì đô thị sẽ
ngày càng hiện đại và có quy mô ngày càng lớn hơn. Quá trình đô thị
hoá cần phải trải qua một thời gian, thời gian này ngắn hay dài là do
nhiều yếu tố tác động, trong đó có cả yếu tố chủ quan và yếu tố khách
quan. Ở đây yếu tố khách quan là quan trọng song yếu tố chủ quan mới
là yếu tố quyết định.
− Đô thị hoá gắn liền với sự biến đổi sâu sắc về kinh tế - xã hội: chúng ta
thấy rằng đỉêm khởi đầu của quá trình đô thị hoá là một khu dân cư có
trình độ phát triển thấp và mang nặng tính sản xuất nông nghiệp, lối
sống nông thôn và đích đến của quá trình đô thị hoá là một xã hội có cơ
sở vật chất kỹ thuật hiện đại cùng lối sống kiểu thành thị song đậm đà
bản sắc văn hoá dân tộc. Tính chất đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc có
thể có những nơi không thực hiện. Việc thay đổi về kinh tế - xã hội như
thế trong một thời gian tương đối ngắn thì điều đó khẳng định tính gắn
bó mật thiết giữa biến đổi về kinh tế - xã hội với quá trình đô thị hoá.
Trong quá trình đô thị hoá thì trước hết hết thảy mọi người đều quan
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Tuấn Chung – Lớp KTNN 45
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét