CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY
I. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY VMS - MOBIFONE.
1. Thông tin chung về công ty VMS - MobiFone
Tên công ty: Công ty thông tin di động
Tên viết tắt: VMS
Tên giao dịch Quốc tế: Vietnam Mobile Telecom Services Company
Logo và khẩu hiệu:
Trụ sở chính: 216-Đường Trần Duy Hưng-Quận Cầu Giấy-Hà Nội
Số điện thoại: 04.7831794
Số Fax: 04.7831795
Email: www.mobifone.com.vn
Cơ quan quản lý cấp trên: Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam
(VNPT)
Số tài khoản ngân hàng: 361.100.10204.6
Tại ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam
Mã số thuế: 01.006862.09
Loại hình doanh nghiệp: Doanh nghiệp nhà nước hạng 1
2. Ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh chủ yếu
Khai thác, cung cấp các loại hình dịch vụ Thông tin di động. Các loại
hình dịch vụ của Công ty ngày càng được đa dạng hóa, phong phú, thích ứng
5
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
với nhu cầu của khách hàng, phù hợp với sự phát triển của khoa học công
nghệ hiện đại và có đủ sức cạnh tranh trên thị trường.
Các sản phẩm của công ty Thông tin di động cung cấp là MobiCard, Mobi
4U và MobiPlay
Các dịch vụ công ty cung cấp cho khách hàng :
- Dịch vụ thoại (Speech services)
- Dịch vụ cuộc gọi khẩn cấp (Emergency Call)
- Dịch vụ truyền số liệu
Dịch vụ giá trị gia tăng
- Dịch vụ hiện số chủ gọi (Calling Line Identification Presentation–CLIP)
- Dịch vụ cấm hiện số chủ gọi (Calling Line Identification Restriction–
CLR)
- Dịch vụ bản tin nhắn (Short Message Service – SMS)
- Dịch vụ giữ cuộc gọi (Call Hold-CH)
- Dịch vụ chờ cuộc gọi (Calling Waiting-CW)
- Dịch vụ chặn cuộc gọi (Calling Barring-CB)
- Dịch vụ chuyển cuộc gọi (Call Forwarding-CF)
- Dịch vụ gọi quốc tế (International Call-IC)
- Dịch vụ chuyển vùng quốc tế (International Roaming-IR)
- Dịch vụ chuyển vùng trong nước (National Roaming-NR)
Hệ thống dịch vụ nhắn tin (SMS) và hệ thống hộp thư thoại (VMS)
- Hệ thống nhắn tin SMS: bao gồm dịch vụ SMS và khai báo dịch vụ nhắn tin.
- Hệ thống hộp thư thoại VMS: bao gồm dịch vụ trả lời cuộc gọi (Call
Answering), dịch vụ chuyển tin từ hộp thư đến hộp thư (Mailbox To Mailbox
Messaging), dịch vụ truy xuất thông tin và dịch vụ báo tin nhắn tự động (Auto
Callback).
6
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Công ty đã phát triển cho khách hàng nhiều dịch vụ mới như : dịch vụ diện
thoại trả trước ,dịch vụ nạp tiền qua tin nhắn ngắn SMS (mobiEZ) dịch vị nạp
tiền bằng mã thẻ trả trước ,mobiplay,
- Dịch vụ điện thoại di động trả trước thuê bao ngày (mobi4U)
- Dịch vụ Mbichat, MobiMail, MobiFun, dịch vụ MobiLivescore
- Dịch vụ thông báo điểm thi đại học ,dịch vụ nhắn tin quốc tế
- Các dịch vụ đa dạng trên nền tin nhắn SMS.Đặc biệt đã triển khai đưa
vào khai thác thành công hệ thống GPRS thuộc công nghệ thông tin di động
2,5G và dịhj vụ tin nhắn đa phương tiện MMS.
Tất cả các dịch vụ này đang được triển khai và đem lại hiệu quả cao cho
sản xuất kinh doanh của công ty .
Sản phẩm mới
Công ty đã đang nghiên cứu và tung ra các sản phẩm mới trong năm 2007 như:
- Misscallalert : báo hiệu cuộc gọi nhỡ
- Dịch vụ thanh toán qua di động
- Webside trò chơi điện tử cho khách hàng di động.
II. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG TY THÔNG
TIN DI ĐỘNG VMS
1. Khái quát Lịch sử phát triển của hệ thống thông tin di động
Điện thoại di động ra đời từ những năm 1920, khi đó điện thoại di động chỉ
được sử dụng như là các phương tiện thông tin giữa các đơn vị cảnh sát ở Mỹ.
Mặc dù các khái niệm tổ ong, các kỹ thuật trải phổ, điều chế số và các công
nghệ vô tuyến hiện đại khác đã được biết đến từ hơn 50 năm trước đây nhưng
mãi đến đầu những năm 1960 mới xuất hiện ở các dạng sử dụng được và khi
đó nó chỉ là các sửa đổi thích ứng của các hệ thống điều vận. Các hệ thống
điện thoại di động đầu tiên này ít tiện lợi và dung lượng rất thấp so với các hệ
thống hiện nay.
7
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Hệ thống thông tin di động số sử dụng kỹ thuật đa truy nhập phân chia theo
thời gian (TDMA) đầu tiên trên thế giới được ra đời ở Châu Âu và có tên gọi
là GSM. Ban đầu, hệ thống này được gọi là “Nhóm đặc trách di động” (Group
Special Mobile) theo tên gọi của một nhóm được Hội nghị các cơ quan quản
lý viễn thông và bưu chính Châu Âu (CEPT) cử ra để nghiên cứu tiêu chuẩn.
Sau đó, để tiện cho việc thương mại hoá, GSM được gọi là “Hệ thống thông
tin di động toàn cầu” (Global System for Mobile communications). GSM
được phát triển từ năm 1982 khi các nước Bắc Âu gửi đề nghị đến CEPT để
quy định một dịch vụ viễn thông chung Châu Âu ở băng tần 900 MHz và cho
đến năm 1986, giải pháp TDMA băng hẹp đã được lựa chọn. Tất cả các hãng
khai thác ký biên bản ghi nhớ (MoU) hứa sẽ có một hệ thống GSM vận hành
vào ngày 01/07/1991. Một số nước đã công bố kết quả phủ sóng các vùng
rộng lớn ngay từ đầu, trong khi đó một số nước khác sẽ bắt đầu phục vụ ở bên
trong và xung quanh thủ đô. Ngày nay, GSM đã trở thành hệ thống thông tin
di động cho toàn cầu.
Ở Việt Nam, hệ thống thông tin di động số GSM được đưa vào từ năm
1993, Công ty VMS đã khai thác dịch vụ thông tin di động rất hiệu quả thông
qua hệ thống này.
Hiện nay, để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng viễn thông
về các dịch vụ viễn thông mới, các hệ thống thông tin di động đang tiến tới
thế hệ thứ ba (thế hệ một: thông tin di động tương tự; thế hệ hai: thông tin di
động số như hiện nay). Các hệ thống thông tin di động có xu thế hoà nhập
thành một tiêu chuẩn duy nhất và có khả năng phục vụ ở tốc độ cao hơn. Để
phân biệt với các hệ thống thông tin di động băng hẹp hiện nay, các hệ thống
thông tin di động thế hệ ba còn được gọi là các hệ thống thông tin di động
băng rộng.
8
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Để đáp ứng các dịch vụ mới nhất hiện nay là các dịch vụ truyền số liệu,
các hãng khai thác dịch vụ thông tin di động ở Việt Nam đang nghiên cứu
chuyển dần sang thông tin di động thế hệ ba. Trước mắt, các công nghệ thông
tin di động thế hệ 2,5 được đưa vào sử dụng mà hiện nay, nhà khai thác mạng
MobiFone đã đưa vào mạng của mình công nghệ WAP (giao thức ứng dụng
không dây) và GPRS (dịch vụ vô tuyến gói chung), cho phép tăng dung lượng
truy nhập và truy nhập trực tiếp vào Internet.
2.Quá trình phát triển của Công ty thông tin di động VMS.
Công ty Thông tin di động VMS (Vietnam Mobile Telecom Services
Company) là đơn vị hạch toán độc lập trực thuộc Tổng công ty Bưu chính -
Viễn thông Việt Nam, được thành lập theo Quyết định số 321/QĐ-TCCB- LĐ
ngày 16 tháng 04 năm 1993 của Tổng cục Trưởng Tổng Cục Bưu điện và
Quyết định số 596/QĐ-TCCB ngày 11 tháng 10 năm 1997 của Tổng Cục
trưởng Tổng Cục Bưu điện về việc thành lập doanh nghiệp Nhà nước Công ty
Thông tin di động.
Lĩnh vực hoạt động chính của Công ty
Khai thác, cung cấp các loại hình dịch vụ Thông tin di động. Các loại hình
dịch vụ của Công ty ngày càng được đa dạng hóa, phong phú, thích ứng với
nhu cầu của khách hàng, phù hợp với sự phát triển của khoa học công nghệ
hiện đại và có đủ sức cạnh tranh trên thị trường.
Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Thông tin di động
Ban đầu, Công ty chỉ có 5 người với nguồn vốn điều lệ 8.026.000.000
đồng, Công ty đã gặp không ít khó khăn do thiếu vốn và công nghệ, trụ sở
hoạt động của Công ty chưa có, phải đi thuê.
Được thành lập từ năm 1993 nhưng đến ngày 10/05/1994, mạng lưới thông
tin di động của Công ty mới chính thức đi vào hoạt động. Công ty VMS sử
dụng thiết bị của hãng Ericsson - là nhà cung cấp thiết bị di động số một thế
9
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
giới của Thụy Điển, ban đầu phục vụ thông tin di động cho khu vực Tp. Hồ
Chí Minh, Vũng Tàu, Biên Hòa gồm một tổng đài có dung lượng ban đầu
khoảng 6400 số thuê bao, 6 trạm thu phát sóng vô tuyến.
Đến ngày 01/07/1994, được phép của Tổng Công ty Bưu chính Viễn
Thông, Công ty tiếp tục quản lý, khai thác mạng lưới thông tin di động thử
nghiệm ở Hà Nội gồm một tổng đài dung lượng 2000 số thuê bao và 7 trạm
thu phát sóng vô tuyến. Đến hết năm 1995, mạng thông tin di động đã được
phủ sóng tại miền Trung, gồm một tổng đài với dung lượng khoảng 3500 số
thuê bao và 10 trạm thu phát sóng vô tuyến.
Ngày 25/10/1994, Công ty Thông tin di động trở thành một doanh
nghiệp Nhà nước hạch toán độc lập theo Nghị định số 388/NĐ-TTg của Thủ
tướng Chính phủ.
Bước ngoặt lớn trong quá trình phát triển của Công ty Thông tin di
động được đánh dấu bằng việc ký kết hợp đồng Hợp tác kinh doanh BCC
(Business Cooperation Contract) với tập đoàn Comvik/Kinnevik của Thụy
Điển vào ngày 19/05/1995 do Ủy ban Nhà nước về hợp tác đầu tư (SCCI),
nay là Bộ Kế hoạch và đầu tư (MPI), cấp giấy phép số 1242/GP; thời gian
thực hiện hợp đồng là 10 năm.
Theo đó, bên Việt Nam sẽ chịu các chi phí về địa điểm, nhà xưởng;
tuyển dụng, trả lương cho nhân công Việt Nam; các chi phí về điện,
nước, cho việc khai thác mạng thông tin di động; đảm bảo việc đấu nối với
mạng chuyển mạch điện thoại công cộng trung kế nội hạt, quốc tế, các truyền
dẫn khác và chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc khai thác mạng lưới hệ
thống điện thoại di động. Phía bạn góp vốn bằng các thiết bị máy móc, bảo
10
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
dưỡng, bảo đảm các kỹ thuật khai thác quản lý, đào tạo nhân viên Việt Nam,
tư vấn.
Sau hơn 14 năm hình thành, xây dựng và phát triển, Công ty Thông tin di
động VMS đã có trụ sở chính tại Hà Nội và 4 trung tâm khu vực đặt tại Hà
Nội, Tp. Hồ Chí Minh Đà Nẵng và Cần Thơ. Đến nay, Công ty Thông tin di
động đã có mạng lưới phủ sóng 64/64 tỉnh thành, các địa phương đều có văn
phòng hoặc đại lý giao dịch của Công ty.
Mạng dịch vụ Thông tin di động của Công ty được lấy tên là MobiFone.
Trụ sở chính của Công ty đặt tại 216 đường Trần Duy Hưng Hà Nội.
Công ty có 4 trung tâm Thông tin di động là các đơn vị sản xuất kinh doanh
hạch toán trực thuộc Công ty đặt tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà
Nẵng và Cần Thơ.
Trung tâm 1: Đặt tại 811A Đường Giải Phóng, Quận Hoàng Mai, Hà
Nội. Trung tâm 1 chịu trách nhiệm trực tiếp kinh doanh, khai thác thị trường
thông tin di động tại Hà Nội và khu vực phía Bắc (đến tỉnh Quảng Bình).
Trung tâm 2: Đặt tại MM18 Đường Trường Sơn, Phường 14, Quận 10,
Tp. Hồ Chí Minh. Trung tâm 2 chịu trách nhiệm trực tiếp kinh doanh, khai
thác thị trường thông tin di động tại các tỉnh phía Nam (từ Ninh Thuận trở
vào).
Trung tâm 3: Đặt tại 263 Nguyễn Văn Linh, phường Thạc Gián, Quận
Thanh Khê, Đà Nẵng. Trung tâm 3 chịu trách nhiệm trực tiếp kinh doanh khai
thác thị trường thông tin di động tại khu vực thị trường miền Trung.
Trung tâm 4: Đặt tại 85 B1 – Trung tâm Thương mại Cái Khế Cần Thơ,
chịu trách nhiệm trực tiếp kinh doanh, khai thác thị trường thông tin di động
tại 10 tỉnh miền Tây: Cần Thơ, Hậu Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp,
11
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Kiên Giang, An Giang, Cà Mau, Sóc Trăng và Bạc Liêu. (theo quyết định mới
nhất số 257/QĐ-VMS-TC ngày 10/3/2006 của Giám đốc Công ty Thông tin di
động).
III. KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH
Bảng 1: Năng lực tài chính của Công ty.
Đơn vị tính:Triệu đồng.
Chỉ tiêu 2003 2004 2005
1.Tổng số tài sản có 189.200 227.040 274718
2. Nguyên giá TSCĐ 38.570 42.629 45.276
3. Giá trị còn lại của TSCĐ 24.231 25.600 27.915
4. Tài sản có lưu động 132.210 138.245 140.351
5. Tổng tài sản nợ 139.240 159.500 163.000
6. Tổng số nợ lưu động 121.300 102.612 120.000
7. Lợi nhuận trước thuế 7.150.135 7.681.800 8.810.560
8. Nộp ngân sách 1.490 1.846 2.459
9. Lợi nhuận sau thuế 7.148.645 7.679.954 8.808.101
10. Vốn lưu động 4.465.000 5.496.026 6.189.165
11. Doanh thu 7.547.958 9.057.549 10.959.635
12. Doanh thu thuần 132.261 158.713 196.804
13.Tổng thu nhập 142.200 145.230 151.520
14. N.Vốn CSH 8.078.439 9.498.731 10.245.727
15. N.vốn KD 37.100 38.120 40.531
(Nguồn: Báo cáo tổng kết tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty 3
năm 2003-2005)
Năng lực tài chính của Công ty Thông tin di động được thể hiện ở khả
năng tài chính tự có, hiệu quả sử dựng vốn, khả năng huy động các nguồn vốn
cho phát triển kinh doanh của Công ty. Sức mạnh vốn và tài chính là tiêu chí
để chủ đầu tư tin tưởng. Khả năng về vốn và tài chính là một trong những tiêu
chuẩn để đánh giá nhà thầu mạnh hay yếu. Nếu Công ty có khả năng mạnh về
vốn, có đủ sức đảm bảo ứng vốn thi công ngay cả trong trường hợp chủ đầu
tư không thanh toán trước thì uy tín trên thị trường và khả năng trúng thầu là
12
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
rất lớn. Có được sức mạnh về vốn cho phép Công ty tiến hành các biện pháp,
các chính sách marketing đòi hỏi sự tốn kém, nó đảm bảo chi phí cho Công ty
để thu thập các thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình đấu thầu. Thứ hai nó
cho phép Công ty mua sắm, nhập khẩu các loại máy móc, trang thiết bị, công
nghệ hiện đại để tăng sức cạnh tranh. Thứ ba, nó tạo sự tin tưởng cho nhà thầu
với Công ty khi biết mình làm ăn với đối tác có năng lực tài chính đủ mạnh để
đảm bảo thực hiện tốt mối quan hệ hợp đồng giữa hai bên.
Từ bảng trên, ta thấy doanh thu của công ty vẫn giữ nguyên mức ổn
định với mức tăng trưởng trung bình hàng năm khoảng 20%. Tuy nhiên, trong
điều kiện như hiện nay Công ty đã đạt được thành tích như thế là có thể chấp
nhận được và vẫn có thể coi là có thuận lợi về tài chính trong đấu thầu.
13
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Bảng 2: Tổng kết Tài sản và Nguồn vốn của Công ty qua 3 năm 2003-2005.
Đơn vị: Triệu đồng.
Năm 2003 2004 2005
TÀI SẢN
A. Tài sản lưu động và đầu tư ngắn
hạn
13.258.336 16.425.496 20764244
I. Tiền 10.561.000 12.785.000 15.135.000
II. Các khoản tài chính đầu tư ngắn
hạn
61.451 80.140 95.670
III. Các khoản phải thu 2.584.000 3.489.000 5.469.000
IV. Hàng tồn kho 43.762 62.156 53.174
V. Tài sản lưu động khác 8.123 9.200 11.400
B. Tài sản cố định và đầu tư dài hạn
49.740.951 54.108.300 60.025.111
Tài sản cố định
Nguyên giá
Hao mòn luỹ kế
40.038.570
40.038.570
1.453.239
42.135.629
42.135.629
1.607.029
45.214.276
45.214.276
1.817.351
II. Các khoản đầu tư tài chính dài hạn 11.153.500 13.576.450 14.987.946
IV. Các khoản ký quỹ, ký cược dài hạn 2.120 3.205 4.620
Tổng cộng tài sản
51.066.287 55.734.796 60.789.355
NGUỒN VÔN
A.Nợ phải trả
81.563,5 92.829 95.140
Nợ ngắn hạn 55.810 60.450 59.785
Nợ dài hạn 23.568 28.264 31.257
Nợ khác 2.185,5 4.115 4.598
B. Nguồn vốn chủ sở hữu
78.439 98.731 105.727
Nguồn vốn ngân sách 50.824.721 55.450.407 60.492.848
Tổng cộng nguồn vốn
51.066.287 55.734.796 60.789.355
( Nguồn: Phòng tài chính kế toán.)
Từ bảng cân đối kế toán trên, về mặt Tài sản ta thấy Tài sản lưu động của
Công ty là tương đối lớn và tăng đều trong 3 năm. Nhưng các khoản phải thu
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét