Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Một số giải pháp nhằm mở rộng công tác huy động vốn tại chi nhánh Agribank Ba Đình

nhận tiền gửi, cho vay, chi trả hộ nhng ngân hàng đã mở rộng cả về quy mô, ph-
ơng thức đặc biệt là công nghệ. Cho nên các NHTM ngày càng khẳng định đợc vị
thế của mình trong sự phát triển của nền kinh tế đất nớc. Điều này đợc minh họa
thông qua chức năng của NHTM sau đây:
1.2.1. Chức năng trung gian tài chính.
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là
chuyển tiết kiệm thành đầu t, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ chức
trong nền kinh tế đó là: cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu, tức là chi
tiêu cho tiêu dùng và đầu t vợt quá thu nhập; do đó họ là những ngời cần bổ sung
vốn; loại cá nhân và tổ chức thứ hai là những ngời thặng d trong chi tiêu, tức là thu
nhập của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hóa và do đó họ có tiền để tiết
kiệm.
Trong nền kinh tế thị trờng, NHTM là một trung gian tài chính quan trọng
trong việc điều chuyển vốn từ ngời thừa vốn sang ngời thiếu vốn khi họ có nhu
cầu bổ sung vốn. Cụ thể, NHTM thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội
thông qua các phơng thức huy động vốn khác nhau với những thời hạn khác nhau
nhằm tập trung một lợng vốn để đáp ứng nhu cầu của các thành phần kinh tế.
Chính việc điều chuyển này mà các NHTM có vai trò quan trọng trong việc thúc
đẩy tăng trởng kinh tế, tăng thêm việc làm, cải thiện mức sống của dân c, ổn định
thu chi của Chính phủ. Qua đó, NHTM góp phần quan trọng vào việc điều hòa lu
thông tiền tệ, ổn định sức mua đồng tiền, kiềm chế lạm phát.
Nhờ việc đi vay để cho vay, NHTM có nguồn thu chủ lực không những
đóng thuế cho Nhà nớc mà còn có lãi để duy trì bộ máy hoạt động, đảm bảo cho
sự phát triển không ngừng cho bản thân ngành ngân hàng.
1.2.2. Chức năng tạo phơng tiện thanh toán.
Trong quá trình kinh doanh tiền tệ các chủ ngân hàng đã phát hành ra giấy
chứng nhận tiền gửi, tín phiếu đợc khách hàng sử dụng để chi trả các khoản nợ. Vì
vậy vàng đợc chuyển đổi ra tiền giấy và đợc các ngân hàng đa vào lu thông qua
nghiệp vụ tín dụng để thay thế cho tiền vàng hoặc bạc. Sáng kiến này đợc xã hội
chấp nhận và đây chính là phát minh có giá trị nhất trong lịch sử hoạt động tiền tệ.
Việc in tiền mang lại lợi nhuận rất lớn, đồng thời với nhu cầu có đồng tiền quốc
gia duy nhất đã dẫn đến việc Nhà nớc tập trung quyền lực phát hành (in) tiền giấy
vào một tổ chức duy nhất đó là Bộ Tài chính hoặc Ngân hàng Trung ơng. Từ dó
chấm dứt việc các NHTM tạo ra các giấy bạc của riêng mình.
Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng, các khách hàng nhận
thấy nếu họ có đợc số d trên tài khoản tiền gửi thanh toán, họ có thể chi trả để có
5
đợc hàng hóa và dịch vụ theo yêu cầu. Theo quan điểm hiện đại, đại lợng tiền tệ
bao gồm nhiều bộ phận. Thứ nhất là tiền giấy trong lu thông (M
0
) thứ hai là số d
trên tài khoản tiền gửi giao dịch của các khách hàng tại các ngân hàng, thứ ba là
tiền gửi trên các khoản tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn
Khi ngân hàng cho vay, số d trên tiết kiệm thanh toán của khách hàng tăng
lên khác hàng có thể dùng để mua hàng hóa và dịch vụ. Do đó, bằng việc cho vay
(hay tạo tín dụng) các ngân hàng đã tạo ra phơng tiện thanh toán (tham ra tạo ra
M
1
).
Toàn bộ hệ thống NHTM cũng tham ra tạo phơng tiện thanh toán khi các
khoản tiền gửi đợc mở rộng từ ngân hàng này sang ngân hàng khác trên cơ sở cho
vay. Khi khách hàng tại một ngân hàng sử dụng khoản tiền vay để chi trả thì sẽ tạo
nên khoản thu (tức là tăng số d tiền gửi) của một khách hàng khác tại một ngân
hàng khác từ đó tạo ra các khoản cho vay mới. Trong khi không một ngân hàng
riêng lẻ nào có thể cho vay lớn hơn dự trữ d thừa, toàn bộ hệ thống ngân hàng có
thể tạo ra khối lợng tiền gửi (tạo phơng tiện thanh toán) gấp bội thông qua hoạt
động cho vay.
1.2.3. Chức năng trung gian thanh toán.
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các
quốc gia. Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa,
dịch vụ. Để việc thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân
hàng đa ra nhiều hình thức thanh toán nh: thanh toán bằng séc, ủy nhiệm chi, nhờ
thu, các loại thẻ cung cấp mạng l ới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung
cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Các ngân hàng còn thực hiện thanh toán bù trừ
với nhau thông qua Ngân hàng Trung ơng hoặc thông qua các trung tâm thanh
toán. Công nghệ thanh toán qua ngân hàng càng đạt hiệu quả cao khi quy mô sử
dụng công nghệ đó ngày càng đợc mở rộng. Vì vậy, công nghệ thanh toán hiện đại
qua ngân hàng thờng đợc các nhà quản lý sử dụng rộng rãi. Nhiều hình thức thanh
toán đợc chuẩn hóa góp phần tạo tính thống nhất trong thanh toán không những
giữa các ngân hàng trong cùng một quốc gia mà còn giữa các ngân hàng trên toàn
thế giới. Các trung tâm thanh toán quốc tế đợc thành lập đã làm tăng hiệu quả của
thanh toán qua ngân hàng, biến ngân hàng trở thành trung tâm thanh toán quan
trọng và có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho nền kinh tế toàn cầu.
Do thực hiện chức năng thanh toán, NHTM có điều kiện huy động tiền gửi
của xã hội, trớc hết là của các doanh nghiệp tới mức tối đa, tạo nguồn vốn cho vay,
đầu t và đẩy mạnh hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Từ những chức năng của NHTM ta thấy chúng có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau, hỗ trợ cho nhau. Khi NHTM là trung gian tín dụng thì NHTM sẽ huy động
6
vốn bằng nhiều cách khác nhau, có thể huy động từ các tổ chức kinh tế , huy động
vốn từ dân c thông qua các hình thức tiết kiệm, kỳ phiếu . Qua đó ngân hàng sẽ
tập trung đợc một lợng vốn nhàn rỗi từ các thành phần kinh tế khác nhau và khi họ
cha có nhu cầu sử dụng hoặc cha đến thời hạn thanh toán. Ngân hàng sẽ sử dụng
chúng để cho vay đối với những ngời có nhu cầu vay vốn. Khi các bên có nhu cầu
chi trả, thanh toán Ngân hàng sẽ đứng ra làm trung gian thanh toán. Nh vậy, giữa
các chức năng của ngân hàng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Khi vai trò trung
gian thanh toán làm tốt, khách hàng sẽ tin tởng vào ngân hàng và sẽ gửi tiền nhiều
vào ngân hàng nhờ thanh toán hộ. Nh thế vốn ngân hàng huy động đợc sẽ tăng lên,
ngân hàng có thêm vốn để đáp ứng nhu cầu đi vay và chức năng trung gian tín
dụng của ngân hàng lại càng phát huy.
Với chức năng trung gian thanh toán và trung gian tín dụng trong nền kinh
tế quốc dân, hệ thống các NHTM đã tăng khối lợng tiền lên gấp bội thông qua cơ
chế thanh toán chuyển khoản. Điều này đã làm cho các chức năng ngày càng liên
hệ chặt chẽ với nhau, ảnh hởng tới các hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Tất cả các chức năng trên của NHTM đều đáng lu tâm. Tuy nhiên, ở mỗi
thời kỳ khác nhau, hoàn cảnh khác nhau của nền kinh tế mà ngời ta chú trọng đến
một chức năng cơ bản của hệ thống NHTM. Với mục tiêu ổn định tiền tệ, kiềm
chế lạm phát thì chức năng tạo tiền đợc lu tâm hàng đầu. Với mục tiêu huy động
vốn cho đầu t phát triển thì chức năng nhận tiền gửi để cho vay của ngân hàng đợc
chú trọng phát huy hơn cả. NHTM còn là trung gian thanh toán thỏa mãn nhu cầu
thanh toán, giao dịch trong nền kinh tế hàng hóa
7
1.3. Vai trò của NHTM.
1.3.1. NHTM là công cụ quan trọng thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển.
Một doanh nghiệp muốn tồn tại hay tiến hành bất kỳ một hoạt động kinh
doanh nào cũng đều cần phải có vốn, bởi vốn là giá trị của các tài sản xã hội đợc
đa vào đầu t nhằm mang lại hiệu quả trong tơng lai. Chính vì vốn có vai trò quyết
định trong việc tạo ra của cải vật chất và những tiến bộ xã hội nên nó là nhân tố vô
cùng quan trọng để thực hiện quá trình ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, phát
triển cơ sở hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh
tế.
Trong nền kinh tế thị trờng, dù hoạt động ở lĩnh vực nào thì vốn cũng là một
trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định hiệu quả hoạt động của nó. Trong
lĩnh vực thơng nghiệp vốn làm tăng khả năng dự trữ hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ
vận chuyển hàng hóa đến tay ngời tiêu dùng góp phần thúc đẩy việc tiêu thụ sản
phẩm. Trong lĩnh vực tài chính, vốn giúp chính phủ cải thiện đợc tình hình thiếu
vốn của Ngân sách vì thu nhập của Nhà nớc không phải lúc nào cũng đủ để bù đắp
chi phí. Bên cạnh đó, cùng với việc thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển, vốn sẽ
góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp và các thành phần
kinh tế, đồng thời nó tạo ra quá trình đào thải đối với những doanh nghiệp mà
nguồn vốn tích lũy thấp, sử dụng vốn kém hiệu quả, sản xuất nhỏ, lạc hậu không
đủ sức cạnh tranh.
Từ những lý do trên, ta thấy vốn đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình
phát triển kinh tế xã hội. Nhng nguồn vốn đó lấy từ đâu? ai là ngời cung ứng
vốn cho nền kinh tế? Thực tế ở nớc ta cho thấy, do thị trờng chứng khoán cha phát
triển nên NHTM đóng vai trò là tác nhân quan trọng trong việc cung ứng vốn.
Thông qua hoạt động cho vay, ngân hàng đã tạo ra khả năng cho vay đối với các
doanh nghiệp hoạt động trong mọi lĩnh vực. Đồng thời, khi thực hiện các nghiệp
vụ thanh toán, t vấn, hỗ trợ cho các hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp đã
góp phần đẩy nhanh tốc độ luân chuyển hàng hóa, thúc đẩy việc tiêu thụ sản
phẩm. NHTM còn đóng vai trò quan trọng trong việc tài trợ dự án, các chơng trình
xây dựng cơ bản, tăng cờng cơ sở vật chất kỹ thuật của đất nớc và hỗ trợ các chơng
trình dự án tạo việc làm cho ngời lao động, tạo điều kiện nâng cao mức sống của
họ.
Nhng không phải chỉ có những nớc cha có thị trờng chứng khoán hoặc thị
trờng chứng khoán cha phát triển mà ngay tại các nớc có thị trờng chứng khoán
phát triển thì ngân hàng vẫn là một tác nhân quan trọng trong vấn đề cung cấp vốn
vì không phải bất kỳ doanh nghiệp nào cũng đủ điều kiện để tham gia thị trờng
8
chứng khoán. Hơn nữa, thị trờng chứng khoán hoạt động thì NHTM vẫn có vai trò
nh là một chiếc cầu nối giữa thị trờng tiền tệ và thị trờng chứng khoán. Ngoài ra
khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, trung gian thanh toán NHTM còn góp
phần giám sát kỷ luật tài chính quốc gia trong quá trình triển khai các hoạt động
tiền tệ tín dụng.
1.3.2. NHTM là công cụ thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ơng.
Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ơng là một bộ phận quan trọng
trong hệ thống các chính sách kinh tế tài chính vĩ mô của Chính phủ. Chính
sách tiền tệ là tổng hòa các phơng thức mà Ngân hàng Trung ơng thông qua các
hoạt động của mình tác động đến khối lợng tiền tệ trong lu thông nhằm phục vụ
cho việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của đất nớc trong từng thời kỳ nhất
định.
Trong nền kinh tế thị trờng, mức cung tiền tệ có tác động mạnh mẽ đến tăng
trởng kinh tế, thông qua sự thúc đẩy mức tăng giảm tổng sản phẩm quốc nội
(GDP). Do đó sự điều tiết của Ngân hàng Trung ơng đối với khối lợng tiền trong l-
u thông là rất cần thiết sao cho phù hợp với những diễn biến của nền kinh tế để
góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển ổn định, kiềm chế đợc tốc độ gia tăng của lạm
phát. Muốn điều tiết đợc khối lợng tiền tệ này, Ngân hàng Trung ơng phải thông
qua các công cụ điều tiết trực tiếp và gián tiệp nh: lãi suất cơ bản, hạn mức tín
dụng, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất chiết khấu, hoạt động của thị trờng mở . Nh -
ng phần lớn các công cụ thực hiện chính sách tài chính tiền tệ của Ngân hàng
Trung ơng chỉ đợc thực thi có hiệu quả khi có sự hợp tác tích cực và có hiệu quả
của các NHTM. Đó là việc chấp hành quy chế dự trữ bắt buộc, quy chế thanh toán
không dùng tiền mặt, đến việc nâng cao hiệu quả cho vay và đầu t.
NHTM chịu sự quản lý của nhà nớc mà trực tiếp là sự quản lý của Ngân
hàng Trung ơng nên khi thực hiện các nghiệp vụ của mình NHTM đều phải tuân
theo các quy chế , văn bản do Ngân hàng Trung ơng ban hành.
Từ chức năng, vai trò của NHTM ta thấy NHTM thực chất là tổ chức kinh
doanh trên lĩnh vực tiền tệ tín dụng, là một tổ chức trung gian tài chính với
chức năng nhận tiền gửi để cho vay, thực hiện các nghiệp vụ thanh toán
2. Vốn và nguồn vốn của NHTM.
Hoạt động của NHTM luôn gắn liền với công tác huy động vốn. Vậy ta hiểu
nh thế nào là vốn?
Trong nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, việc tạo nguồn vốn và đầu t
vốn là công việc của Nhà nớc, nghĩa là Nhà nớc đóng vai trò vừa là ngời cấp phát
vốn đầu t cho các thành phần kinh tế, vừa là ngời tiêu thụ các sản phẩm mà các
9
thành phần kinh tế đó sản xuất. Vốn của các doanh nghiệp chủ yếu do ngân sách
của Nhà nớc cấp hoặc vay tín dụng ngân hàng với lãi suất thấp. Thực tế cho thấy,
nhu cầu vốn của các doanh nghiệp là rất lớn trong khi nguồn vốn ngân sách Nhà
nớc cấp lại có hạn và nguồn vốn nhàn rỗi trong dân c không thu hút đợc,vì chính
sách huy động vốn cha hợp lý, thủ tục gửi tiền và rút tiền còn rờm rà Nh vậy cơ
chế bao cấp đã làm cho đồng tiền không đợc lu thông và sử dụng có hiệu quả,
không có nơi giao dịch mua bán trên thị trờng. Mặt khác cơ chế huy động vốn và
sử dụng vốn trong thời kỳ này cha đợc quan tâm đúng mức.
Khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trờng, với chính sách phát triển nền
kinh tế nhiều thành phần, Nhà nớc đã khuyến khích các thành phần kinh tế tự bỏ
vốn đầu t. Điều đó làm cho vốn trở thành yếu tố quan trọng hàng đầu và là điều
kiện tiên quyết của mọi quá trình đầu t sản xuất kinh doanh. Các doanh nghiệp
Nhà nớc không thể bỗng dng mà có đợc vốn vì không đợc cấp vốn nh trớc nữa,
cho nên buộc họ phải tìm cách mua vốn trên thị trờng tài chính. Nh thế ngời mua
vốn phải trả lãi cho ngời có vốn trên thị trờng một khoản phí để có đợc quyền sử
dụng vốn trong thời gian xác định. Thông qua thị trờng, vốn đợc lu chuyển rộng
rãi, từ đó nó mới có thể thể hiện đủ bản chất và vai trò của mình. C.Mác đã khái
quát hoá phạm trù vốn là: T bản qua định nghĩa hết sức cô đọng: t bản là giá trị
mang lại thặng d.
Nh vậy, vốn phải đợc biểu hiện dới hình thái giá trị của tài sản tức là vốn
phải đợc đại diện cho một lợng giá trị thực của tài sản nhất định. Mặt khác vốn
không chỉ biểu hiện thành tiền (tiền giấy, vàng, bạc, đá quý ) và phản ánh giá trị
những tài sản hữu hình (máy móc thiết bị, đất đai, nhà cửa ) mà còn đ ợc biểu
hiện bằng giá trị của những tài sản vô hình (uy tín, trình độ, phát minh, sáng chế,
thông tin, công nghệ ) chính vì sự biểu hiện d ới các hình thức phong phú và đa
dạng đó mà vốn cần phải đợc khai thác, sử dụng có hiệu quả mới đem lại lợi
nhuận cao. Và cũng qua đó giúp ta phân biệt với tiền lơng dễ dàng hơn: nếu có
một lợng tiền đợc in không đợc phát hành trên cơ sở giá trị thực của hàng hoá để
đa vào đầu t thì đó chỉ là vốn giả tạo chứ không phải là vốn đầu t, thực chất chỉ
những đồng tiền phát hành trên cơ sở đảm bảo bằng giá trị thực của hàng hoá mới
đợc gọi là vốn.
Nh ta đã biết trong quá trình vận động, khác với các loại hàng hoá, điểm
xuất phát và điểm kết thúc của vốn đều là tiền. Sau một chu kỳ vận động vốn đợc
lớn lên và đem lại hiệu quả cao, thể hiện:
10
Trong doanh nghiệp sản xuất:
T-H SX H-T T= T+t >T
Trong NHTM:
T=H-T
Còn trong các tổ chức tài chính trung gian:
T=T-T
Tóm lại từ những nét đặc thù trên ta có thể đa ra khái niệm nh sau: Vốn là
các tài sản trong xã hội đợc đa vào đầu t nhằm mang lại hiệu quả trong tơng lai. Vì
thế trong nền kinh tế thị trờng dù hoạt động trong lĩnh vực nào thì vốn cũng là một
yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả của nó. Hoạt động ngân hàng cũng vậy,
muốn hoạt động kinh doanh có hiệu quả mang lại hiệu quả cao thì công tác huy
động cần phải đợc quan tâm đúng mức.
Nớc ta cũng nh bất kỳ nớc nào khác trên thế giới, muốn thực hiện công
nghiệp hóa - hiện đại hóa cũng cần phải có vốn. Vốn là chìa khóa, là điều kiện
hàng đầu để thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Vốn trong nền kinh tế có
thể ví nh máu trong cơ thể. Thiếu vốn nền kinh tế sẽ chậm phát triển. Song vốn đ-
ợc tạo lập từ đâu, bằng cách nào phụ thuộc rất lớn vào cơ chế, chính sách tạo vốn.
Nguồn vốn của NHTM đóng vai trò quan trọng không chỉ trong hoạt động
kinh doanh của ngân hàng mà còn đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát
triển kinh tế xã hội. Vậy, nguồn vốn của NHTM là gì?
Nguồn vốn của NHTM là toàn bộ các nguồn tiền mà ngân hàng tạo lập
và huy động đợc để đầu t cho vay và đáp ứng các nhu cầu khác trong hoạt động
kinh doanh của ngân hàng.
Nguồn vốn mà ngân hàng tạo lập và huy động đợc không những giúp cho
ngân hàng tổ chức đợc mọi hoạt động kinh doanh mà còn góp phần quan trọng
trong việc đầu t phát triển sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp nói riêng
cũng nh sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân nói chung. Tuy nhiên,
nguồn vốn của NHTM đợc hình thành từ nhiều nguồn khác nhau nh: vốn chủ sở
hữu, vốn huy động, vốn đi vay và các loại vốn khác.
2.1. Vốn chủ sở hữu.
Vốn chủ sở hữu của ngân hàng là bộ phận vốn riêng của ngân hàng, nó
thuộc quyền sở hữu của ngân hàng. Cũng nh bất cứ tổ chức kinh tế nào khác,
11
muốn đi vào hoạt đông sản xuất kinh doanh phải có vốn riêng thuộc sở hữu của
mình. Đây là yêu cầu bắt buộc đối với tất cả các tổ chức kinh tế thực hiện việc
kinh doanh.
Vốn chủ sở hữu của ngân hàng thờng chiếm tỷ trọng nhỏ trên tổng nguồn
vốn nhng lại có vai trò hết sức quan trọng. Bởi nó mang tính chất ổn định và có thể
sử dụng trong mọi hoạt động kinh doanh và trong quá trình hoạt động nó, là cơ sở
quyết định đến phơng hớng phát triển của ngân hàng. Các nhà quản lý ngân hàng
lấy mức vốn chủ sở hữu để xây dựng kế hoạch, khả năng huy động vốn và việc mở
rộng hay chuyển hớng đầu t trong quá trình sử dụng vốn.
Các NHTM đợc phép dùng vốn chủ sở hữu để mua các tài sản cố định nh:
nhà cửa, thiết bị văn phòng để có thể vận hành hoạt động đ ợc. Ngoài ra, đây còn
là nguồn bổ sung vào các khoản mục cho vay và đầu t mà nguồn vốn huy động
không đáp ứng đủ với lý do về thời hạn. Vốn chủ sở hữu của ngân hàng dùng để
chống đỡ sự sụt giảm giá của các tài sản có của NHTM, đảm bảo khả năng thanh
toán cho ngời gửi tiền Vì vậy, nguồn vốn chủ sở hữu có vai trò trong hoạt động
của ngân hàng với các chức năng: Chức năng bảo vệ, chức năng đảm bảo thanh
toán, chức năng hoạt động.
Vốn chủ sở hữu của NHTM bao gồm vốn điều lệ, các quỹ dự trữ và nguồn
vốn bổ sung trong quá trình hoạt động.
2.1.1. Vốn điều lệ.
Vốn điều lệ là mức vốn đợc ghi trong điều lệ của ngân hàng, tối thiểu phải
bằng vốn pháp định. Đây là điều kiện quyết định để ngân hàng đợc phép thành lập
và hoạt động. Đối với mỗi loại hình sở hữu ngân hàng vốn điều lệ có nguồn gốc
khác nhau. Vốn điều lệ do Ngân sách Nhà nớc cấp đối với NHTM quốc doanh,
vốn điều lệ do cổ đông góp đối với NHTM cổ phần, vốn điều lệ do các bên đóng
góp đối với các ngân hàng liên doanh Mức vốn điều lệ của mỗi ngân hàng phụ
thuộc vào mức góp vốn của mỗi chủ sở hữu ngân hàng song nhìn chung không đợc
thấp hơn mức vốn pháp định mà Chính phủ quy định. Vốn điều lệ chính là căn cứ
pháp lý để thành lập ngân hàng, là chỉ tiêu phản ánh quy mô, năng lực hoạt động
của ngân hàng.
2.1.2. Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động.
Trong quá trình hoạt động, ngân hàng gia tăng vốn chủ theo nhiều phơng
thức khác nhau tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng ngân hàng, từng loại hình
ngân hàng, ngân hàng có thể bổ sung từ lợi nhuận để lại hoặc bổ sung từ phát hành
thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm
12
Nguồn bổ sung từ lợi nhuận: trong điều kiện thu nhập ròng lớn hơn không,
chủ ngân hàng có xu hớng gia tăng vốn chủ sở hữu bằng cách chuyển một phần
thu nhập ròng thành vốn đầu t. Tỷ lệ tích lũy phụ thuộc vào quyết định của chủ
ngân hàng về tích lũy và tiêu dùng. Những ngân hàng lâu năm, nguồn vốn tích lũy
từ lợi nhuận sẽ cao hơn so với vốn chủ sở hữu hình thành ban đầu.
Nguồn bổ sung từ phát hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm để mở
rộng quy mô hoạt động, để đổi mới trang thiết bị, hoặc để đáp ứng nhu cầu gia
tăng thêm vốn chủ sở hữu do Ngân hàng Trung ơng quy định Đặc điểm của
nguồn này là không thờng xuyên, song giúp cho chủ ngân hàng có đợc lợng vốn
lớn lúc cần thiết.
2.1.3. Các quỹ.
Ngân hàng có nhiều quỹ, mỗi quỹ có mục đích riêng, các quỹ này thuộc sở
hữu của ngân hàng, nguồn hình thành các quỹ này là từ thu nhập của ngân hàng.
Tuy nhiên, việc sử dụng các quỹ này vào hoạt động kinh doanh phụ thuộc vào mục
đích sử dụng quỹ.
Ta có thể kể đến một số quỹ của ngân hàng nh sau: Quỹ dự phòng tổn thất,
quỹ này đợc trích lập hàng năm và đợc tích lũy lại nhằm bù đắp những tổn thất sảy
ra. Quỹ bảo toàn vốn nhằm bù đắp hao mòn của vốn dới tác động của lạm phát.
Quỹ thặng d là phần đánh giá lại tài sản của ngân hàng và chênh lệch giữa mệnh
giá và thị giá của cổ phiếu khi phát hành cổ phiếu mới. Ngoài ra các ngân hàng
còn có thể có các quỹ sau: quỹ khen thởng, quỹ phúc lợi, quỹ giám đốc
2.2. Nguồn vốn huy động.
Đây là nguồn vốn chủ yếu và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn
của một NHTM thờng chiếm từ 70% đến 80%. Nguồn vốn huy động là nguồn vốn
không thuộc sở hữu của ngân hàng, nhng ngân hàng có quyền sử dụng tạm thời
khoản vốn này và cho vay đối với khách hàng để hởng lãi. Để đợc quyền sử dụng
khoản vốn này ngân hàng phải trả cho ngời gửi tiền tiết kiệm, những ngời mua trái
phiếu một khoản tiền bằng lãi suất huy động tính trên số tiền huy động. Ngoài ra
ngân hàng còn phải có trách nhiệm hoàn trả đúng hạn các khoản vốn này theo thỏa
thuận giữa khách hàng và ngân hàng.
Vì ngân hàng là một tác nhân quan trọng trong việc cung ứng vốn cho nền
kinh tế nên việc tạo lập vốn cho ngân hàng là vấn đề quan trọng hàng đầu. Trong
nguồn vốn của NHTM thì nguồn vốn huy động đóng vai trò quan trọng. Để có đủ
vốn đáp ứng nhu cầu của xã hội, ngân hàng đã huy động vốn qua nhiều cách thức
khác nhau. Có rất nhiều cách thức phân loại nguồn vốn huy động khac nhau dựa
trên các tiêu thức khác nhau:
13
- Phân loại theo kỳ hạn: có nguồn ngắn hạn, trung và dài hạn.
- Phân loại theo chủ thể: có huy động từ các tổ chức kinh tế, huy động từ
dân c.
- Phân loại theo loại tiền huy động: có huy động bằng nội tệ, huy động
bằng ngoại tệ.
Ngoài ra còn có tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn. Tiền gửi
không kỳ hạn là loại tiền gửi mà ngời gửi có thể gửi vào và rút ra một cách linh
hoạt không có cam kết trớc về kỳ hạn. Cho nên loại nguồn này có đặc điểm chi
phí huy động thấp nhng có tính chất biến động rất lớn vì khách hàng có thể rút ra
bất cứ lúc nào. Tiền gửi có kỳ hạn là nguồn tơng đối ổn định, phù hợp với yêu cầu
cho vay có kỳ hạn của NHTM vì về nguyên tắc nó chỉ đợc rút ra theo kỳ hạn đã
cam kết.
Với các hình thức huy động vốn trên đây, ngân hàng đã tập trung đợc khối
lợng lớn vốn tiền tệ nhàn rỗi trong xã hội để phân phối vào các hoạt động tăng tr-
ởng kinh tế. Bên cạnh việc ngân hàng huy động vốn qua các hình thức tiền gửi,
tiền tiết kiệm có kỳ hạn và không kỳ hạn thì cùng với sự phát triển của khoa học
công nghệ, các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng đợc mở rộng
và đa dạng cũng khuyến khích các cá nhân mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng.
Do đó, nguồn vốn trên các tài khoản tiền gửi của cá nhân mà ngân hàng huy động
đợc cũng không ngừng tăng lên. Với việc huy động vốn tiền gửi của khách hàng
đã đem lại cho ngân hàng một nguồn vốn để kinh doanh, đồng thời giúp cho ngân
hàng có thể nắm bắt đợc những thông tin, t liệu chính xác về tình hình tài chính
của các tổ chức, cá nhân có quan hệ tín dụng với ngân hàng. Bên cạnh đó, các
NHTM còn đợc phát hành các chứng chỉ tiền gửi , kỳ phiếu ngân hàng, trái phiếu
ngân hàng để huy động vốn. Nhng để đợc phát hành các giấy tờ có giá này thì
NHTM phải lên cân đối toàn hệ thống và nếu đợc Thống đốc Ngân hàng Trung -
ơng chấp thuận thì mới đợc phép phát hành để huy động trên thị trờng vốn. Để thu
hút đợc khối lợng lớn khách hàng gửi tiền vào ngân hàng thì ngân hàng cần phải
đa ra mức lãi suất hấp dẫn. Do đó, đối với mỗi hình thức huy động với kỳ hạn khác
nhau thì lãi suất cũng khác nhau, thờng thì những tài sản nợ nào có thời hạn ngắn
thì ngân hàng phải trả một khoản chi phí thấp hơn và ngợc lại. Có khoản mục ngân
hàng không phải trả chi phí, bù lại ngân hàng phải thanh toán hộ khách hàng trên
tài khoản của họ tại ngân hàng.
Nh vậy, nguồn vốn huy động có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh
doanh của ngân hàng vì đây là nguồn vốn cơ bản để ngân hàng cho vay, qua đó
thu lợi nhuận. Chính vì thế, nguồn vốn huy động quy định nét đặc trng của kinh
doanh ngân hàng.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét