Vay ứng trước có kỳ hạn, trường hợp này xảy ra khi sự
thâm hụt đã được chính phủ dự kiến trước vì những mục tiêu nhất
định.
Vay ứng trước vĩnh viễn, xảy ra khi sự thâm hụt không
lường trước được diễn ra trong tài khóa ngân sách. Nếu số ứng
trước bất thường trở thành món nợ không hoàn trả được.
• Phát hành tiền qua ngõ ngân hàng trung gian:
Hoạt động của ngân hàng trung gian, đặc biệt là đối với
ngân hàng ký thác chủ yếu nhận tiền gửi của công chúng và cho
vay. Phần lớn số tiền cho vay của ngân hàng này lấy từ nguồn
tiền gửi của dân chúng. Bản thân ngân hàng phải cho vay tới mức
mà ngân hàng trung ương cho phép để tối đa hóa doanh lợi, ngoài
việc trang trãi các chi phí, tiểntả lãi…Tuy nhiên, không phải lúc
nào hoạt động của ngân hàng trung gian đều diễn ra một cách trôi
chảy, thuận lợi. Có những lúc, người gửi tiền đến đòi rút tền ra
quá nhiều làm cho ngân hàng trung gian lâm vào tình trạng kẹt
vốn. Trong tình huống này ngân hàng trung ương có khả năng vô
biên, lúc nào ở hầm dự trữ của ngân hàng trung ương cũng có
một khối tiên in sẵn dự trữ. Do vậy việc cứu sống một hai ngân
hàng trung gian thoát khỏi tình hình mất khả năng chi trả là điều
dễ dàng. Nếu không cứu chữa kịp thời, ngọn lửa này sẽ lan rộng
ra cả hệ thống ngân hàng.
Như vậy nhờ có ngân hàng trung ương, khi bị kẹt vốn ngân
hàng trung gian có thể đến vay ở ngân hàng trung ương, ở đây
được xem là chỗ dựa vững chắc của ngân hàng trung gian.
Ngân hàng trung ương cấp tín dụng cho các ngân hàng
trung gian chủ yếu dưới 2 hình thức:
Chiết khấu hoặc tái chiết khấu
Thế chấp hay ứng trước.
Trong cả hai trường hợp trên, ngân hàng trung ương đều
thực hiện việc phát hành tiền tệ. Kết quả là làm cho số lượng tiền
tệ trong lưu thông gia tăng. Theo các nhà kinh tế học xem việc
làm này là một nghiệp vụ thanh khiết, vì nó có khả năng tự thanh
toán và theo đúng nguyên tắc tín dụng.
• Phát hành tiền qua ngõ thị trường mở:
Lúc đầu việc phát hành tiền qua ngõ tái chiết khấu có một
tầm quan trọng đặc biệt. Song lần theo thời gian, người ta thấy rõ
dần mặt hạn chế của nó, đó là ngân hàng trung ương muốn phát
hành thêm tiền thì phải đợi chờ ngân hàng trung gian có nhu cầu
vay lại ở mình, bằng cách đem thương phiếu đến xin tái chiết
khấu.
Thông qua việc mua bán các chứng khoán ngắn hạn trên thị
trường mở, ngân hàng trung ương điều chỉnh lưu lượng tiền mặt
trong lưu thông.
Với nghiệp vụ bán ngân hàng trung ương thu hẹp lượng
cung tiền mặt trong lưu thông, lãi suất lại tăng lên.
Bằng nghiệp vụ mua, tức là bơm tiền vào lưu thông. Lúc
này lượng tiền lưu hành trên thị trường xã hội tăng lên tạo ra các
động lực gây giảm lãi suất
• Phát hành tiền qua ngõ thị trường vàng và ngoại tệ:
Mỗi quốc gia trên thế gới đều có khả năng tạo lập cho mình
một dự trữ vàng và ngoại tệ nhất định. Dự trữ chính thức inằm
trong kho bạc của chính phủ dưới dạng dự trữ quốc gia. Dự trữ
này không phải để đáp ứng nhu cầu chuyển đổi của công chúng,
mà chúng nhằm thực hiện 3 công dụng chính:
Nó là một công cụ để chính phủ (cụ thể là ngân hàng trung
ương)can thiệp vào thị trường vàng, ngoại tệ
Nó là một công cụ để chống lại lạm phát
Nó là công cụ đo lường sức khỏe của nền kinh tế. Nếu khối
lượng dự trữ vàng và ngoại tệ của một nước tăng từ năm này
sang năm khác, biểu hiện nền kinh tế đó phát triển vững mạnh.
Ngược lại, khi dự trữ vàng, ngoại tệ giảm thiểu từ năm này sang
năm khác, nó báo hiệu những khó khăn trong nền kinh tế.
Bên cạnh dự trữ chính thức là dự trữ không chính thức nằm
rài rác ở các ngân hàng trung gian, ở các tổ chức kinh tế và trong
dân chúng. Vàng hoặc ngoại tệ đến tay các chủ thể này bằng
nhiều con đường khác nhau. Chính vì thế ngân hàng trung ương
với tư cách là cơ quan quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước phải
can thiệp vào thị trường vàng, ngoai tệ khi cần thiết. Cách làm
phổ biến nhất là thực hiện các nghiệp vụ mua bán trên thị trường
này.
Bằng việc tung ra một lượng tiền mặt nhất định vào thị
trường để mua một số ngoại tệ nào đó và vàng, ngân hàng trung
ương một mặt làm tăng dự trữ quốc gia, mặt khác nó làm tăng lưu
lượng tiền mặt trong nền kinh tế, và đây chính là phương thức
phát hành tiền qua ngõ thị trường vàng và ngoại tệ.
• Phát hành cân đối:
Mỗi khi có sự gia tăng một cách không chủ đông của các
khoản mục bên tài sản có, buộc ngân hàng trung ương phải phát
hành thêm tiền để cân đối nợ có trong bảng quyết toán của mình.
Thông thường những hình thức gia tăng tài sản, sản phẩm một
cách thụ động trong nền kinh tế và trong tài khoản của ngân hàng
trung ương xuất phát từ các nguyên nhân sau:
+Chính phủ nhận được viện trợ phát triển của nước ngoài dưới
dạng hàng hóa, vàng và ngoại tệ.
+Chính phủ vay nợ nước ngoài để phát triển kinh tế.
+Các tổ chức kinh tế, các ngân hàng trong nước vay nợ nước
ngoài.
+Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào tăng mạnh.
+Nền kinh tế tăng trưởng nhanh hơn mức bình thường.
Từ những nguyên nhân trên đã dẫn đến sự tăng lên của
USD, SDR, ngoại tệ khác, tài sản khác và các loại sản phẩm dịch
vụ trong nền kinh tế bắt buộc ngân hàng trung ương phải phát
hành thêm tiền mặt để giữ cho giá cả hàng hóa ổn định. Mặt
khác, một bộ phận lớn SDR, ngoại tệ và tài sản khác sau khi từ
nước ngoài tràn vào trong nước sẽ được chính phủ, các ngân hàng
trung gian hoặc các tổ chức kinh tế sử dụng dưới dạng ký quỹ
cho vay tiền ở ngân hàng trung ương. Đây chính là lý do để vụ
phát hành phải đưa thêm một lượng tiền mặt vào lưu thông.
2.2. Ngân hàng trung ương là ngân hàng của các ngân hàng.
Trên cơ sở nắm trong tay độc quyền phát hành tiền, ngân
hàng phát hành trở thành ngân hàng trung ương - tức là trở thành
ngân hàng của các ngân hàng. Chức năng này được thực hiện với
các đối tượng giao dịch chủ yếu trong nghiệp vụ nợ và nghiệp vụ
có của Ngân hàng trung ương là các ngân hàng thương mại và các
tổ chức tín dụng khác trong nền kinh tế, cụ thể
Ngân hàng trung ương nhận tiền gửi và bảo quản tiền tệ cho
các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng .Tiền gửi đó
gồm hai loại:
Tiền gửi dự trữ bắt buộc: được xác định theo tỷ lệ phần
trăm tính trên nguồn vốn huy động của ngân hàng thương mại và
không được hưởng lãi.
Tiền gửi giao dịch (tiền gửi thanh toán) nhằm phục vụ các
nhu cầu thanh toán giữa các ngân hàng với nhau.
Ngân hàng trung ương tiếp vốn (cấp vốn) cho ngân hàng
thương mại và các tổ chức tín dụng: tín dụng mà ngân hàng trung
ương cung cấp cho ngân hàng thương mại nhằm bảo đảm cung
ứng cho nền kinh tế quốc dân có đủ phương tiện thanh toán cần
thiết. Trong trường hợp này, ngân hàng trung ương luôn đứng ở
cai trò là người chủ nợ và là người cho vay cuối cùng, và vì là
người cho vay cuối cùng nên nghiệp vụ cấp tín dụng cho ngân
hàng thương mại của ngân hàng trung ương có ý nghĩa quyết
định đối với hoạt động tín dụng trong toàn bộ nền kinh tế.
Ngân hàng trung ương cấp tín dụng cho các ngân hàng
thương mại bằng nhiều phương pháp khác nhau:
Tái chiết khấu: ngân hàng trung ương mua lại những phiếu
nợ chưa đến hạn mà ngân hàng thương mại đã chiết khấu cho
khách hàng trước đấy, thông qua nghiệp vụ này ngân hàng trung
ương có thể giúp các ngân hàng thõa mãn được nhu cầu thanh
toán, đồng thời ngân hàng trung ương cũng thực hiện việc cung
ứng tiền tệ cho nền kinh tế theo yêu cầu của chính sách tiền tệ. Vì
vậy trong nghiệp vụ tái chiết khấu, lãi suất tái chiết khấu cũng là
công cụ quan trọng hàng đầu để có thể tác động đến việc mở rộng
hoặc thu hẹp khối lượng tín dụng cho nền kinh tế. Nghĩa là, ngân
hàng Trung ương không là người tác nghiệp, không phải là người
rực tiếp cho vay đối với nền kinh tế nhưng hoàn toàn có khả năng
chi phối đến khối lượng tín dụng mà hệ thống ngân hàng trong
nước cung ứng cho nền kinh tế.
+Cho vay bổ sung nguồn vốn ngắn hạn cho các ngân hàng
thương mại.
+Cho vay bù đắp vốn trong thanh toán liên ngân hàng.
Với việc nhận tiền gửi vàn tín dụng cho ngân hàng thương
mại, ngân hàng trung ương trở thành trung tâm tín dụng của nền
kinh tế.
Ngân hàng trung ương là người tổ chức và trở thành trung
tâm thanh toán giữa các ngân hàng thương mại.
+Ngân hàng trung ương thực hiện quản lý Nhà nước đối với hệ
thống ngân hàng trung gian và tổ chức tín dụng
+Thẩm định cấp giấy phép hoạt động cho Ngân hàng thương mại
và tổ chức tín dụng:
• Kiểm sóat tín dụng đối với ngân hàng thương mại bằng dự trữ
bắt buộc, hạn mức tín
dụng…
• Ấn định khung lãi suất tiền gửi và cho vay cũng như tỷ lệ hoa
hồng, lệ phí để áp dụng trong các ngân hàng thương mại.
• Ấn định tỷ lệ an toàn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng
thương mại và tổ chức tín dụng.
• Thanh tra và kiểm sóat một cách thương xuyên và toàn diện mọi
mặt hoạt động của ngân hàng thương mại.
2.3. Ngân hàng trung ương là ngân hàng của Nhà nước.
Chức năng này của ngân hàng trung ương thể hiện ở những
mặt sau:
-Ngân hàng trung ương thuộc sở hữu của nhà nước.
-Ban hành các văn bản pháp quy theo thẩm quyền của mình về
tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và ngân hàng, kiểm tra
thực hiện các văn bản pháp luật có liên quan.
-Mở tài khoản và giao dịch với Kho bạc nhà nước.
-Làm đại lý cho kho bạc nhà nước.
-Tổ chức thanh toán giữa kho bạc với các ngân hàng.
-Vung cấp tín dụng và tạm ứng cho ngân sách Nhà nước trong
những trường hợp khẩn cấp.
Tóm lại, với tư cách là Ngân hàng Nhà nước, ngân hàng trung
ương đảm nhiệm các công việc thuộc chức năng quản lý của nhà
nước, và thay mặt Chính phủ làm đại diện tại các tổ chức tài
chính tiền tệ quốc tế.
II. CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUỐC GIA VÀ GIAI TRÒ
QUẢN LÝ VĨ MÔ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
1. Mục tiêu của chính sách tiền tệ
1.1. Khái niệm và mục tiêu của chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ là hệ thống biện pháp của một nhà nước
trong lĩnh vực lưu thông tiền tệ, nhằm điều hành khối lượng cung
và cầu tiền tệ bằng các biện pháp như phát hành tiền, chống lạm
phát, dự trữ pháp định và quản lí dự trữ ngoại tệ, tái chiết khấu
các kì phiếu và lãi suất, chính sách lãi suất để đáp ứng kịp thời
nhu cầu giao dịch, ổn định sức mua của đồng tiền, phát triển sản
xuất, kinh doanh trong một giai đoạn nhất định. Là một bộ phận
quan trọng trong hệ thống chính sách và cơ chế quản lí kinh tế
của nhà nước, trên cơ sở vận dụng đúng đắn quy luật của sản
xuất hàng hoá và quy luật lưu thông tiền tệ để tổ chức tốt quá
trình chu chuyển tiền tệ. Chính sách tiền tệ nhằm đáp ứng kịp
thời nhu cầu của sản xuất - kinh doanh, thực hiện sự kiểm tra có
hiệu lực của nhà nước ở tầm vĩ mô cũng như ở tầm vi mô.
Chính sách tiền tệ là một hệ thống các biện pháp do ngân
hàng trung ương thực hiện nhằm tác động lên mức độ hoạt động
kinh tế. Mục tiêu hàng đầu của ngân hàng trung ương ở nhiều
nước là kiểm soát lạm phát và giám sát hệ thống ngân hàng. Tuy
nhiên, hoạt động của cơ quan này cũng ảnh hưởng đến các khía
cạnh khác của nền kinh tế, như mức GDP thực, thất nghiệp và tỷ
giá hối đoái.
Ở Việt Nam trong thập niên qua, Ngân hàng Nhà nước nhìn
chung đã duy trì một chính sách tiền tệ tương đối kiềm chế.
Chính sách này đã thành công trong việc giảm lạm phát từ mức
ba con số ở cuối thập niên 1980 xuống mức tương đối ổn như
hiện nay. Ngân hàng Nhà nước cũng đã thực hiện một số cải cách
khu vực tài chính bao gồm việc từng bước tự do hóa lãi suất.
Trong khi tiến trình cải cách ngân hàng và tài chính vẫn tiếp tục ở
Việt Nam, việc thực hiện chính sách tiền tệ cũng sẽ biến chuyển,
dẫn đến một sự phân bổ tốt hơn các nguồn lực tài chính, cũng
như sự cải thiện về hiệu quả chung của chính sách tiền tệ.
1.2. Mục tiêu của chính sách tiền tệ:
Mục tiêu của chính sách tiền tệ trước hết là ổn định giá trị
tiền tệ, trên cơ sở đó góp phần tăng trưởng kinh tế và việc làm.
Theo mô hình đường cong Phillip, về mặt dài hạn, không có mâu
thuẫn nào giữa các mục tiêu này, nghĩa là, việc kiềm chế lạm phát
sẽ tạo điều kiện tăng sản lượng thực tế và giảm thất nghiệp.
Nhưng trong ngắn hạn, các mục tiêu lại mâu thuẫn với
nhau.Việc giảm tỷ lệ lạm phát đồng nghĩa với một chính sách tiền
tệ thắt chặt, lãi suất tăng lên, làm cho nhu cầu chi tiêu và đầu tư
giảm. làm giảm tổng cầu của nên kinh tế, kéo theo sự sụt giảm về
sản lượng. Thất nghiệp vì thế mà có xu hướng tăng lên. Ngược
lại, duy trì một tỷ lệ thất nghiệp thấp thường kéo theo chính sách
tiền tệ mở rộng và sự tăng giá.
2. Nội dung của chính sách tiền tệ
Nội dung của chính sách tiền tệ xét về mặt định tính ta có
thể thấy đó là chính sách thắt chặt tiền tệ hoặc chính sách mở
rộng tiền tệ. Nếu nền kinh tế đang ở trong tình trạng lạm phát cao
đòi hỏi phải thực hiện một chính sách thắt chặt tiền tệ để chống
lạm phát. Ngược lại, nếu nền kinh tế đang ở trong tình trạng suy
thoái thì chính sách tiền tệ cần phải được mở rộng. Về mặt định
lượng chính sách tiền tệ cần phản ánh khối lượng tiền tệ cung
ứng tăng lên (hay giảm bớt) trong một khoảng thời gian nhất định
bao gồm tiền mặt và chuyển khoản.
Để xây dựng các giải pháp tác động và sử dụng các công cụ
để vận hành chính sách tiền tệ, nội dụng của chính sách tiền tệ
gồm ba bộ phận hợp thành: chính sách cung ứng và điều hòa khối
tiền, chính sách tín dụng và chính sách về ngoại hối.
3. Những công cụ để thực thi chính sách tiền tệ
Để vận hành chính sách tiền tệ đạt được như hoạch định,
ngân hàng trung ương sử dụng các công cụ sau đây và thông qua
các công cụ này nhà nước cũng sử dụng các quan hệ tiền tệ để
điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
3.1 Dự trữ bắt buộc:
Tất cả các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng đều
bắt buộc phải thực hiện dự trữ bắt buộc theo một tỷ lệ phần trăm
tính trên tổng nguồn vốn huy động. Về cơ cấu mức dự trữ bắt
buộc được phép tồn tại dưới 3 hình thức: tiền mặt tại quỹ, tiền
gửi bắt buộc ở ngân hàng trung ương, dự trũ bằng chứng khóan,
đấy là công cụ trực tiếp và có hiệu nghiệm.
Nếu dự trữ bắt buộc tăng làm cho nguồn vón cho vay của
ngân hàng thương mại giảm kéo theo khối tiền tệ giảm.
Nếu dự trữ bắt buộc giảm làm cho nguồn vón cho vay của
ngân hàng thương mại tăng kéo theo khối tiền tệ tăng.
nhà nghiên cứu cho thấy rằng chỉ cần một sự thay đổi nhỏ
tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì tác động của nó đến khối tiền tệ và khối
tín dụng rất lớn.
3.2 Lãi suất:
Là một công cụ chủ yếu để điều chỉnh gián tiếp giữa cung
và cầu tín dụng. Để phát huy được tác dụng của công cụ lãi suất,
cần quán triệt một số điểm có tính nguyên tắc khi vận dụng công
cụ lãi suất:
• Lãi suất thực không thể cao hơn tỷ suất lợi nhuận bình quan của
nền kinh tế (biểu hiện qua tỷ lệ tăng tổng sản phẩm quốc nội).
• Lãi suất cho vay bình quân phải lớn hơn lãi suất huy động bình
quân. Phần lớn hơn phải thỏa mãn bù đắp chi phí, thuế, phòng
ngừa rủi ro và tiền lãi ngân hàng.
• Lãi suất dài hạn phải lớn hơn lãi suất ngắn hạn.
Để sử dụng lãi suất tín dụng với tư cách là công cụ của
chính sách tiền tệ, ngân hàng trung ương có thể:
• Ổn định lãi suất: tối đa cho tiền gửi và tối thiểu cho tiền vay
hoặc tối đa cho tiền vay và tối thiểu cho tiền gửi (nếu muốn bảo
vệ quyền lợi cho khách hàng của ngân hàng thương mại.
• Thả nổi lãi suất: lãi suất sẽ được thả nổi thông qua thị trường
tiền tệ, tuy nhiên với tư cách là cơ quan thực thi chính sách tiền
tệ, Ngân hàng trung ương sẽ tác động gián tiếp tới lãi suất tiền
gửi và tiền vay của ngân hàng thương mại bằng lãi suất tái chiết
khấu để điều tiết cung-cầu tín dụng, điều tiết khối lượng tiền tệ
của nền kinh tế. Như vậy trong nền kinh tế thị trường với hệ
thống ngân hàng hai cấp trong đó cãc ngân hàng thương mại nhạy
cảm với cơ chế thị trường, thì lãi suất tái chiết khấu của ngân
hàng trung ương trở thành công cụ linh hoạt để thực hiện chính
sách tiền tệ.
3.3 Tái chiết khấu:
Tái chiết khấu nói riêng và tái cấp vốn nói chung là việc
ngân hàng trung ương tiếp vốn cho các ngân hàng thương mại
nhằm khai thông năng lực thanh toán cho các ngân hàng thương
mại hoặc khuyến khích họ mở rộng tín dụng cho nền kinh tế trên
cơ sở các hệ số tín dụng hoặc chứng từ được ngân hàng thương
mại chiết khấu trước đây.
Tái chiết khấu là nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng trung
ương tất yếu sẽ làm tăng lượng tiền cung ứng, vì vậy phải đòi hỏi
tiến hành một cách thận trọng dựa trên tiêu chuẩn định lượng và
định tính.
• Về mặt định lượng: cần xem lại hạn mức tín dụng mà ngân
hàng trung ương dành cho ngân hàng thương mại có còn hay
không.
• Về mặt định tính: cần xem xét các hệ số tín dụng và các chứng
từ xin tái chiết khấu có lành mạnh hay không và có xứng đáng để
được tiếp vốn hay không, chắc chắn rằng trong nghiệp vụ tái
chiết khấu ngân hàng trung ương sẽ đóng vai trò là người cho vay
cuối cùng, đầu mối cuối cùng để xử lý tín dụng của nền kinh tế.
Tuy nhiên, khi chấp nhận tái chiết khấu là ngân hàng trung
ương đã tăng khối lượng tiền cung ứng. Vì vậy, ngân hàng trung
ương chỉ có thể chấp nhận tái chiết khấu theo ba điều kện:
• Ngân hàng thương mại đó phải còn hạn mức tín dụng chưa sử
dụng hết.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét