Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

Vốn ODA

ODA cho một mục đích tổng quát với thời hạn nhất định, mà không
phải xác định một cách chính nó sẽ phải sử dụng thế nào.
2.6.Hỗ trợ dự án: là hình thức chủ yếu của hỗ trợ phát triển chính
thức. Nó có thể liên quan đến hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kỹ thuật,
trên thực tế thờng phải có cả hai yếu tố này.
Hỗ trợ cơ bản thờng chủ yếu là về xây dựng đờng sá, cầu cống,
đê đập, trờng học, bệnh viện, hệ thống viễn thông, Thông th-
ờng các dự án này có kèm theo một bộ phận hệ thống kỹ thuật d-
ới dạng chuyên gia t vấn, thiết kế, soạn thảo
Hợp tác kỹ thuật nhằm mục đích tăng cờng nguồn nhân lực và
xây dựng thể chế thông qua chuyển giao kỹ thuật, chuyển giao tri
thức hoặc tăng cờng cơ sở lập kế hoạch, t vấn nghiên cứu trớc
khi đầu t.
3.Các đối tác cung cấp hỗ trợ phát triển chính thức
3.1.Các tổ chức viện trợ đa phơng:gồm có các tổ chức thuộc hệ
thống Liên hợp quốc(Chơng trình phát triển của LHQ, Quỹ nhi
đồng LHQ, Chơng trình lơng thực thế giới, Tổ chức y tế thế giới,
Tổ chức nông nghiệp và lơng thực
Phần lớn viện trợ của các tổ chức thuộc hệ thống LHQ đều đợc
thực hiện dới hình thức viện trợ không hoàn lại, u tiên cho các n-
ớc đang phát triển, có thu nhập thấp. Viện trợ thờng tập trung
cho các nhu cầu có tính chất xã hội(văn hoá, giáo dục, y tế, sức
khoẻ,dân số, xoá đói giảm nghèo .)
Các tổ chức phi chính phủ(NGO-Non-government Organization)
Trên thế giới có hàng trăm tổ chứ phi chính phủ theo các mục
đích và tôn chỉ hoạt động khác nhau. Vốn của các tổ chức này th-
ờng nhỏ, do sự quyên góp hoặc nhờ sự tài trợ của các chính
phủ.Do đó nguồn vốn này có đặc điểm là đa dạng(máy móc, thiết
bị, lơng thực, thực phẩm, quần áo, thuốc men).
Các tổ chức tài chính quốc tế nh Quỹ tiền tệ quốc tế(IMF), Ngân
hàng Thế giới(WB) chủ yếu hỗ trợ dới hình thức cho vay với các
điều kiện u đãi
3.2.Các đối tác viện trợ song phơng: là chính phủ của các nớc phát
triển hỗ trợ cho các nớc đang phát triển.
4.Đặc điểm
Trong các hình thức đầu t gián tiếp thì viện trợ không hoàn lại
hay viện trợ có hoàn lại của các chính phủ, các tổ chức phi chính
phủ, các tổ chức tài chính quốc tế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng

5
đối với các nớc tiếp nhận viện trợ. Các nớc đang phát triển thờng
có mức tích luỹ nội bộ thấp, ngân sách Nhà nớc chỉ có thể đáp
ứng một phần nhu cầu thực tế về phát triển kinh tế-xã hội do vậy
nhu cầu vốn rất lớn. Hơn nữa, các nớc tiếp nhận đầu t có thể nhận
đợc nguồn vốn tơng đối lớn với những điều kiện u đãi đặc biệt nh
lãi suất thấp,thời gian ân hạn lâu, phơng thức vay, đơn giản,
nhanh chóng, thời gian vay dài giúp cho các nớc chậm phát
triển có thể giải quyết đợc dứt điểm từng vấn đề phát triển kinh tế
xã hội của nớc mình một cách nhanh chóng. Mặc dù có tính u đãi
cao, song sự u đãi cho loại vốn này thờng kèm theo các điều kiện
ràng buộc tơng đối khắt khe về tính hiệu quả dự án, thủ tục chuyển
giao vốn và thị trờng đặc biệt hình thức đầu t này thờng gắn với
sức ép về mặt chính trị, buộc các nớc nhận đầu t phải trả giá về
mặt chính trị, hoặc ít nhất cũng lên tiếng ủng hộ nớc viện trợ khi
cần thiết.Nguồn vốn viện trợ ODA có thể đợc hỗ trợ thông qua các
hình thức tài chính trực tiếp cũng có thể bằng hiện vật nh lơng
thực, thực phẩm, quần áo thuốc men hoặc cũng có thể bằng
dịch vụ nh chuyển giao công nghệ, t vấn, thiết kế, chuyên gia
Vì vậy, để nhận đợc nguồn vốn khá hấp dẫn này đòi hỏi chúng
ta phải xem xét dự án trong điều kiện tổng thể, vừa đảm bảo có
thể nhận đợc nguồn tài trợ, vừa giữ vững các mục tiêu, nguyên
tắc về mặt chính trị. Nếu không thì việc tiếp nhận viện trợ sẽ trở
thành gánh nặng nợ nần lâu dài cho nền kinh tế và cho thế hệ
sau này.
5.Các yếu tố ảnh hởng đến nguồn vốn ODA
Nhân tố đầu tiên có tác động trực tiếp đến quy mô và mức độ
của nguồn viện trợ phát triển chính thức là tiềm lực kinh tế, tốc
độ tăng trởng kinh tế của các nớc viện trợ. Trong giai đoạn nền
kinh tế gặp khủng hoảng, chính phủ thờng phải cắt giảm các
khoản chi thì nguồn vốn ODA là nguồn phải cắt giảm đầu tiên.
Nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức còn phụ thuộc vào mối
quan hệ truyền thống giữa nớc viện trợ và nớc nhận viện trợ và
phụ thuộc vào chính sách đối ngoại của nớc viện trợ. Nớc viện
trợ thờng sử dụng nguồn vốn ODA là công cụ đi tiên phong
trong chính sách đối ngoại của mình. Nó chính là cách thức để
duy trì và phát triển mối quan hệ ngoại giao giữa hai nớc và
thông qua nguồn viện trợ ODA để tìm kiếm sự liên kết trên tr-
ờng quốc tế.

6
Để tăng cờng và thúc đẩy mối quan hệ này thì quy mô của nguồn
vốn này cũng có xu hớng tăng lên.
Tầm quan trọng của nớc nhận viện trợ trong chiến lợc phát triển
của nớc viện trợ. Có thế thấy là ODA xét đến cùng thì chính là
sự bảo đảm và là một trong những công cụ quan trọng nhất
trong việc mở đờng và hỗ trợ cho các doanh nghiệp nớc viện trợ
xâm nhập và mở rộng thị trờng ở các nớc.
Quan điểm chính trị , quan điểm cộng đồng dựa trên sự quan
tâm nhân đạo và sự hiểu biết sâu sắc về sự ổn định và phát triển
kinh tế của nhân loại. Hiệu quả sử dụng nguồn vốn này của các
dự án cũng ảnh hởng đến quy mô viện trợ.
Trách nhiệm của các nớc phát triển, các tổ chức quốc tế đối với
sự phát triển của nhân loại. Xu hớng toàn cầu hoá thế giới giúp
cho các nớc hiểu và gần nhau hơn do vậy các nớc giàu giúp đỡ
các nớc chậm phát triển vợt qua đói nghèo và cùng phát triển vì
sự phồn thịnh hoà bình trên toàn thế giới.
II. Hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA
1.Hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA
Hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA là một chỉ tiêu tổng hợp bao
gồm các yếu tố về mặt kinh tế-tài chính, xã hội, môi trờng và phát
triển bền vững và nó đợc đánh giá thông qua hiệu quả thực hiện của
từng dự án sử dụng nguồn vốn ODA.
2.Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA
Thật khó có thể đa ra đợc những chỉ tiêu một cách cụ thể để đo l-
ờng hiệu quả sử dụng nguồn vốn này vì các dự án sử dụng nguồn
vốn ODA không những mang lại lợi ích trớc mắt,mà còn về lâu dài.
Hơn nữa, nó đem lại lợi ích cho rất nhiều ngời do đó lại càng khó
đo lờng đợc mức độ hiệu quả.
Nguồn vốn ODA phải đợc thực hiện theo đúng mục tiêu đề ra thông
qua quá trình triển khai dự án( nhiều khi trái với mong muốn của
bên tiếp nhận viện trợ).
Các dự án sử dụng nguồn vốn ODA phải đem lại lợi ích cho đúng
đối tợng cần thụ hởng.
Các dự án này phải có tỷ lệ giải ngân cao, ít ra là trên 50%(Tỷ lệ
giải ngân trung bình ở các nớc đang phát triển trên thế giới chỉ vào
khoảng 30%).Tiêu chí này đòi hỏi các nớc phải chuẩn bị tốt dự án,

7
chọn lựa đối tác phù hợp và hết sức bám sát tình hình thực hiện ở
cơ sở.
Chi phí hành chính cho các dự án không đợc quá lớn. Theo tiêu
chuẩn của các nhà tài trợ thì chi phí này vào khoảng từ 10-20%.
Điều này bắt buộc các nớc tiếp nhận viện trợ phải cắt giảm những
chi phí không cần thiết về văn phòng, chi phí phục vụ cho quảng
cáo bề nổi, phải lựa chọn những cán bộ có năng lực.
Những dự án này nên hạn chế sử dụng các chuyên gia phơng Tây vì
chi phí ăn ở đi lại cao.
3.Những nhân tố ảnh hởng tới hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA
Hội nghị t vấn các nhà tài trợ Tháng 12/2004 đã nhất trí cho
rằng thiếu năng lực quản lý là một hạn chế chính trong việc hấp
thụ một cách có hiệu quả nguồn lực ODA cả theo dự án và
không theo dự án.Nó còn đề cập đến một số vấn đề không liên
quan đến năng lực nhng lại rất quan trọng đối với việc cung ứng
ODA có hiệu quả. Theo các nhà tài trợ thì để xây dựng năng lực
cho chính phủ trong quản lý nguồn vốn này trớc hết phải xây
dựng một khuôn khổ chung để quản lý nguồn vốn ODA.Chúng
ta cần thiết lập, cập nhật những quy định hiện hành trong quản
lý ODA, đầu t công cộng, đấu thầu giải phóng mặt bằng. Để
quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này cần tinh giảm và
hài hoà quá trình , thủ tục quản lý ODA, xây dựng cơ chế tổ
chức có hiệu quả(bao gồm đánh giá cơ cấu thực hiện của Ban
quản lý dự án hiện tại). Có thể phải thực hiện một đánh giá toàn
diện đợc thực hiện chung về những vấn đề thể chế nhằm nâng
cao năng lực quản lý của Chính phủ.
Một bản tổng kết về các chơng trình viện trợ quốc tế gần đây đã
kết luận rằng tính hiệu quả của các chơng trình này không nhất
thiết phụ thuộc vào độ lớn đóng góp tài chính của chúng(WB
1998, và Burnside và đôla 1997).
Hỗ trợ kỹ thuật trong đầu những năm 1990, bao gồm những
cuộc hội thảo chi phí rất thấp và những cuộc viếng thăm để
thông báo cho các nhà lãnh đạo chính trị và kinh tế cao cấp về
những bài học và kinh nghiệm của các nớc láng giềng đợc đánh
giá là đã có một đóng góp lớn trong việc hình thành tiến trình
cho công cuộc cải cách kinh tế của Việt Nam. Không nhất thiết
phải có những chi tiêu lớn để có hiệu quả.
Một tổng kết của World Bank gần đây kết luận rằng không có
mối quan hệ chung nào giữa các luồng viện trợ và phát triển

8
kinh tế xã hội.Yếu tố quyết định chủ yếu cho sự thành công của
ODA là môi trờng chính sách trong nớc của nớc nhận viện trợ.
Viện trợ sẽ thành công trong việc thúc đẩy sự phát triển dài hạn
ở những nớc mà Chính phủ theo đuổi các chơng trình cải cách
mạnh mẽ theo định hớng kinh tế thị trờng và các nhà hoạch
định chính sách có khả năng đa ra và thực hiện những quyết định
kinh tế đúng đắn. Mặt khác, nếu viện trợ hỗ trợ cho các chế độ
chính sách yếu kém thì sẽ kém hiệu quả trong việc thúc đẩy phát
triển kinh tế xã hội.
Việc nêu rõ những yếu tố quyết định của các chính sách kinh tế
tốt và mối quan hệ, nếu có, của chúng đối với ODA sẽ khó hơn.
Không giống nh các nhà đầu t nớc ngoài, mà quyết định của họ
phải đợc thẩm định trên cơ sở khả năng sinh lợi, các nhà tài trợ
quyết định trên cơ sở nhiều động cơ khác nhau và sẽ bị cản trở
bởi thiếu các chỉ tiêu thành công đơn giản.
Do vậy, về phía cung, ODA thiếu những cơ chế tự điều chỉnh
dựa trên cơ sở thị trờng mà những cơ chế vận hành đối với FDI.
Tơng tự, nếu thiếu sự minh bạch và tính trách nhiệm trong việc
quyết định chính sách trong nớc thì viện trợ có thể đợc sử dụng
tại các nớc nhận viện trợ để duy trì các hoạt động kém hiệu quả,
mang tính chính trị và các hoạt động khác, gây cản trở quá trình
phát triển kinh tế xã hội. Kinh nghiệm quốc tế đã chỉ ra rằng,
viện trợ có thế đợc sử dụng để hỗ trợ các chính phủ trì hoãn
những lựa chọn khó về chính sách và do vậy tiếp tục duy trì các
chính sách phát triển kém.
Bất cập về hiệu quả của dự án còn thể hiện ở chi phí chuẩn bị
cao, chậm khởi động,tỷ lệ giải ngân thấp, phải gia hạn ngày kết
thúc khoản vay do đó có ảnh hởng lớn đến hiệu quả sử dụng vốn
ODA.
Theo một báo cáo đánh giá tác động viện trợ của Ngân hàng thế
giới, viện trợ tài chính chỉ phát huy tác dụng trong môi trờng
chính sách tốt. Hỗ trợ tài chính ở các nớc đang phát triển có cơ
chế quản lý kinh tế tốt sẽ giúp tăng trởng nhanh hơn, giảm tình
trạng nghèo khổ và đạt đợc các chỉ tiêu xã hội.Anh hởng của nó
là rất lớn: với cơ chế quản lý đất nớc tốt thì 1% GDP viện trợ sẽ
giảm 1% nghèo khổ và cũng giảm tơng tự nh vậy tỉ lệ tử vong ở
trẻ sơ sinh. Tuy nhiên, trong môi trờng yếu kém, tiền lại có tác
động ít hơn nhiều. Tăng 10 tỷ đôla viện trợ một năm sẽ cứu đợc
25 triệu ngời thoát khỏi nghèo khổ- nhng chỉ đối với các nớc có

9
cơ chế quản lý kinh tế tốt. Nếu trái lại, cho dù có tăng 10 tỷ đôla
viện trợ cho tất cả các lĩnh vực thì cũng chỉ cứu đợc 7 triệu ngời
khỏi cảnh kiếm ăn lần hồi.
Viện trợ hiệu quả bổ sung cho đầu t t nhân. ở những nớc có cơ
chế quản lý kinh tế tốt thì viện trợ nớc ngoài không thay thế cho
sáng kiến t nhân. Viện trợ đóng vai trò nh nam châm hút đầu t t
nhân theo tỷ lệ xấp xỉ 2 đôla trên 1 đôla viện trợ. Đối với những
nớc đã cam kết cải cách thì viện trợ góp phần củng cố niềm tin t-
ởng cho khu vực t nhân và hỗ trợ các dịch vụ công cộng quan
trọng. Tại những môi trờng bị bóp méo nghiêm trọng thì viện trợ
lại loại trừ đầu t t nhân, điều này giải thích tại sao trong những tr-
ờng hợp nh vậy tác động của viện trợ lại rất nhỏ.
Giá trị của các dự án phát triển là ở chỗ thể chế và chính sách đ-
ợc củng cố để có thể cung cấp các dịch vụ một cách có hiệu quả.
Viện trợ đem lại cả sự hiểu biết lẫn tài chính. Hầu hết viện trợ đ-
ợc phân bổ qua các dự án đầu t trong những lĩnh vực cụ thể nh
đờng sá, cấp nớc, hoặc giáo dục. Tuy nhiên tài trợ theo dự án th-
ờng không làm tăng chi tiêu của ngành nhiều hơn so với viện trợ
không điều kiện, không hoàn lại-bởi vì viện trợ nói chung là bất
phân định( không quy định mục đích sử dụng cụ thể). Do vậy,
việc lựa chọn những lĩnh vực đang đợc đề cao nh chăm sóc sức
khỏe ban đầu hoặc giáo dục cơ sở cũng cha thể bảo đảm rằng
tiền đã đợc sử dụng một cách có hiệu quả. Viện trợ cung cấp tài
chính cho toàn bộ khu vực công và chất lợng tổng thể của các
chính sách và thể chế là các yếu tố cơ bản để bảo đảm đạt đợc
lợi suất cao từ việc đầu t này. Những phát hiện này cho thấy
đóng góp quan trọng nhất của các dự án không phải để tăng
nguồn tài chính cho các ngành cụ thể nào đó, mà là để giúp cải
thiện việc cung cấp dịch vụ bằng cách củng cố các thể chế địa
phơng và thể chế ngành. Việc tạo ra đợc kiến thức với sự trợ
giúp của viện trợ sẽ dẫn đến một số cải thiện trong những ngành
cụ thể, trong khi một phần tài chính của viện trợ sẽ mở rộng các
dịch vụ công cộng nói chung.
Viện trợ có thể nuôi dỡng cải cách, thậm chí trong những môi tr-
ờng bị bóp méo nghiêm trọng-nhng đòi hỏi phải kiên nhẫn và
chú trọng tới vấn đề ý tởng chứ không phải tiền. ở một số nớc
nghèo nhất thế giới, chính phủ không đa ra đợc những chính
sách và dịch vụ hiệu quả, đó là lý do tại sao giữa chính phủ này
với chính phủ khác không thu đợc những kết quả tốt. Tuy nhiên

10
ở cấp ngành hoặc địa phơng thờng vẫn có những nhà cải cách
thành công, viện trợ đôi khi rất hiệu quả trong việc hỗ trợ những
sáng kiến này. Công việc này có sự tham gia của nhiều nhân viên
và chỉ phải chi tiêu rất ít. Viện trợ thành công ở đây nhằm giúp
các nhà cải cách xây dựng và thử nghiệm các ý tởng của mình.
Để viện trợ hiệu quả hơn trong việc giảm nghèo đòi hỏi phải tiến
hành năm biện pháp cải cách chính sách:
Thứ nhất, viện trợ tài chính phải chú trọng một cách hiệu quả
hơn nữa tới những nớc có thu nhập thấp mà có cơ chế quản lý
kinh tế tốt. Trong môi trờng chính sách tốt, viện trợ tài chính là
chất xúc tác để tăng trởng nhanh, đạt đợc các chỉ số xã hội
nhanh hơn, và đầu t t nhân cao hơn. Tuy nhiên, trong môi trờng
yếu kém thì viện trợ lại có ít tác động.Do vậy, những nớc nghèo
có chính sách tốt cần phải nhận đợc nhiều tài chính hơn so với
những nớc cũng nghèo nh vậy mà có chính sách yếu kém. Tuy
nhiên, cho đến những năm 1990 lợng tài chính đổ vào những n-
ớc có cơ chế quản lý tốt và những nớc có cơ chế quản lý tồi là
nh nhau. Hơn thế nữa, phần lớn viện trợ vẫn tiếp tục dành cho
những nứơc có thu nhập trung bình, những nớc không cần tới
hình thức này hoàn toàn có thể tập trung viện trợ một cách hiệu
quả hơn vào những nớc nghèo nhng có cơ chế quản lý tốt.
Thứ hai, viện trợ trên cơ sở chính sách phải đợc dành để nuôi
dỡng cải cách chính sách trong những nớc cải cách đáng tin cậy.
Kinh nghiệm cho thấy rằng nguồn viện trợ có điều kiện nghiêm
ngặt nhng không đợc giới hạn lãnh đạo và chính trị trong nớc
ủng hộ mạnh mẽ nói chung sẽ không tạo đợc sự thay đổi bền
vững nào. Vấn đề ở đây là nguồn tài chính trên thực tế vẫn tiếp
tục đợc dành cho các chính phủ chỉ cải cách xuông. Tài trợ trên
cơ sở chính sách chỉ nên danh cho những nớc đã có thành tích
lớn hoặc có cơ sở lạc quan rõ ràng( một chính phủ vừa mới
thắng cử bằng cơng lĩnh cải cách).Các chính phủ mới lên nắm
quyền sau xung đột thờng là những ứng viên tốt cho viện trợ.
Tại những nớc có chính sách yếu kém và không có động thái
đáng tin cậy thì viện trợ nên giữ vai trò khiêm tốn và kiên nhẫn
hơn trong việc phổ biến ý tởng, truyền bá kinh nghiệm của các
nớc khác, đào tạo các nhà lãnh đạo và hoạch định tơng lai và
tăng cờng năng lực tranh luận về chính sách trong xã hộidan sự
đợc thông tin đầy đủ. Các biện pháp này tơng đối rẻ và không

11
mâu thuẫn với đề xuất cho rằng phần lớn nguồn tài chính nên
dành cho các nớc có cơ chế quản lý kinh tế tốt.
Thứ ba, hàngloạt các hoạt động viện trợ phải đợc thiết kế trên
cơ sở các điều kiện của các quốc gia và ngành. Thậm chí ở
những nơi có thể chế và chính sách yếu kém thì các nhà tài trợ
vẫn cố gắng tìm ra một cái gì đó hữu ích để tài trợ. Chắc chắn
chăm sóc sức khoẻ ban đầu hoặc giáo dục cơ sở là những lĩnh
vực cần phải tài trợ? Tuy nhiên, bằng chứng cho thấy viện trợ
thờng mang tính bất phân định, bởi vậy các mà bạn thấy không
phải là cái mà bạn nhận đợc. Trong trờng hợp, các dự án tơng
tự đằng nào cũng phải đợc tiến hành, tiền tài trợ cho các dự án
và ngành cụ thể không nhất thiết phải cứng nhắc -mà đơn
giản chỉ là tăng thêm ngân sách cho chính phủ. Do đo, trong
một môi trờng bị bóp méo thì cho dù các dự án có đợc lựa chọn
hoặc nguồn tài chính của các nhà tài trốc đợc phân bổ lại một
cách mạnh mẽ cho các hoạt động đợc đánh giá cao. Để xác
định mức độ hiệu quả của tài trợ, các nhà tài trợ cần xem xét
một cách tổng thể việc phân bổ và quan trọng hơn cả là mức
hiệu quả của chi tiêu công cộng.
Chỉ phân bổ các khoản chi tiêu không thôi thì không bảo đảm
cho sự thành công bởi chất lợng của chi tiêu cộng cộngcũng
quan trọng nh số lợng chi tiêu. ở những nớc có cơ chế quản lý
tốt(cả về chính sách kinh tế vĩ mô và cung cấp các dịch vụ công
cộng), viện trợ có thể đợc bổ sung dới dạng hỗ trợ ngân sách,
điều này sẽ đơn giản hoá về mặt hành chính và giảm bớt chi phí
quản lý. ở những nớc có chính sách nói chung tốt nhng khả
năng cng cấp dịch vụ công cộng yếu, viện trợ dự án phải là chất
xúc tác nâng cao tính hiệu qủa của các chi tiêu công cộng. Các
nớc không có chính sách tốt, không có dịch vụ công cộng hiệu
quả,hoặc không phân bổ chi tiêu hợp lý sẽ không có lợi nhiều từ
viện trợ; và viện trợ trớc hết phải tập trung vào việc cải thiện
cho các lĩnh vực này.
Thứ t, các dự án cần tập trung vào việc tạo ra và chuyển giao
kiến thức và năng lực. Vai trò chính của các dự án phát triển
phải là hỗ trợ cho những thay đổi về mặt thể chế và chính sách
nhằm cải thiện việc cung cấp các dịch vụ công cộng.Nhận thức
đợc khi nào viện trợ phát huy tác dụng trong việc cung cấp dịch
vụ công cộng và khi nào không- là một trong những đầu ra quan
trọng nhất của viện trợ.

12
Chơng II
Thực trạng và hiệu quả sử dụng
nguồn vốn ODA tại Việt Nam
I. Thực trạng thu hút, sử dụng và quản lý ODA
1. Tình hình thu hút, sử dụng ODA
Việt Nam là một nớc đang phát triển do vậy nhu cầu vốn đầu t rất
lớn đặc biệt là nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội và
các nhu cầu khác song nguồn vốn trong nớc chỉ đáp ứng đợc theo
quy hoạch đầu t khoảng hơn 40% nhu cầu thực tế, còn lại phải
dựa vào nguồn vốn từ bên ngoài trong đó ODA là một kênh vốn
đầu t quan trọng ở tất cả các nớc đang phát triển.
Trong thời gian qua do khó khăn của nền kinh tế toàn cầu, nguồn
ODA của thế giới giảm. Một số nhà tài trợ buộc phải thực hiện
chính sách cắt giảm ODA, trong đó, Nhật Bản, một trong những
nhà tài lớn của Việt Nam đã phải cắt giảm bình quân 10%/năm.
Nhiều tổ chức quốc tế cũng gặp khó khăn về nguồn vốn nh ngân
sách thờng xuyên của UNICEF năm 2002 giảm xuống còn 40%
so với 48% năm 2001.
Tuy nhiên, trong bối cảnh đó, cam kết ODA dành cho Việt Nam
tiếp tục tăng, năm 2002 đạt 2.5 tỷ USA, tăng 4.5% so với năm
2001.
Công tác vận động và thu hút ODA trong hai năm qua đã đạt hiệu
quả cao, tiếp tục tranh thủ đợc sự đồng tình và ủng hộ của cộng
đồng tài trợ quốc tế đối với Việt Nam trong quá trình thực hiện
Chiến lợc phát triển kinh tế-xã hội 10 năm(2001-2010) và Kế
hoạch 5 năm(2001-2005) và Chiến lợc toàn diện về Tăng trởng và
Xoá đói giảm nghèo.
Tình hình ký kết các điều ớc quốc tế cụ thể về ODA trong hai
năm 2001-2003 đã diền ra thuận lợi. Từ năm 2001 đến hết quý
III/2003, tổng giá trị các hiệp định đã đợc kýkết đạt khoảng hơn
5.7 tỷ USD, trong đó, vốn vay khoảng 4.7 tỷ USD, vốn viện trợ
không hoàn lại khoảng 1 tỷ USD.
13
Các hiệp định đã đợc ký kết tập trung chủ yếu vào phát triển cơ sở
hạ tầng kinh tế-xã hội, về cơ bản, phù hợp với định hớng cơ cấu sử
dụng ODA của Chính phủ:
Lĩnh vực sử dụng ODA
Cơ cấu sử dụng theo
hiệp định ký kết từ
2001 đến
QuýIII/2003(%)
Cơ cấu định hớng sử
dụng ODA 5 năm
2001-2005(%)
Tổng số 100 100
1.Giao thông vận tải, b-
u chính viễn thông, cấp
thoát nớc và hạ tầng đô
thị
2. Năng lợng và công
nghiệp
3. Nông nghiệp và phát
triển nông thôn, thuỷ
lợi, lâm nghiệp và thuỷ
lợi.
4. Các lĩnh vực
khác(giáo dục đào tạo,
y tế, quản lý, khoa học
công nghệ )
29.84
18.41
18.13
33.61
25
25
15
35
Trong số các hiệp định đã đợc ký kết trong thời gian qua, có một
số dự án quan trọng hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội
trong các danh mục các dự án đầu t của kế hoạch 5 năm 2001-
2005 nh Cầu Cần Thơ (289 triệu USD);Cầu Bãi Cháy(62.2 triệu
USD); Nhà ga quốc tế sân bay Tân Sơn Nhất (169.82 triệu USD);
Đờng dây tải điện 500KV Phú Mỹ- Nhà Bè-Phú Lâm(114.15 triệu
USD); Nâng cao hiệu suất hệ thống điện, cổ phần hoá và năng l-
ợng tái tạo(225 triệu USD); Năng lợng nông thôn (150 triệu USD);
Cơ sở hạ tầng nông thôn dựa vào cộng đồng(102.78 triệu
USD);Giảm nghèo các tỉnh miền núi phía miền núi phía Bắc(120
triệu USD); Giảm nghèo khu vực miền Trung(59 triệu USD); Phát
14

Xem chi tiết: Vốn ODA


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét