Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

184 Một số giải pháp phát triển thị trường nông thôn vùng đồng bằng Sông Cửu Long thời kỳ đến năm 2010








DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
Bộ NN&PTNT: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
CNH – HĐH: Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu long
GSGC: Gia súc – gia cầm
HND: Hộ nông dân
HTX: Hợp tác xã
KCN: Khu công nghiệp
KCX: Khu chế xuất
MPDF: Chương trình hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc
tiểu vùng sông Mekong do Ngân hàng thế giới (WB) tài trợ
NHTM: Ngân hàng thương mại
QTDND: Q tín dụng nhân dân
THCN: Trung học chuyên nghiệp
TTNT: Thò trường nông thôn
XTTM: Xúc tiến thương mại
XNK: xuất nhập khẩu
VCCI: Phòng thương mại công nghiệp Việt Nam
WTO: Tổ chức thương mại thế giới









DANH MỤC BẢNG – SƠ ĐỒ

DANH MỤC BẢNG Trang
Bảng 1: So sanh tỉ lệ các chỉ tiêu đánh giá lo động của ĐBSCL với cả
nước năm 2002
Bảng 2: Mức bình quân lương thực có hạt trên đầu người
Bảng 3: Sản lượng và giá trò thủy hải sản đánh bắt của ĐBSCL
Bảng 4: Diện tích cây ăn trái của ĐBSCL
Bảng 5: Trái cây nam bộ tham gia thò trường nội đòa
Bảng 6: Một số chỉ tiêu về hoạt động thương mại của ĐBSCL so với cả
nước
Bảng 7: Dân số 12 tỉnh và vùng nông thôn ĐBSCL
Bảng 8: Xuất nhập khẩu của ĐBSCL so với cả nước
Bảng 9: Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực
Bảng 10: Tình hình cung ứng một số mặt hàng chủ lực của ĐBSCL
Bảng 11: Tình hình hạot động của 8 vùng kinh tế năm 2003
Bảng 12: Tổng mức bán lẻ hàng hóa của ĐBSCL và khu vực nông thôn
Bảng 13: So sánh tốc độ tăng trưởng bán lẻ hàng hóa và dòch vụ
Bảng 14: Tổng mức bán lẻ hàng hóa xã hội các tỉnh ĐBSCL
Bảng 15: So sánh mức tăng/giảm tổng mức bán lẻ hàng hóa xã hội các
tỉnh ĐBSCL
Bảng 16: Thu nhập bình quân đầu người năm 2001 – 2002
Bảng 17: Cơ cấu chi tiêu cho sinh hoạt gia đình
Bảng 18: Những tỉnh có nhu cầu cao về thuốc bảo vệ thực vật
Bảng 19: Cơ cấu nhu cầu thức ăn trong chăn nuôi
Bảng 20: Nhu cầu thức ăn thô – xanh cho đàn trâu – bò
Bảng 21: Sản lượng một số nhà máy sản xuất thức ăn thủy sản VN
1

11
11
12
12
13

17
20
20
30
36
46
46
47
47

48
49
50
51
51
53
Bảng 22: Qui mô đàn gia súc – gia cầm của nông thôn ĐBSCL
Bảng 23: Một số chỉ tiêu về thủy sản ĐBSCL so với cả nước
Bảng 24: Xuất khẩu gạo của ĐBSCL so với cả nước
Bảng 25: Các đòa phương có tỉ trọng xuất khẩu tôm đông lạnh cao nhất
Bảng 26: Các đòa phương có tỉ trọng xuất khẩu hàng thủy hải sản đông
lạnh cao nhất
Bảng 27: Kim ngạch nhập khẩu của ĐBSCL
Bảng 28: 6 tỉnh của ĐBSCL có kim ngạch xuất khẩu trên 100 triệu USD
Bảng 29: Số doanh nghiệp thương mại nhà nước ở ĐBSCL
Bảng 30: Số cơ sở tư nhân kinh doanh thương mại ở ĐBSCL
Bảng 31: Hiện trạng đầu tư nước ngòai vào các vùng kinh tế
Bảng 32: Mạng lưới giao thông ở một số tỉnh
Bảng 33: Đòa điểm đặt chợ nông thôn ở một số tỉnh
Bảng 34: Số lượng chợ nông thôn ở ĐBSCL đến hết năm 2003
Bảng 35: Qui mô chợ nông thôn tính theo số người bán
Bảng 36: Tình hình cán bộ chuyên trách quản lý chợ nông thôn
Bảng 37: Một số chợ trung tâm đầu mối lúa gạo và nông sản
Bảng 38: Kết quả chuyển dòch cơ cấu kinh tế từ 2000-2005
Bảng 39: Dự báo cơ cấu kinh tế trong GDP đến năm 2010
56
58
63
63
63

64
65
66
70
71
72
77
78
79
80
82
128
129
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1: Kênh tiêu thụ trái cây ở ĐBSCL
Sơ đồ 2: Kênh phân phối lúa gạo trên thò trường ĐBSCL
Sơ đồ 3:Tổng thể mạng lưới phân phối sản phẩm heo thòt ở ĐBSCL
Sơ đồ 4: Những nhân tố tác độngvào chương trình kích cầu
27
28
29
127










CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
NÔNG THÔN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
THỜI KỲ ĐẾN NĂM 2010

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài:
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng châu thổ hạ lưu của
sông Mekong, bao gồm 13 tỉnh (Long An, Đồng Tháp, An Giang, Tiền
Giang, Hậu Giang, Vónh Long, Bến Tre, Kiên Giang, Cần Thơ, Trà Vinh,
Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau) nằm ở phía Tây Nam của Việt Nam, trong
đó có 9 tỉnh nằm trong vùng ảnh hưởng của sông Mê-kông là Đồng Tháp,
An Giang, Tiền Giang, Hậu Giang, Kiên Giang, Vónh Long, Cần Thơ, Trà
Vinh, Sóc Trăng.
Đây là một thò trường rộng lớn với dân số khoảng 16,96 triệu người
(đến năm 2003), trong đó 80,22% dân số sống ở nông thôn.
Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, ĐBSCL là vùng có lợi thế sản xuất
nông nghiệp với đa dạng loại nông sản, đa dạng mùa vụ. Đây là vùng sản
xuất tập trung lớn nhất cả nước với 3 thế mạnh chủ lực là lúa gạo, thuỷ sản
và trái cây; là vùng có những đóng góp tích cực nhất trong việc cung cấp
hàng nông sản cho thò trường trong nước. Đồng thời ĐBSCL cũng là một thò
trường tiềm năng tiêu thụ nhiều loại hàng hoá và sản phẩm công nghiệp.
Trong những năm qua, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và thương
mại – dòch vụ của khu vực đã có những bước phát triển khá. Kim ngạch xuất
khẩu, tổng mức lưu chuyển hàng hoá, doanh thu, dòch vụ, thu nhập và đời
sống dân cư trong vùng cũng tăng lên qua mỗi năm.
Tuy nhiên, so với những khu vực khác trong cả nước thì tốc độ tăng
trưởng kinh tế và chuyển dòch cơ cấu của vùng vẫn còn chậm, sản xuất còn
mang nặng tính độc canh; nhiều tiềm năng to lớn của các tỉnh chưa được
khai thác hết hoặc mức độ khai thác còn hạn chế, hiệu quả khai thác các
nguồn tài nguyên chưa cao.
Đặc biệt sức phát triển của thò trường, nhất là thò trường nông thôn
còn yếu, sức cạnh tranh của hàng hoá còn thấp và việc tiêu thụ nông sản
hàng hoá do nông dân tạo ra còn gặp nhiều khó khăn. Mặt khác, trong điều

1
kiện hội nhập kinh tế quốc tế, thò trường nông thôn ĐBSCL đang là thò
trường tiềm năng tiêu thụ nhiều loại hàng hóa nội đòa và cả nhập khẩu.
Tuy nhiên do đặc điểm đòa hình thấp, trũng, nhiều sông ngòi, kênh
rạch và thường bò ngập lụt vào mùa mưa nên các điều kiện phát triển thò
trường, phục vụ hoạt động thương mại như hệ thống đường giao thông, chợ,
kho tàng, thông tin ở khu vực này còn rất yếu kém.
Tình hình trên đang đặt ra những yêu cầu khẩn trương và gay gắt về
việc phát triển thò trường, đặc biệt là thò trường nông thôn ĐBSCL nhằm
khai thác tối đa tiềm năng của vùng, đưa nông thôn ĐBSCL trở thành vùng
sản xuất hàng hoá lớn, đồng thời nâng cao mức thu nhập cho nông dân. Vì
vậy việc nghiên cứu đề tài này là rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài trong và ngoài nước:
Liên quan đến thò trường và phát triển thương mại ĐBSCL đã có
nhiều đề tài và dự án nghiên cứu ở trong nước, chẳng hạn:
- Đề tài "Những giải pháp đầu ra cho trái cây tươi của ĐBSCL" do
GS.TS. Võ Thanh Thu - Đại học Kinh tế Tp.HCM làm chủ nhiệm (tháng
9/2001) nghiên cứu những nhân tố tác động đến khả năng tiêu thụ trái cây
tươi và đề nghò một số giải pháp kinh tế - xã hội đẩy mạnh tiêu thụ trái cây
tươi của ĐBSCL. Trong đề tài này có đề cập đến một số vấn đề có liên quan
đến việc tăng khả năng tiêu thụ trái cây ĐBSCL.
– Hội thảo Chợ trái cây đầu mối tổ chức tại Cần Thơ (ngày
8/12/2001) có một số bài tham luận về kinh nghiệm của một số nước, đặc
biệt là Thái Lan, trong việc xây dựng chợ nông sản nói chung và chợ trái
cây nói riêng nhằm tăng tốc độ lưu thông hàng hóa trái cây.
– Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Nghiên cứu những giải pháp
phát triển chủ yếu nhằm phát huy lợi thế nâng cao khả năng cạnh tranh và
phát triển thò trường xuất khẩu nông sản trong thời gian tới” của TS.
Nguyễn Đình Long (Viện Kinh tế Nông nghiệp – Bộ NN&PTNT) thực hiện
tháng 2/2001 có bàn về một số giải pháp phát triển thò trường một số loại
nông sản chủ yếu như gạo, cà phê, cao su, chè, điều.
– Đề tài “Một số giải pháp phát triển thương mại khu vực Tây Nam
bộ thời kỳ đến năm 2010” của Vụ Kế hoạch – Thống kê, B Thương mại do
CN. Khúc Mạnh Hà làm chủ nhiệm, nghiên cứu về hoạt động thương mại –
dòch vụ của toàn vùng Tây Nam bộ, trong đó tác giả đánh giá thực trạng
hoạt động thương mại của toàn khu vực Tây Nam bộ trên cơ sở xem xét

2
những tác động của các nhân tố chính trò, kinh tế, môi trường đến sự phát
triển thương mại Tây Nam bộ. Từ đó đưa ra những giải pháp chủ yếu phát
triển thương mại khu vực Tây Nam bộ đến năm 2010.
– Đề tài "Nghiên cứu ảnh hưởng của tự do hóa thương mại và các giải
pháp đẩy mạnh tiêu thụ một số sản phẩm công, nông nghiệp chủ yếu của
Việt Nam đến 2010" do Bộ Thương mại thực hiện (năm 2001) nêu lên
những ảnh hưởng của tự do hóa thương mại đối với việc tiêu thụ một số sản
phẩm nông nghiệp chủ yếu của Việt Nam. Đây cũng là một tài liệu tham
khảo có giá trò để xây dựng những giải pháp phát triển thò trường nông thôn
ĐBSCL.
– Đề tài nhánh của Bộ Khoa học và công nghệ “Luận cứ khoa học
cho giải pháp tổng thể về phát triển thương mại – dòch vụ ĐBSCL trong
điều kiện sống chung với lũ” do nhóm tác giả trường Đại học Kinh tế
Tp.HCM thực hiện (TS. Nguyễn Đông Phong làm chủ nhiệm) có đề cập đến
phát triển dòch vụ thương mại cho riêng vùng lũ ĐBSCL.
Tuy nhiên, các đề tài trên cũng như nội dung những cuộc hội thảo
quốc tế và khu vực chưa có đề tài nào đề cập một cách chi tiết và đầy đủ về
phát triển thương mại thò trường nông thôn ĐBSCL.
Đề tài của Vụ Kế hoạch - Thống kê nghiên cứu về thương mại – dòch
vụ trên diện rộng (toàn bộ thò trường ĐBSCL). Mặc dù các tác giả có đề cập
đến nông nghiệp của khu vực Tây Nam bộ và khẳng đònh rằng “nông
nghiệp là ngành sản xuất chủ yếu của khu vực Tây Nam bộ” với những dẫn
chứng về tỉ trọng nông nghiệp trong cơ cấu GDP là cao nhất, song đề tài này
không nghiên cứu chuyên sâu về thò trường nông thôn ĐBSCL và những tác
động tích cực cũng như hạn chế của thò trường nông thôn ĐBSCL. Trong khi
đó thò trường nông thôn ĐBSCL lại gắn liền với sản xuất và tiêu thụ hàng
hoá nông sản.
Tóm lại, các nghiên cứu trong và ngoài nước chưa có đề tài nào
nghiên cứu một cách toàn diện cả về lý luận và thực tiễn để đưa ra những
giải pháp cụ thể về phát triển thò trường nông thôn ĐBSCL. Vì vậy những
điểm mới trong đề tài so với các nghiên cứu trước là:
- Đề tài nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về những tác
động chủ quan, khách quan đến sự phát triển của thò trường nông thôn
ĐBSCL bao gồm những tác động đến các chủ thể tham gia thò trường và các
loại hàng hoá lưu thông trên thò trường nông thôn ĐBSCL.

3
- Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển thò trường nông thôn của một số
nước trong khu vực có điều kiện tương tự như ĐBSCL, từ đó đề xuất một số
giải pháp phát triển thò trường nông thôn ĐBSCL. Đây là vấn đề bức xúc
hiện đang được Chính phủ và các tỉnh ĐBSCL quan tâm chú ý.
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
- Xác đònh rõ những đặc trưng của thò trường nông thôn ĐBSCL; tiềm
năng, lợi thế và hạn chế đối với sự phát triển thò trường nông thôn ĐBSCL.
- Phân tích thực trạng phát triển thò trường nông thôn ĐBSCL, đánh
giá những thành tựu đã đạt được, những mặt hạn chế và nguyên nhân.
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển thò trường nông
thôn ĐBSCL trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, tạo điều kiện đẩy
nhanh chuyển dòch cơ cấu kinh tế và phát triển sản xuất hàng hoá; đẩy
mạnh tăng trưởng kinh tế ở khu vực này.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thương mại hàng hoá và hoạt động
thương mại ở thò trường nông thôn vùng ĐBSCL.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: chỉ tập trung vào thương mại và thò
trường hàng hoá ở đòa bàn nông thôn khu vực ĐBSCL trong mối liên hệ với
thò trường đô thò trong và ngoài vùng, trong thời gian từ 1996 – 2004 và các
giải pháp phát triển thò trường này đến năm 2010.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện đề tài, các phương pháp nghiên cứu được sử dụng là:
- Phương pháp khảo sát thực tế một số thò trường điển hình.
- Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp dựa vào việc thu thập các
tài liệu, số liệu trên các kênh thông tin.
- Phương pháp chuyên gia.
6. Kết cấu của đề tài:
Đề tài gồm 154 trang (không kể phần mục lục, mở đầu và kết luận),
và được trình bày trong 3 chương:
Chương 1 – Vò trí, vai trò, đặc điểm thò trường nông thôn ĐBSCL
Chương 2 - Đánh giá thực trạng phát triển thò trường nông thôn
ĐBSCL giai đoạn 1996 - 2004
Chương 3 – Các giải pháp thúc đẩy phát triển thò trường nông thôn
ĐBSCL thời kỳ đến năm 2010.


4

5
CHƯƠNG 1
VỊ TRÍ, VAI TRÒ VÀ ĐẶC ĐIỂM
THỊ TRƯỜNG NÔNG THÔN ĐBSCL

I – KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐBSCL:
1. Vò trí đòa lý, điều kiện tự nhiên – xã hội:
Điều kiện tự nhiên:
ĐBSCL nằm ở phía cực Nam của nước ta, bao gồm 13 tỉnh thành phố:
Long An, Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Vónh Long, Bến Tre, Kiên
Giang, Hậu Giang, Cần Thơ, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau.
Theo số liệu của Cục Thống kê Cần Thơ, đến tháng 12/2003, 12 tỉnh
của ĐBSCL (chưa có Hậu Giang) có tổng diện tích tự nhiên là 39.763 km
2
,
chiếm 12,06% diện tích của cả nước. Trong đó 30% diện tích khu vực là đất
phù sa; ĐBSCL có 29.702 km
2
đất nông nghiệp (chiếm 74,7% tổng diện
tích), đất lâm nghiệp có rừng 3.378 km
2
(chiếm 8,5% tổng diện tích), đất
chuyên dùng 2.235 km
2
(chiếm 5,6% tổng diện tích) và 1.012 km
2
đất thổ cư
(chiếm 2,5% tổng diện tích).
Ngoài điều kiện tự nhiên thuận lợi, ĐBSCL còn có nguồn nước mặt
khá phong phú từ sông Mekong nên nơi đây có đủ điều kiện trở thành vùng
sản xuất lương thực, thực phẩm hàng đầu của cả nước.
Đặc biệt những tỉnh nằm trong vùng ảnh hưởng của sông Mekong mỗi
năm đều phải đối mặt với mùa lũ từ tháng 9 đến tháng 11 dương lòch. Mùa
lũ vừa là bất lợi đối với nông dân, nhưng lại là mùa bội thu đối với người
nghèo, nhiều người đã tận dụng mùa lũ để nuôi và đánh bắt thuỷ sản, coi đó
như một nghề phụ tăng thêm thu nhập. Vì mùa lũ là mùa cá kèo giống, mùa
thu hoạch các loại ốc; đặc sản của mùa lũ còn có cá linh, lúa trời… Ngoài ra
việc trồng ấu, trồng sen, rau nhút… còn giải quyết việc làm cho hàng chục
vạn lao động nông nhàn của ĐBSCL vào mùa lũ.
Ví dụ năm 2004 tỉnh An Giang có trên 100.000 người dân có thu nhập
thêm vào mùa lũ; năm 2003 số lao động kiếm kế sinh nhai trong mùa lũ của
tỉnh cũng đã thu nhập được trên 1.000 tỉ đồng, từ đó giúp tỉnh có kế hoạch
xoá dần việc cứu trợ dân nghèo vào mùa lũ.
Những năm gần đây phong trào làm đê bao chống lũ đã giúp nhiều
hộ không rơi vào tình trạng mất trắng nông sản phẩm như trước năm 2000.
Chẳng hạn mùa lũ năm 2004 nông dân huyện Lai Vung, Lấp Vò, Sa Đéc

6
(Đồng Tháp) có 16,3 ngàn ha được đê bao bảo vệ; An Giang có trên 7 ngàn
ha hoa màu mới xuống giống, 60 ha tôm – cá và 37 ha cá nuôi trong mùng
lưới được bảo vệ; Nhiều hộ ở An Giang thả nuôi 500 ha tôm càng xanh
trong mùa lũ phát triển rất tốt…
Một khó khăn lớn về điều kiện tự nhiên của ĐBSCL phải được kể đến
là chế độ thuỷ văn cùng với lượng mưa theo mùa làm ảnh hưởng đến chất
lượng nước và tài nguyên đất của vùng: gây chua phèn và nhiễm mặn cho
một diện tích khá rộng lớn của ĐBSCL. Điều đó khiến cho các nguồn nước
mặt có chất lượng kém (trừ nguồn chính là nước ở 2 nhánh sông Mekong:
sông Tiền, sông Hậu). Nguồn nước và chất lượng nguồn nước là những yếu
tố quan trọng, có tính chất quyết đònh đến đời sống cư dân và phát triển kinh
tế và kinh tế – xã hội của vùng ĐBSCL.
Đặc điểm dân cư – kinh tế-xã hội:
Dân cư trong khu vực ĐBSCL đến năm 2003 khoảng 16,89 triệu
người, chiếm 21% dân số cả nước.
+ Phân chia theo giới tính: nam chiếm 48,99% (8,27 triệu người)
+ Chia theo khu vực: dân cư chủ yếu tập trung ở nông thôn (13,55
triệu người), chiếm 80,22% dân số toàn khu vực (so với tỉ lệ 74,58% của cả
nước). Do dân số tập trung ở nông thôn, trình độ dân trí thấp nên nguồn
nhân lực của ĐBSCL chưa đủ sức đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa nông
nghiệp – nông thôn so với cả nước.
* Dân cư ở ĐBSCL hiện đang sinh sống theo 3 dạng:
- Dạng cụm: tập trung tại các trung tâm đô thò như thành phố, thò xã,
thò trấn, các trung tâm xã.
Ngoại trừ khu vực trung tâm của một số thành phố, đô thò sung túc,
các cụm dân cư ở vùng ngoại ô (tiểu đô thò nông thôn) thường có môi trường
sống ô nhiễm, chợ búa quá tải, tình trạng tự phát lấn chiếm lòng lề đường,
lấn chiếm lòng bờ sông xảy ra ở mọi nơi, vệ sinh môi trường không bảo
đảm… Tình trạng này là hệ quả tất yếu của hiện tượng gia tăng dân số vừa tự
nhiên, vừa cơ học; hơn nữa thất nghiệp còn nặng nề (5,2%) cùng với số lao
động thất nghiệp trong thời gian nông nhàn cao (77,5%), trong khi công tác
qui hoạch và xây dựng những chuẩn mực trong quản lý đô thò nông thôn tuy
đã có chủ trương nhưng triển khai còn chậm và thiếu đồng bộ, khiến cho
tốc độ đô thò hoá nông thôn diễn ra chậm so với yêu cầu.

7

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét