Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

Giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn và hoàn thiện kế toán huy động vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Anh Bình ABBANK Hà Nội

Học viện Ngân hàng Khoá luận tốt nghiệp
1.1.1.2. Ngân hàng là cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, mức độ cạnh tranh ngày càng gay
gắt. Mỗi doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải không ngừng cải
tiến máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ, tìm tòi sử dụng nguyên vật liệu
mới, mở rộng quy mô sản xuất một cách thích hợp…để sản xuất ra những mặt
hàng có sức cạnh tranh cao không chỉ ở thị trường trong nước mà còn ở thị
trường quốc tế. Tuy nhiên, những hoạt động này đòi hỏi phải có một lượng
vốn đầu tư lớn, nhiều khi vượt quá khả năng vốn tự có của doanh nghiệp. Do
đó, để giải quyết khó khăn này doanh nghiệp có thể tìm đến ngân hàng xin
vay vốn nhằm thỏa mãn nhu cầu đầu tư của mình. Thông qua hoạt động tín
dụng,ngân hàng là chiếc cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường. Nguồn
vốn tín dụng của ngân hàng cung ứng cho doanh nghiệp đã đóng vai trò quan
trọng trong việc nâng cao chất lượng mọi mặt của quá trình sản xuất kinh
doanh, đáp ứng nhu cầu thị trường và từ đó tạo cho doanh nghiệp một chỗ
đứng vững chắc trong kinh doanh.
1.1.1.3. NHTM là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Hoạt động của các ngân hàng có liên quan đến hầu hết các hoạt động
kinh tế - xã hội. Trong sự vận hành của nền kinh tế thị trường, NHTM hoạt
động một cách có hiệu quả thông qua các nghiệp vụ kinh doanh của mình sẽ
thực sự là một công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Bằng hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các NHTM trong hệ thống,
các NHTM đã góp phần mở rộng khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông.
Thông qua việc cung ứng tín dụng cho các ngành trong nền kinh tế, NHTM
thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp và phân chia vốn của thị trường,
điều khiển chúng một cách có hiệu quả và thực thi vai trò điều tiết gián tiếp vĩ
mô: ”Nhà nước điều tiết ngân hàng, ngân hàng dẫn dắt thị trường”.
Đào Thị Hà Lớp: NHEK7
5
Học viện Ngân hàng Khoá luận tốt nghiệp
1.1.1.4. NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc
tế.
Để thúc đẩy nền kinh tế quốc gia ngày càng phát triển thì vấn đề giao
lưu, mở rộng mối quan hệ hợp tác kinh tế - xã hội với các nước trên thế giới,
đặc biệt là các nước phát triển là rất quan trọng. Việc phát triển kinh tế của
mỗi quốc gia luôn gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và là một
bộ phận cấu thành nên sự phát triển đó. Vì vậy nền tài chính quốc gia phải
hòa nhập với nền tài chính quốc tế và NHTM cùng với các hoạt động của
mình đã đóng vai trò là cấu nối quan trọng này. Với các nghiệp vụ như nhận
tiền gửi, cho vay, thanh toán, hối đoái và các nghiệp vụ khác, NHTM đã tạo
điều kiện thúc đẩy ngoại thương không ngừng phát triển. Thông qua các hoạt
động thanh toán, kinh doanh ngoại hối, quan hệ tín dụng với các ngân hàng
thương mại nước ngoài, hệ thống NHTM đã thực hiện vai trò điều tiết nền tài
chính trong nước phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế.
1.1.2. Chức năng của NHTM.
1.1.2.1. Chức năng làm thủ quỹ cho xã hội.
Thực hiện chức năng này, NHTM nhận tiền gửi của công chúng, các
doanh nghiệp và các tổ chức, giữ tiền cho khách hàng của mình, đáp ứng nhu
cầu rút tiền và chi tiền của họ.
Ngân hàng sử dụng khoản tiền của khách hàng để cho vay và trả cho
khách hàng khoản lợi tức tiền gửi.
Như vậy, chức năng này vừa đem lại lợi ích cho ngân hàng vừa đem lại
lợi ích cho khách hàng.
Đào Thị Hà Lớp: NHEK7
6
Học viện Ngân hàng Khoá luận tốt nghiệp
1.1.2.2. Chức năng trung gian thanh toán.
Chức năng này được thể hiện thông qua việc ngân hàng thực hiện trích
tài khoản tiền gửi của khách hàng để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ; nhập
vào tài khoản của khách hàng tiền thu từ bán hàng và các khoản thu khác theo
yêu cầu của họ.
Chức năng này có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động kinh tế: Góp
phần tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt và đảm bảo thanh toán an toàn cho
phép khách hàng thực hiện thanh toán nhanh chóng và hiệu quả, đặc biệt nó
còn làm tăng uy tín cho ngân hàng, tạo điều kiện để thu hút nguồn vốn tiền
gửi.
1.1.2.3. Chức năng làm trung gian tín dụng.
NHTM là tổ chức kinh tế kinh doanh hàng hóa đặc biệt - tiền tệ. Thông
qua việc huy động vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, ngân hàng hình
thành nên quỹ cho vay của nó rồi đem cho vay đối với nền kinh tế. Như vậy,
ngân hàng đã giúp người gửi tiền thu được một khoản lợi tức từ nguồn vốn
tạm thời nhàn rỗi của mình, người vay tiền có nguồn vốn đáp ứng nhu cầu sản
xuất kinh doanh, đồng thời ngân hàng cũng thu được một khoản lợi nhuận từ
chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động. Lợi nhuận này chính là
cơ sở để tồn tại và phát triển của ngân hàng.
Sự kết hợp giữa chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán
làm cho hệ thống NHTM có khả năng mở rộng tiền gửi. Từ một khoản tiền
gửi ban đầu, thông qua cho vay bằng chuyển khoản trong hệ thống NHTM, số
tiền gửi đã tăng lên gấp bội so với lượng tiền gửi ban đầu.
Đào Thị Hà Lớp: NHEK7
7
Học viện Ngân hàng Khoá luận tốt nghiệp
1.1.3. Nghiệp vụ của NHTM.
1.1.3.1. Nghiệp vụ thuộc tài sản nợ.
Nghiệp vụ thuộc tài sản nợ phản ánh nguồn vốn của ngân hàng, bao
gồm:
* Vốn tự có
Vốn tự có của NHTM là những giá trị tiền tệ do ngân hàng tạo lập được,
thuộc sở hữu của ngân hàng, vốn này chiếm một tỉ trọng nhỏ trong tổng
nguồn vốn của ngân hàng song lại là điều kiện pháp lí bắt buộc khi thành lập
ngân hàng
+ Vốn tự có bao gồm :
Vốn tự có là vốn pháp định – vốn điều lệ
Vốn pháp định là mức vốn tối thiểu phải có để thành lập ngân hàng do
pháp luật quy định, còn vốn điều lệ là vốn do cổ đông đóng góp và được ghi
vào điều lệ hoạt động của ngân hàng và theo quy định phải bằng vốn pháp
định.
Vốn tự có bổ sung : Bao gồm quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự trữ
đặc biệt để bù đắp rủi ro. Ngoài các quỹ trên, vốn tự có bổ sung còn bao gồm
phần lợi nhuận chưa phân phối hoặc các quỹ đặc biệt khác như: Quỹ phúc lợi,
quỹ khen thưởng, quỹ khấu hao tài sản cố định…
* Vốn huy động
Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ
các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện
các nghiệp vụ tín dụng, thanh toán, các nghiệp vụ kinh doanh khác và được
làm vốn để kinh doanh.
Đào Thị Hà Lớp: NHEK7
8
Học viện Ngân hàng Khoá luận tốt nghiệp
Ngân hàng có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu nguồn vốn này
và có trách nhiệm hoàn trả khi đến hạn ( tiền gửi có kỳ hạn) hoặc khi họ có
nhu cầu rút vốn (tiền gửi không kỳ hạn)
Tuy nhiên, ngân hàng cũng không thể sử dụng hết nguồn vốn huy động
này mà phải duy trì một tỉ lệ nhất định (dự trữ bắt buộc, dự trữ đảm bảo khả
năng thanh toán) theo quy định của NHNN.
Vốn huy động bao gồm: Tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi
tiết kiệm, vốn phát hành giấy tờ có giá
* Vốn đi vay
Vốn đi vay là loại vốn mà NHTM đi vay NHNN hoặc các NHTM hay
các TCTD khác.
NHTM thực hiện đi vay vốn để bổ sung vốn hoạt động của mình khi
ngân hàng đã sử dụng hết vốn khả dụng mà vẫn không đủ vốn hoạt động.
* Vốn khác
Trong quá trình làm trung gian thanh toán, NHTM cũng tạo ra được gọi
là khoản vốn trong thanh toán: Vốn trên tài khoản mở thư tín dụng, tài khoản
tiền gửi séc bảo chi, các khoản tiền phong tỏa…
Trong nghiệp vụ đại lý, NHTM cũng thu hút được một lượng vốn đáng
kể trong quá trình thu hoặc chi hộ khách hàng, làm đại lý cho TCTD khác,
nhận và chuyển vốn cho khách hàng hay một dự án đầu tư.
Những khoản tiền trên được ngân hàng tạm thời sử dụng vào hoạt động
kinh doanh của mình.
1.1.3.2. Nghiệp vụ thuộc tài sản có.
Nghiệp vụ thuộc tài sản có phản ánh việc sử dụng vốn của NHTM
Đào Thị Hà Lớp: NHEK7
9
Học viện Ngân hàng Khoá luận tốt nghiệp
Đây là nghiệp vụ nhằm đảm bảo hai mục tiêu là an toàn và sinh lời cho
ngân hàng, bao gồm:
Nghiệp vụ ngân quỹ: Khoản mục này bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi
tại ngân hàng khác, tiền gửi ở NHTW.
Các bộ phận trên hình thành nên phần dự trữ của NHTM, phần dự trữ
này không tạo ra lợi nhuận nhưng nó đảm bảo khả năng thanh toán và các
nghĩa vụ tài chính cho ngân hàng.
Nghiệp vụ cho vay: Đây là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu của các ngân hàng
truyền thống, bao gồm cho vay ngắn hạn: Chiết khấu thương phiếu, cho vay
theo hạn mức tín dụng, cho vay từng lần… và cho vay dài hạn: Cho vay theo
dự án, cho vay thuê mua…
Nghiệp vụ đầu tư: Ngân hàng thực hiện đầu tư vào chứng khoán để đáp
ứng các mục tiêu của mình như: Tăng thu nhập, nâng cao khả năng thanh
khoản, đa dạng hóa hoạt động kinh doanh nhằm phân tán rủi ro trong hoạt
động kinh doanh của mình.
1.1.3.3. Các nghiệp vụ khác.
Các dịch vụ ngân hàng: Các NHTM với chức năng vốn có thực hiện các
dịch vụ thanh toán, dịch vụ cho thuê két sắt,
Nghiệp vụ ngoại bảng: Dịch vụ bảo lãnh cho khách hàng, nghiệp vụ kinh
doanh ngoại hối, nghiệp vụ ủy thác và đại lý,…
1.2. Nội dung cơ bản về hoạt động huy động vốn của NHTM.
1.2.1. Tầm quan trọng của hoạt động huy động vốn.
Nghiệp vụ huy động vốn là nghiệp vụ quan trọng của NHTM, mặc dù
đây không phải là nghiệp vụ trực tiếp mang lại lợi nhuận cho ngân hàng
nhưng nó lại quyết định đến hoạt động kinh doanh của NHTM. Bởi vì với
Đào Thị Hà Lớp: NHEK7
10
Học viện Ngân hàng Khoá luận tốt nghiệp
mức vốn điều lệ ban đầu khi thành lập nó chỉ đủ để ngân hàng mua sắm, trang
bị các tài sản cố định: Trụ sở, văn phòng, máy móc thiết bị cần thiết cho hoạt
động chứ chưa đủ để ngân hàng có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh
như: Cấp tín dụng và các dịch vụ khác, để có vốn phục vụ cho các hoạt động
này, ngân hàng phải huy động vốn từ khách hàng. Như vậy hoạt động huy
động vốn có ý nghĩa rất quan trọng đối với ngân hàng cũng như đối với khách
hàng.
1.2.1.1. Đối với NHTM.
Nghiệp vụ huy động vốn góp phần mang lại nguồn vốn cho ngân hàng
thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh khác, không có nghiệp vụ huy động vốn,
NHTM sẽ không có đủ nguồn vốn tài trợ cho hoạt động của mình, nguồn vốn
huy động sẽ quyết định quy mô tín dụng và các hoạt động khác của ngân
hàng. Mặt khác, thông qua nghiệp vụ huy động vốn NHTM có thể đo lường
được uy tín cũng như sự tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng từ đó
NHTM có các biện pháp không ngừng hoàn thiện hoạt động huy động vốn để
giữ vững và mở rộng quan hệ với khách hàng. Có thể nói hoạt động huy động
vốn góp phần giải quyết ”đầu vào” của ngân hàng.
1.2.1.2. Đối với khách hàng.
Nghiệp vụ huy động vốn cung cấp cho khách hàng một kênh tiết kiệm và
đầu tư nhằm làm cho tiền của họ sinh lời, tạo cơ hội cho họ có thể gia tăng
tiêu dùng trong tương lai.
Mặt khác, nghiệp vụ huy động vốn còn cung cấp cho khách hàng một
nơi an toàn để họ cất trữ và tích lũy vốn tạm thời nhàn rỗi.
Nghiệp vụ huy động vốn còn giúp cho khách hàng có cơ hội tiếp cận với
các dịch vụ khác của ngân hàng: Dịch vụ thanh toán qua ngân hàng, dịch vụ
Đào Thị Hà Lớp: NHEK7
11
Học viện Ngân hàng Khoá luận tốt nghiệp
tín dụng khi khách hàng có nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh hoặc cần
tiền cho tiêu dùng.
1.2.2. Các nghiệp vụ huy động vốn của NHTM.
1.2.2.1. Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi.
Tiền gửi thanh toán:
Tiền gửi thanh toán là hình thức huy động vốn của NHTM bằng cách mở
cho khách hàng tài khoản gọi là “tài khoản tiền gửi thanh toán”. Tài khoản
này mở cho đối tượng khách hàng cá nhân hoặc tổ chức có nhu cầu thực hiện
thanh toán qua ngân hàng. Tuy nhiên không phải lúc nào mọi người cũng huy
động số dư tiền gửi thanh toán của họ vào thanh toán, do đó ngân hàng có thể
sử dụng cho hoạt động của mình khi số dư này tạm thời nhàn rỗi.
Tiền gửi thanh toán là loại tiền gửi không kì hạn, khách hàng có thể rút
ra bất cứ lúc nào mà không cần phải báo trước cho ngân hàng nên ngân hàng
không thể chủ động trong việc sử dụng loại tiền này, do đó ngân hàng thường
trả lãi cho loại tiền gửi này rất thấp, thậm chí không trả lãi. Khách hàng
thường duy trì số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán không nhiều chỉ đủ để
đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả hàng ngày của họ.
Tiền gửi có kì hạn:
Tiền gửi có kì hạn là loại tiền gửi mà khách hàng được rút ra sau một
thời gian nhất định từ một vài tháng đến một vài năm. Mục đích của người
gửi tiền là lấy lãi và ngân hàng có thể chủ động kế hoạch hóa việc sử dụng
nguồn vốn này vì thời hạn của nguồn vốn. Mức lãi suất cụ thể phụ thuộc vào
thời gian gửi tiền và sự thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng trên cơ sở
xem xét đến mức độ an toàn của ngân hàng cũng như quan hệ về cung cầu
vốn tại thời điểm đó. Tuy nhiên để tạo tính lỏng cho loại tiền gửi này, hấp dẫn
Đào Thị Hà Lớp: NHEK7
12
Học viện Ngân hàng Khoá luận tốt nghiệp
khách hàng, ngân hàng có thể cho phép khách hàng được rút tiền trước thời
hạn đổi lại khách hàng chỉ được hưởng mức lãi suất thấp, thậm chí không
được hưởng lãi.
Tiền gửi tiết kiệm:
Tiết kiệm không kì hạn: Là khoản tiền tạm thời nhàn rỗi của cá nhân gửi
vào ngân hàng nhằm mục tiêu an toàn và sinh lợi nhưng không thiết lập được
kế hoạch sử dụng trong tương lai. Đối với loại tiền gửi này, khách hàng có thể
rút ra bất cứ lúc nào, tuy nhiên không được sử dụng để thực hiện các giao
dịch thanh toán, chi trả cho người khác
Tiền gửi tiết kiệm có kì hạn: Khác với tiền gửi tiết kiệm không kì hạn,
tiền gửi tiết kiệm có kì hạn được cá nhân gửi vào ngân hàng vì mục tiêu an
toàn, sinh lợi và thiết lập được kế hoạch sử dụng tiền trong tương lai. Sử dụng
loại tiền gửi này là những cá nhân có mong muốn thu nhập ổn định và thường
xuyên đáp ứng cho việc chi tiêu hàng tháng và hàng quý. Vì vậy loại tiền gửi
này có mức lãi suất cao hơn loại tiền gửi không kì hạn.
Về nguyên tắc khách hàng chỉ được rút tiền gửi theo đúng kì hạn đã cam
kết, không được phép rút tiền trước hạn. Tuy nhiên để khuyến khích, thu hút
khách hàng gửi tiền, ngân hàng cho phép khách hàng rút tiền gửi trước hạn
đổi lại khách hàng được hưởng mức lãi suất thấp hơn thường bằng mức lãi
suất tiền gửi không kì hạn, thậm chí không được hưởng lãi.
Các loại tiết kiệm khác: Ngoài 2 loại tiết kiệm trên, ngân hàng còn thiết
kế những loại tiền gửi khác như: Tiết kiệm tiện ích, tiết kiệm có thưởng, tiết
kiệm bậc thang…với những nét đặc trưng nhằm đáp ứng, thoả mãn những
nhu cầu khác nhau của khách hàng.
Đào Thị Hà Lớp: NHEK7
13
Học viện Ngân hàng Khoá luận tốt nghiệp
1.2.2.2. Huy động vốn qua phát hành giấy tờ có giá.
Giấy tờ có giá là các công cụ nợ do ngân hàng phát hành ra để huy động
vốn trên thị trường. Đây là nghiệp vụ tương đối ổn định và ngân hàng có thể
chủ động sử dụng với những mục đích đã định trước. Ngân hàng chỉ thực hiện
huy động vốn thông qua hình thức này khi vốn tự có và vốn huy động tiền gửi
không đủ để đáp ứng nhu cầu sử dụng đã định. Tùy vào mục đích cụ thể ngân
hàng sẽ xác định khối lượng huy động, thời hạn huy động, phương pháp huy
động và mức lãi suất huy động hợp lý.
- Huy động vốn ngắn hạn: Để huy động vốn ngắn hạn, ngân hàng có thể
phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn. Giấy tờ có giá ngắn hạn là những giấy tờ
có giá có thời hạn dưới 12 tháng: Kì phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, tín
phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác.
- Huy động vốn trung và dài hạn: Muốn huy động vốn trung và dài hạn,
NHTM có thể phát hành giấy tờ có giá trung và dài hạn. Giấy tờ có giá trung
và dài hạn là những giấy tờ có giá có thời hạn trên 12 tháng: Trái phiếu, cổ
phiếu, chứng chỉ tiền gửi dài hạn,…
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của NHTM.
1.2.3.1. Nhân tố khách quan.
* Kinh tế: Các yếu tố kinh tế có tác động lớn đến hoạt động huy động
vốn của NHTM như: Thu nhập bình quân đầu người, tỉ lệ lạm phát, tốc độ
tăng trưởng, tỉ lệ thất nghiệp,…
Các yếu tố kinh tế có tác động mạnh mẽ đến nhu cầu và cách thức sử
dụng sản phẩm dịch vụ của ngân hàng. Do đó nó chi phối đến công tác huy
động vốn và khả năng thỏa mãn nhu cầu về vốn của nền kinh tế.
Đào Thị Hà Lớp: NHEK7
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét