Chơng I
MộT Số VấN Đề lý luận CƠ BảN Về
QUYềN ĐƯợC CHếT
I. Khái niệm quyền đợc chết:
1. Nguồn gốc hình thành ý tởng về quyền đợc chết:
Quyền đợc chết ban đầu xuất hiện với những hành vi cha hoàn toàn
mang đúng bản chất của nó mà gắn liền với khái niệm: cái chết êm ả. Lịch sử
của thuật ngữ euthanasia (Tiếng Anh) hay euthanasie (Tiếng Pháp), an tử
(Tiếng Trung) mà chúng ta vẫn thờng gọi là cái chết êm ả bắt nguồn từ một từ
Hy Lạp là euthanatos . Trong đó, eu là tốt, thanatos là chết. Danh từ này bắt
đầu xuất hiện vào thế kỷ XVII, nhằm khuyến khích các bác sỹ quan tâm đến sự
đau đớn của ngời bệnh và giúp đỡ ngời gần đất xa trời thoát khỏi thế giới này
một cách nhẹ nhàng và dễ dàng hơn. Nh vậy, lúc đó cha xuất hiện khái niệm
quyền đợc chết nh khoa học hiện đại nhng đã có những hành vi trong quyền đợc
chết.
Tới cuối thế kỷ XIX, khi con ngời đã tìm ra cách khống chế sự đau đớn,
thuật ngữ này không còn bó hẹp với ý nghĩa giúp bệnh nhân thoát khỏi đau đớn
nữa, mà nó lại ám chỉ một hành động đặc biệt nhằm tạo ra cái chết của những
bệnh nhân đợc coi là vô phơng cứu chữa. Động thái này nhằm giúp bệnh nhân
khỏi rơi vào tình trạng suy sụp khi ở vào giai đoạn cuối của những căn bệnh nan
y. Từ khi xuất hiện đến nay, cái chết êm ả đã có những thay đổi khác nhau
gắn liền với những phát triển của nền y khoa và văn minh nhân loại. Và dần
dần, khái niệm quyền đợc chết đợc ra đời, mang theo nhiều vấn đề liên quan với
nhau một cách phức tạp. Thực ra, cái chết êm ả là kết quả sau cùng của
quyền đợc chết của một cá nhân nào đó. Cho nên, nếu nói đến quyền đợc chết
thì khái niệm cái chết êm ả cũng đi liền, gắn bó hữu cơ với nhau. Thiết nghĩ,
5
quyền đợc chết phải đợc ghi nhận nh một quyền của cá nhân và cần đợc sự quan
tâm thích đáng của mọi giới khoa học, đặc biệt là y học và luật học.
2. Khái niệm quyền đợc chết
Trên lý thuyết, chỉ khi một quyền đợc quy định trong Bộ Luật Dân sự thì
mới đợc công nhận là quyền nhân thân một cách chính thức (hợp pháp hóa).
Quyền đợc chết là một quyền thực tế nhng hiện tại, chỉ có ở một số nớc hợp
pháp hóa nó là quyền nhân thân. Nhiều nớc, theo quan điểm của các nhà lập
pháp và của các nhà khoa học, công nhận quyền đợc chết là quyền nhân thân
nhng cha quy định trong Luật. Thực tế cho thấy có quy định hay không chỉ là
vấn đề về mặt thời gian: có phù hợp với hiện tại hay không và hệ thống pháp
luật có đồng bộ, thống nhất hay không mà thôi. Và khi cha đợc công nhận, về
mặt pháp luật một ngời thực hiện hành vi của quyền đợc chết (trợ giúp tự tử,
thực hiện trực tiếp đa bệnh nhân ra đi (chết)) đợc quy vào một số tội: giết ng-
ời, giúp ngời khác tự sát, không cứu giúp ngời bị nạn Vấn đề này sẽ đợc làm
rõ hơn ở chơng II.
Quyền đợc chết, một khi đã đợc công nhận thì sẽ có các khái niệm liên
quan đến nó, nh: trợ giúp tự tử, tình trạng bệnh giai đoạn cuối, bệnh vô phơng
cứu chữa, tình trạng y tế không lối thoát, an tử tự nguyện, Hà Lan là quốc gia
đầu tiên công nhận hành vi tự tử dới sự trợ giúp của bác sỹ, sau đó gần 10 năm
mới hợp pháp hóa thành Luật An tử. Nớc này không dùng khái niệm an tử tự
nguyện (voluntary euthanasia) mà chỉ dùng khái niệm an tử (euthanasia) bởi
theo họ, cái chết êm ả là đã phải bao hàm sự tự nguyện, nếu không có sự tự
nguyện thì không thể gọi là an tử. Sự tự nguyện ở đây cần hiểu theo hai hớng:
Tự nguyện đợc thực hiện cái chết êm ả khi còn tỉnh táo, có thể
biểu lộ ý chí cá nhân của mình
Tự nguyện chỉ định ngời đại diện cho mình trong trờng hợp lúc rơi
vào giai đoạn không ý thức, không biểu lộ đợc ý chí. Ngời này sẽ
6
có quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến việc chữa bệnh của
bệnh nhân.
Theo chủ quan của ngời viết, với những mục đích tốt đẹp của quyền đợc
chết thì nên gọi cái chết êm ả là cái chết nhân đạo mới đúng. Điều này sẽ
phản ánh đúng tính chất của hành vi và tránh khỏi những suy luận hiểu nhầm
không đáng có.
Hiện nay cha có định nghĩa cụ thể về quyền đợc chết. Giới khoa học hầu
nh chỉ tập trung vào việc xem xét xem nó có phù hợp với quốc gia mình hay
không mà thôi. Tuy nhiên, nếu dựa vào nội dung của quyền đợc chết hiện nay
đợc đa số quan điểm đồng tình và theo các đạo luật của các nớc đã thông qua
cái chết êm ả thì có thể rút ra khái niệm quyền đợc chết nh sau:
Quyền đợc chết là một quyền nhân thân của ngời đã thành niên đang
phải chịu sự đau đớn về thể chất hoặc tinh thần kéo dài và không thể chịu
đựng đợc sau một tai nạn hay một bệnh lý không thể cứu chữa, rơi vào tình
huống y tế không lối thoát.
Khái niệm trên là đúc kết của ngời viết nên chỉ có giá trị tham khảo. Thực
ra, nội dung quyền đợc chết do tính phức tạp trong các điều kiện và quy trình
thực hiện nên không chỉ dừng ở đó. Vì vậy, khái niệm này chỉ là tổng quát.
II. Các tiêu chí cần thiết để thực hiện quyền đợc chết
1. Tiêu chí về y học
1.1 Phạm vi các loại bệnh nhân
Đến nay, việc phân loại bệnh nhân trong cái chết êm ả còn nhiều quan
điểm khác nhau, tồn tại ở các nớc đã công nhận và cha công nhận quyền đợc
chết. Do đó, có nhiều dạng bệnh nhân đợc đề cập. Tuy nhiên, giới y học hầu hết
thống nhất có 2 dạng bệnh nhân:
1.1.1 Những trờng hợp chết não: tình trạng toàn não bộ bị thơng tổn nặng,
chức năng của não đã ngừng hoạt động và ngời chết não không thể sống lại đ-
7
ợc
1
. Bệnh nhân sống hoàn toàn nhờ vào các biện pháp hỗ trợ nh hô hấp, tuần
hoàn và nuôi dỡng nhân tạo nếu rút máy thì coi nh sự sống chấm dứt.
1.1.2 Trờng hợp ngời bệnh mất ý thức kéo dài và không có khả năng hồi phục,
có sống cũng chỉ là gánh nặng của gia đình (bản thân họ không còn biết khổ
hay sớng). Đôi lúc ngời bệnh biểu lộ đợc ý chí của mình và hoàn toàn không
sống nhờ các biện pháp nhân tạo. Trờng hợp này bao gồm cả bệnh nhân chịu
nhiều đau đớn kéo dài nhng không mất ý thức thờng xuyên.
Nguyên nhân để dẫn đến các tình trạng trên có thể là sau một tai nạn hay bị
mắc bệnh hiểm nghèo, vô phơng cứu chữa.
Tại Hà Lan, nớc này còn quy định cái chết êm ả đối với trẻ em. Những
bệnh nhân từ 12 đến 16 tuổi cũng có quyền đợc chết êm ả nếu có sự đồng ý của
cha mẹ. Đối với trẻ trên 16 tuổi, ý kiến gia đình là không cần thiết
2
. Tuy nhiên,
với những quy định này, luật quy định rất chặt chẽ và giới hạn hành vi. Nhìn
chung, đa số đều chống lại an tử đối với trẻ em nên chủ yếu vẫn là 2 dạng bệnh
nhân ở trên.
Các cách thức thực hiện
Có 2 cách thức nh sau:
1.2.1 Cái chết êm ả chủ động: bác sĩ trực tiếp gây tử vong theo yêu cầu của
bệnh nhân (tiêm thuốc )
1.2.2 Cái chết êm ả thụ động: Không điều trị. Bác sỹ ngng mọi biện pháp kéo
dài sự sống đối với bệnh nhân (rút ống dẫn )
Ngoài ra còn một hành vi là tự tử dới sự trợ giúp của bác sỹ. Hành vi này về
mặt hình thức có điểm khác với 2 hình thức trên nh: có thể chỉ là sự t vấn, ngời
bệnh tự rút ống dẫn Bác sỹ không trực tiếp thực hiện hành vi mà chỉ là trợ
giúp.
1
Theo khoản 9, điều 3, Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể ngời và hiến, lấy xác Việt Nam ngày
29/11/2006.
2
Theo Vnexpress.net ngày 11/04/2001
8
2. Tiêu chí về luật pháp
2.1 Tính hợp pháp của hành vi
Cần phải khẳng định rằng hành vi của quyền đợc chết là hành vi hợp pháp
trong đa số trờng hợp (trừ khi luật pháp quy định cấm hành vi của quyền đợc
chết vì cha công nhận nó). Hành vi này có sự tự nguyện của những bệnh nhân
đang ở trong những tình huống y tế không lối thoát (chịu nhiều đau đớn về tinh
thần hay thể xác, vô phơng cứu chữa) và mang những mục đích tốt đẹp. Bác sỹ
thực hiện quyền đợc chết hoàn toàn dựa trên yêu cầu của bệnh nhân và theo
những quy trình nghiêm ngặt do luật định. Bởi vậy, không có lý do gì mà Tòa
án có thể xử ngời thực hiện quyền đợc chết những tội danh nh: xúi giục hoặc
giúp ngời khác tự sát, giết ngời vì hành vi của họ hoàn toàn hợp pháp. Riêng
tội danh giết ngời còn có những trờng hợp khác nhau dẫn đến hành vi của ngời
đó là bất hợp pháp.
Nh vậy, nếu luật pháp không cấm hay cho phép thì hành vi thực hiện
quyền đợc chết là hoàn toàn hợp pháp và cần phân biệt nó với các hành vi khác
có liên quan để tránh sai sót trong việc xét xử các vụ án.
2.2 Phân biệt hành vi thực hiện quyền đợc chết với các hành vi khác có liên
quan
Một trong những lý do để có nhiều tranh cãi về quyền đợc chết là nhận
thức sai về hành vi của bác sỹ trong việc thực hiện cái chết êm ả. Chúng ta có
thể phân biệt nó với các hành vi sau:
2.2.1 Hành vi tự sát
Hành vi của quyền đợc chết có thể đợc thực hiện bởi chính bác sỹ và
chính bệnh nhân (dới sự trợ giúp của bác sỹ). Với hình thức do bác sỹ thực hiện
thì rõ ràng nó hoàn toàn khác hành vi tự sát về chủ thể thực hiện. Với hình thức
do chính tay bệnh nhân thực hiện có bác sỹ hỗ trợ thì điểm để phân biệt với
hành vi tự sát là: điều kiện sống của bệnh nhân đó không đợc đảm bảo nữa,
đang ở giai đoạn cuối của bệnh vô phơng cứu chữa, chịu nhiều đau đớn. Còn đối
9
với hành vi tự sát, ngời đó có thể do sự quẫn bách về tinh thần hay sai lệch về ý
chí, không chỉ đơn giản bó hẹp nh quyền đợc chết. Nếu một bệnh nhân mắc
bệnh vô phơng cứu chữa tự mình tìm đến cái chết, không có sự trợ giúp của bác
sỹ hay của ai đó thì không hội tụ đủ những yếu tố trong hành vi của quyền đợc
chết, và do đó, nó cũng chỉ là hành vi tự sát.
2.2.2 Tội giúp ngời khác tự sát
Điều 101 Bộ Luật Hình Sự Việt Nam năm 1999 có quy định tội xúi giục
hoặc giúp ngời khác tự sát. Về hành vi xúi giục ngời khác tự sát rõ ràng khác
hành vi trong quyền đợc chết bởi trong quyền đợc chết, bác sỹ chỉ làm theo yêu
cầu của bệnh nhân chứ không xúi giục bệnh nhân. Do đó, chúng ta chỉ phân biệt
hành vi của quyền đợc chết với hành vi giúp ngời khác tự sát. Rõ ràng, về hình
thức, hành vi giúp ngời khác tự sát có nhiều loại và đa dạng về chủ thể. Ví dụ:
một ngời sống thực vật bằng bình dỡng khí yêu cầu đợc chết chỉ cần rút bình
ôxy ra khác xa với việc giúp một ngời thắt cổ tự tử. Chủ thể thực hiện trong
hành vi quyền đợc chết phải là bác sỹ còn hành vi kia thì rộng hơn nhiều. Hơn
nữa, điều kiện tình trạng của bệnh nhân trong quyền đợc chết là điểm mấu chốt
để để phân biệt với các hành vi khác.
2.2.3 Tội giết ngời
Đây là quan điểm đợc xét xử tại hầu hết Tòa án các nớc cha quy định
Luật An tử. Tuy nhiên, trong tội giết ngời thì không có sự đồng ý của nạn nhân
còn trong hành vi của bác sỹ khi thực hiện quyền đợc chết thì có sự đồng ý của
bệnh nhân. Tòa án khi xét xử bác sỹ thực hiện hành vi có liên quan đến quyền
đợc chết, tội danh giết ngời vì nhiều cơ sở: ngời bệnh đó đã chết, không để lại
chứng cứ gì chứng minh đây là sự tự nguyện của họ. Lý do của những kết luận
này rất đơn giản: các nớc này cấm hành vi của quyền đợc chết hoặc xem đó là
tội giết ngời. Nếu quyền đợc chết đợc công nhận thì chúng ta sẽ dễ dàng phân
biệt bởi: chúc th y tế, ngời đại diện, ngời giám hộ hay các chứng cứ khác liên
quan đến tình trạng của bệnh nhân Còn nếu các nớc nào quy định rõ ràng bác
10
sỹ thực hiện hành vi này bị coi là tội giết ngời thì vì đơn giản họ cha chấp nhận
nó mà thôi.
Cũng có quan điểm cho rằng, tại điểm m khoản 1, điều 93 BLHS Việt
Nam 1999 có quy định tình tiết tăng nặng: Thuê giết ngời và giết ngời thuê
1
có những điểm giống với hành vi của quyền đợc chết. Cụ thể:
Thuê giết ngời: Cho rằng bệnh nhân đó thuê bác sỹ giết mình để thoát
khỏi sự đau đớn của bệnh tật. Nhng quan điểm hiện nay của khoa học
hình sự thì: giết ngời là phải giết ngời khác. ở đây nếu theo lập luận của
quan điểm trên thì bệnh nhân thuê bác sỹ đó tự giết mình nên không xâm
hại tính mạng của ai mà là của chính mình nên không thể xem là thuê
giết ngời đợc.
Giết ngời thuê: Để phân biệt hành vi này với hành vi của quyền đợc chết
không quá khó bởi ngời giết ngời thuê là làm vì lợi ích của bản thân họ,
có thể là bất kỳ ai đủ độ tuổi luật định và có năng lực đầy đủ. Còn trong
hành vi của quyền đợc chết, ngời thực hiện phải là bác sỹ (có thể đợc trả
công từ ngời bệnh, nhng đó là viện phí ) và là vì mục đích tốt đẹp, theo
những quy định nghiêm ngặt của pháp luật hiện hành.
2.2.4 Hành vi theo Luật phòng, chống HIV/AIDS năm 2006 của Việt Nam
Tại điểm đ, khoản 1, điều 4 Luật phòng, chống nhiễm virut gây ra hội
chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở ngời (HIV/AIDS) năm 2006 của Việt
Nam quy định quyền của ngời nhiễm HIV: từ chối khám bệnh, chữa bệnh khi
đang điều trị bệnh AIDS giai đoạn cuối
2
.
Có nhiều ngời cho rằng đây là một dạng của cái chết êm ả nhng là một
quan điểm không đúng đắn. Tuy cũng vì mục đích nhân đạo là không bắt ngời
bệnh chịu đựng những đau khổ quá lớn đối với khả năng chịu đựng của họ nhng
điều khoản này không giống với luật cái chết êm ả đã đợc thực hiện ở một số
1
Theo Bộ Luật hình sự Việt Nam 1999, NXB Chính trị quốc gia, năm 2006
2
Theo Luật phòng, chống HIV/AIDS năm 2006 của Việt Nam, nguồn: vbqppl.moj.gov.vn
11
nớc. Trong quy định này của Luật Phòng, chống HIV/AIDS, y bác sỹ không
chủ động làm ngừng cuộc sống của bệnh nhân mà chỉ chấp thuận theo nguyện
vọng thôi điều trị của họ, để họ không phải kéo dài những ngày tháng đau đớn
về thể xác.
Hành vi này cũng giống với việc ngời thân của ngời bệnh sắp chết xin
bệnh viện cho đa về nhà. Việc này khác quyền đợc chết. Nếu bệnh nhân không
có hy vọng gì nữa, gia đình cũng không có khả năng kinh tế để tiếp tục điều trị
nên xin cho về nhà tìm cách khác hay ngừng chữa trị và có cam kết rằng: bệnh
viện sẽ không chịu trách nhiệm nếu có bất cứ chuyện gì thì bệnh viện không
phạm luật trong trờng hợp này. Y tế cho về nhà không phải cho bệnh nhân chết
mà là vì quan hệ tình cảm giữa ngời sắp chết với ngời thân: gặp lần cuối, có
chết thì chết ở nhà, vấn đề tín ngỡng, tập quán
1
Đây cũng là một điểm tiến
bộ của Luật phòng, chống HIV/AIDS của Việt Nam so với thế giới.
Việc phân biệt nh trên rất có ý nghĩa trong thời điểm hiện nay khi hầu hết
các quốc gia đều cha cho phép và thông qua quyền đợc chết. Việc phân biệt này
càng có ý nghĩa trong việc xây dựng Luật An tử đợc nhanh chóng và dễ dàng
hơn.
III. ý nghĩa của vấn đề thực hiện quyền đợc chết trong giai đoạn hiện
nay
3.1 ý nghĩa pháp lý
Từ khi quyền đợc chết ra đời đến nay đã có rất nhiều cuộc chiến pháp
lý trên thế giới. Công nhận hay không công nhận quyền đợc chết là một vấn đề
lớn và đặc biệt gây nhiều tranh cãi. Chúng ta sẽ xét ý nghĩa pháp lý của quyền
đợc chết ở 2 khía cạnh.
Thứ nhất, nếu quyền đợc chết cha đợc công nhận thì những những cuộc chiến
pháp lý vẫn kéo dài. Các vụ việc liên quan đến quyền đợc chết luôn rơi vào bế
1
Trích bài trả lời phỏng vấn báo Tuổi trẻ online ngày 24/11/2004 của PGS.TS Trơng Văn Việt (Giám đốc
bệnh viện Chợ Rẫy, TP.Hồ Chí Minh)
12
tắc, không lối thoát do tồn tại những quan niệm sai lầm về hành vi của quyền đ-
ợc chết. Một thực tế nữa là: các vụ việc đó không chỉ gói gọn trong lĩnh vực y
học mà còn liên quan đến nhiều lĩnh vực khác dẫn đến nhiều phức tạp và rối
rắm.
Thứ hai, nếu quyền đợc chết đợc công nhận và cho phép thực hiện hành vi thì
luật pháp sẽ không phải hứng chịu những cuộc chiến không lối thoát. Bởi luật
pháp đã có quy định cho phép thực hiện hành vi của quyền đợc chết nên sẽ giúp
cho việc xét xử các vụ án có liên quan đợc dễ dàng hơn. Quan trọng nhất là sẽ
hạn chế đi những trờng hợp xét xử không đúng với bản chất vụ án (nhầm lẫn
hành vi của quyền đợc chết với các hành vi khác).
3.2 ý nghĩa xã hội
Hành vi thực hiện quyền đợc chết có ý nghĩa xã hội rất lớn với những
mục đích hết sức tốt đẹp. Khi sự sống của bệnh nhân không còn đợc đảm bảo
nữa: mắc bệnh vô phơng cứu chữa, đang phải chịu đựng đau đớn kéo dài thì
an tử theo yêu cầu là cách thức hợp lý nhất. Việc này không chỉ tốt cho bệnh
nhân mà còn tốt cho gia đình, xã hội. Ngời bệnh đợc ra đi thanh thản, chấm dứt
những ngày tháng chịu đựng đau khổ. Gia đình bệnh nhân không phải chịu
những tốn kém không đáng có và xã hội thì đợc bình yên hơn. Đó là một kết
thúc đẹp, một cái chết nhân đạo.
Những nội dung bên trên chỉ là những mở đầu cho một vấn đề có nhiều ngả
rẽ.
Chơng II
13
Tình hình quy định của pháp luật về Quyền đợc
chết trong giai đoạn hiện nay
Với những vấn đề đợc trình bày ở chơng I, chúng ta chỉ mới biết đợc các
khái niệm ban đầu về quyền đợc chết và các vấn đề liên quan. Trên thực tế,
có rất nhiều quan điểm trái ngợc nhau trong giới khoa học, đa phần chống lại
an tử. Tại sao nớc này quy định mà nớc khác lại không quy định? Quan điểm
của họ nh thế nào?
I. Quy định của một số nớc trên thế giới
1. Các quốc gia đã hợp pháp hóa quyền đợc chết và Luật An tử
Hà Lan đã đi vào lịch sử là Quốc gia đầu tiên áp dụng đạo Luật cái chết êm
ả. Tháng 11 năm 2000, Hạ Viện Hà Lan đã thông qua dự Luật An tử. Đến
ngày 10 tháng 04 năm 2001, với tỷ lệ áp đảo 46/28, Thợng viện Hà Lan đã bỏ
phiếu thông qua đạo luật. Trớc đó hơn 2 thập kỷ, các bác sỹ Hà Lan đã áp dụng
phơng pháp cái chết êm ả để giúp những ngời bệnh nặng ra đi. Việc thông
qua đạo luật năm 2001 chỉ nhằm hợp pháp hóa một thực tế đã đợc chấp nhận,
nhất là từ khi có bản hớng dẫn cái chết hỗ trợ đợc phác thảo vào năm 1993.
Điều tra toàn quốc cho thấy gần 90% ngời dân nớc này ủng hộ Luật An tử vì nó
đảm bảo quyền cá nhân
1
. Năm 2006, Hà Lan còn cho phép an tử đối với trẻ em,
trẻ sơ sinh mắc bệnh nặng không thể cứu chữa.
Quốc gia thứ 2 hợp pháp hóa cái chết êm ả là Bỉ. Với 86 phiếu thuận, 51
phiếu chống và 10 phiếu trắng, tối 16/05/2002, Thợng viện Bỉ đã chấp thuận
đạo luật cho phép bệnh nhân bị bệnh rất nặng có quyền đợc chết dới những điều
kiện nhất định. Đây là chặng cuối của cuộc đua pháp lý kéo dài 3 năm, khởi x-
ớng vào năm 1999 khi mà lần đầu tiên trong vòng hơn 40 năm, liên minh dân sự
lên nắm quyền ở Bỉ. ở một quốc gia mà đạo Thiên chúa chiếm u thế, ý tởng hợp
pháp hóa cái chết êm ả không gây mấy tranh cãi. Hạ viện Bỉ đã bật đèn xanh
1
Theo Vnexpress.net ngày 11/04/2001
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét